XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG (CHIA SẺ TỔN THẤT, GIẢM SẠT LỞ ĐẤT, ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT) Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU CỤ THỂ CỦA TỈNH QUẢNG NAM VÀ VÙNG TRUNG TRUNG BỘ - Pdf 26


1
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN ĐỊA LÝ
   DỰ ÁN P1-08-VIE
Chuyên đề 16
XÁC ĐỊNH CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG (CHIA SẺ TỔN THẤT,
GIẢM SẠT LỞ ĐẤT, ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG
ĐẤT) Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU CỤ THỂ CỦA TỈNH
QUẢNG NAM VÀ VÙNG TRUNG TRUNG BỘ

Chủ trì nhiệm vụ: TS. NCVCC Nguyễn Đình Kỳ
Tham gia: ThS. Nguyễn Mạnh Hà
NCS. Đào Đình Châm
NCS. Lưu Thế Anh
ThS. Nguyễn Văn Dũng
ThS. Phan Thị Dung
ThS Nguyễn Thị Thủy
CN. Hoàng Thị Huyền Ngọc
Hà Nội - 2011
của tỉnh Quảng Nam.
6.5 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu của Dự án về đánh giá hiện trạng sạt lở đất, trượt
lở, phạm vi và phân bố ở tỉnh Quảng Nam
6.6. Cảnh báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến quá trình sạt lở, trượt lở đất thông
qua kịch bản biến đổi khí hậu của khu vực
6.7. Đề xuất các giải pháp ứng phó giảm sạt lở, trượt lở (biện pháp công trình và biện
pháp phi công trình) 3
7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
*1. Phương pháp tích hợp thông tin viễn thám, bản đồ và hệ thống thông tin địa lý
(GIS)
*2. Phương pháp đánh giá tổng hợp trên quan điểm hệ thống
*3. Phương pháp thống kê - toán lý
*4. Phương pháp điều tra, khảo sát kiểm chứng ngoài thực địa.
*5. Phương pháp phỏng vấn và phương pháp chuyên gia.
8. Đặc điểm địa hình Quảng Nam
8.1. Địa hình núi đồi:
Bao gồm các dạng địa hình ở vùng đồi núi của tỉnh Quản Nam cùng với các
dạng địa hình bậc thềm có độ cao trên 20m dưới dạng các đồi thoải ở ven rìa các đồng
bằng, hay một số bãi bồi bậc, bậc thềm sông miền núi hoặc sát rìa miền núi. Đầy là
vùng mà những tác động biến đổi khí hậu có thể sẽ dẫn đến những biến đổi về các
dạng tai biến liên quan tới sự thay đổi chế độ mưa của khu vực. Trong đó cần đặc biệt
quan tâm tới các dạng tai biến trượt lở, lũ ống, lũ quét và cần chú trọng ở những địa
bàn phát triển hạ tầng giao thông, hay tại các khu vực dọc các thung lũng miền núi
được bố trí phát triển sản xuất nông nghiệp, hoặc các tụ điểm dân cư. Đặc điểm của
từng dạng địa hình trong nhóm địa hình đồi núi sẽ thể hiện khả năng gây nên hoặc chịu
ảnh hưởng tác động do tai biến ở các mức độ rất khác nhau.
Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đới uốn nếp Trường Sơn ở phía Bắc và địa khối

bằng phân bố thành những bậc rõ ràng, thấp dần về phía biển, phù hợp với tính trẻ dần
của các thành tạo địa chất. Đặc biệt, men theo bờ biển còn có một dải cồn cát kéo dài
hầu như liên tục, chỉ bị chọc thủng tại những vị trí cửa sông, nổi cao hơn phía trong
trên dưới 10m, khiến cho phần đồng bằng có dạng trũng. Đối với dòng chảy mặt, sự
tương phản này rất có ý nghĩa, bởi vì địa hình núi ở thượng lưu thì quá dốc, đồng bằng
hạ lưu quá thoải, còn dải đồi trung du lại rất hẹp, thậm chí nhiều nơi không có, nên
đoạn trung lưu của các dòng sông ngắn. Với cấu trúc địa hình như vậy, khu vực nghiên
cứu thực sự ẩn chứa nhiều hiểm hoạ của tai biến lũ lụt, trượt lở dẫn đến trượt lở đất.
8.2. Hệ thống dòng chảy
Hệ thống sông Thu Bồn - Vu Gia là một trong những lưu vực lớn của miền
Trung, có diện tích khoảng 10350 km
2
. Đây là một trong 9 hệ thống sông lớn nước với
chiều dài sông chính 205 km, chảy qua đồng bằng Quảng Nam - Đà Nẵng và đổ ra
biển Cửa Đại và Đà Nẵng (hình 1). Vào đoạn cuối của sông có nhiều chi lưu ngang
dọc đan xen nhau tạo thành một mạng lưới thuỷ văn vô cùng phức tạp [22].

Hình 1. Hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn

5
+ Sông Thu Bồn: Có thượng nguồn là sông Tranh hay sông Tỉnh Gia bắt nguồn
từ sườn Đông Nam dãy Ngọc Linh với độ cao trên 2000 m. Sông chảy theo hướng Bắc
Nam qua các huyện Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn, đến Giao Thuỷ sông
chảy qua vùng đồng bằng các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An. Chiều dài sông
chính đến cửa Đại là 198 km, diện tích lưu vực tính đến Giao Thuỷ là 3825 km
2
.
Thượng lưu sông Thu Bồn có các nhánh lớn như sông Khang, sông Vang, sông Tranh,
sông Gềnh. Hạ lưu sông Thu Bồn có mạng lưới phân lưu, nhập lưu phức tạp và cuối
cùng chảy ra cửa Đại. Khi sông chảy về đồng bằng nhận một lượng nước từ sông Vu

87765.00,
8,41%
ĐẤT NÔNG
NGHIỆP,
798790.08,
76,52%
ĐẤT CHƯA SỬ
DỤNG,
157281.88,
15,07%
PHẦN 1
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT, TRƯỢT LỞ, SẠT LỞ ĐẤT
TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

I. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT
I.1. Hiện trạng sử dụng đất năm 2010
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng
Nam là 1.043.836,96 ha [33] trong đó:
- Đất nông nghiệp : 798.790,08 ha, chiếm Error! Not a valid
link.%.
- Đất phi nông nghiệp: Error! Not a valid link.ha, chiếm Error!
Not a valid link.%.
- Đất chưa sử dụng : Error! Not a valid link. ha, chiếm Error!
Not a valid link.%. I.1.1. Đất nông nghiệp

I.1.1.3. Đất nuôi trồng thuỷ sản tập trung
Diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: 1.549,78ha, chưa kể diện tích nuôi
kết hợp trong các hồ chứa, công trình thuỷ lợi, mặt nước chuyên dùng: 3.788,22 ha. Diện
tích đất nuôi trồng tập trung có diện tích 3.390,08 ha, chiếm khoảng 95%, tập trung
chủ yếu ở các huyện Núi Thành, Điện Bàn, Thăng Bình, Duy Xuyên, Hội An
I.1.1.4. Đất khu bảo tồn thiên nhiên
Tổng diện tích đất khu bảo tồn thiên nhiên toàn Tỉnh: 104.607 ha được thống kê
từ các khu bảo tồn thiên nhiên đã được hình thành trên địa bàn Tỉnh

I.1.2. Đất phi nông nghiệp
Bảng 2. Diện tích cơ cấu đất phi nông nghiệp

STT Chỉ tiêu
Năm 2010
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Đất phi nông nghiệp 87.765,00

100

Trong đó:
2.1
Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự
nghi
ệp


2.8 Đất tôn giáo tín ngưỡng 297,61

0,34

2.9 Đất nghĩa trang nghĩa địa 5.537,10

6,31

2.10 Đất phát triển hạ tầng 21.655,03

24,67

2.11
Các loại đất phi nông nghiệp còn lại
( Đất ở, Đất cơ sở sản xuất kinh doanh,
đất sản xuất VLXD gốm sứ, đất sông suối
và MNCD)
50.202,91

57,20

Nguồn: [33]
I.1.2.1. Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
Hiện trạng diện tích đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp là 379,71 ha, bao gồm
diện tích xây dựng trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trụ sở của
các tổ chức xã hội - xã hội nghề nghiệp; các công trình sự nghiệp không thuộc phạm vi
phục vụ công cộng.
I.1.2.2. Đất quốc phòng
Theo kết quả kiểm kê đất đất quốc phòng đến tháng 05/2009 do đơn vị quân đội

I.1.2.8. Đất tôn giáo, tín ngưỡng
Diện tích hiện có trên địa bàn toàn Tỉnh 297,61ha, phân bố hầu hết ở các huyện
đồng bằng trung du, bao gồm đất các công trình tôn giáo: chùa, nhà thờ, thánh thất,
thánh đường, tu viện, đất trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo
được Nhà nước cho phép hoạt động; các công trình tín ngưỡng dân gian gồm đình,
đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ, tộc
I.1.2.9. Đất nghĩa trang, nghĩa địa
Diện tích5.537,10ha, phân bố hầu hết ở các địa phương.
I.2.10. Đất phát triển hạ tầng: Diện tích 21.655,03ha chiếm 24,67% DTTN
I.1.3. Đất chưa sử dụng
Tổng diện tích 157.128,88ha, chiếm15,07% tổng DTTN. Trong đó:
a. Đất bằng chưa sử dụng: 13.671,87ha. Phân bố rải rác ở các huyện, chủ yếu là
các bãi cát ven sông, ven biển, các khu vực thấp trũng, các thung lũng ven các triền đồi,
chân núi…Khả năng khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp rất hạn chế do điều kiện về
đất đai, tưới tiêu, xa vùng khu dân cư.
b. Đất đồi núi chưa sử dụng: Diện tích141.554,25ha. Tập trung chủ yếu ở các
huyện trung du, miền núi, phân bố ở những nơi có địa hình hiểm trở, núi cao chia cắt,
đi lại khó khăn, xa dân cư; ở vùng trung du chủ yếu còn lại diện tích đất có độ dốc lớn,
bị xói mòn, tầng đất cạn có nơi trơ sỏi đá… Do vậy khả năng khai thác đưa vào sản
xuất nông nghiệp rất khó khăn, đòi hỏi phải đầu tư lớn, chỉ phù hợp với các loại cây
lâu năm, trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng.
c. Núi đá không có rừng cây: 2.055,76ha, tập trung nhiều ở các huyện Duy
Xuyên, Quế Sơn, Nam Giang, Hiệp Đức, Phước Sơn
I.1.4. Đất đô thị
Đất đô thị bao gồm diện tích đất thuộc nội thị 02 thành phố Tam Kỳ, Hội An và đất
trong phạm vi 13 thị trấn của các huyện.
Thành phố Tam Kỳ: Thành phố Tam Kỳ là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa, khoa học kỹ thuật và dịch vụ của tỉnh Quảng Nam, có vị trí đặc biệt quan trọng
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Quy mô dân số dự kiến đến năm
2025 là 260.000 người.

I.2.2.2. Đất phi nông nghiệp
BIẾN ĐỘNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP THỜI KỲ 2001-2010 0,00
20.000,00
40.000,00
60.000,00
80.000,00
100.000,00
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010
Đất phi NN

11
Trong thời kỳ 2001- 2010, nhu cầu thực tế đất phi nông nghiệp tăng trung bình
hàng năm khoảng 1960 ha. Tuy nhiên theo số liệu trên, giai đoạn 2001-2005 diện tích
tăng lên đột biến Error! Not a valid link. ha chủ yếu do kết quả kiểm kê đất đai năm
2005. Cả thời kỳ 2001-2010, đất phi nông nghiệp tăng lên Error! Not a valid
link.Error! Not a valid link. ha. Trong đó:
- Đất quốc phòng tăng Error! Not a valid link. ha
- Đất khu công nghiệp tăng Error! Not a valid link. ha.

- Đầu tư khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp còn hạn chế.
Một số khu vực còn bị động trong thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp.
0,00
50.000,00
100.000,00
150.000,00
200.000,00
250.000,00
300.000,00
350.000,00
400.000,00
450.000,00
500.000,00
Năm 2000 Năm 2005 Năm 2007 Năm 2010
Series1

12
- Phương thức sản xuất lạc hậu còn tồn tại ở một số vùng núi cao của Tỉnh, đặc biệt
là vấn đề canh tác trên đất dốc, du canh của đồng bào dân tộc thiểu số ảnh hưởng lớn đến
diện tích rừng, thảm thực vật che phủ và gây xói mòn, sạt lở đất.
- Sự phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ tạo ra khí thải, rác thải, nước
thải gây nên tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước. Ở Quảng Nam mức độ ô
nhiễm chưa lớn, chỉ ô nhiễm cục bộ một số khu vực nhưng cũng cần quan tâm và có
giải pháp hạn chế ô nhiễm.
- Quá trình sản xuất nông nghiệp gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường đất,
nguồn nước, gây xói mòn, làm thoái hóa đất do việc sử dụng các loại phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật, chế độ canh tác chưa hợp lý
Để giảm thiểu tác động đến môi trường đất trong quá trình sử dụng đất cần tăng
cường công tác quản lý môi trường, thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi
trường trong sản xuất kinh doanh, trong y tế, hạn chế sử dụng các loại hóa chất độc hại

202.5

1m-2m 148.2

2m-3m 138.7

3m
-
4m

75.1

>4m 19.23

T
ổng (km
2
)

583.7

% tăng so
v
ới HT
Tên huyện Diện tích
(ha)


III.1. Hiện trạng trượt lở đất
Đánh giá về lũ quét và trượt lở đất trong khu vực ở đây chủ yếu dựa vào các
báo cáo phòng chống lụt bão đã thu thập được ở các cơ quan chức năng và của các
huyện trong tỉnh. Qua các chuyến khảo sát thực địa và báo cáo chuyên đề 4 cho thấy
(bảng 4)
Bảng 5. Trượt đất qua các tài liệu thống kê
Năm Tai biến thiên nhiên Thiệt hại Người
Kinh tế
(tỷ đồng)

1998 4,5,6,7,8 từ 12/11 đến
16/12
Tài sản, nhà cửa bị cuốn trôi, xói lở
hàng ngàn ha đất nông nghiệp, hư
hỏng nhiều đoạn đường, kênh mương
cầu cống. Khối lượng đất đá trượt:
1.041.902m
3

Địa điểm xảy ra: Khu vực ven sông,
ven suối vùng tiếp giáp giữa trung du
và miền núi ở một số huyện như:
ĐạiLộc, Quế Sơn
54 390
1999 2 đợt mưa lũ lớn, lũ
quét mạnh nhiều noi ở
vùng núi
Mưa lũ làm ngập lụt, hư hỏng cầu,
đường. Trượt lở dọc theo các tuyến
giáo thông trong tỉnh. Khối lượng đất

thương
75
2002 Có 3 đợt lũ nhỏ Thiệt hại do bão lụt gây ra năm 2002,
nhìn chung, là không đáng kể.

2003 7 đợt mưa lớn với 3
trận lũ
Lũ quét và sạt lở đất xảy ở nhiều nơi
trên Quốc lộ 14B, 14D, 14E, ĐT 616
(Trà My-Tak Pỏ) với tổng khối lượng
đất đá khoảng 150.000 m
3
. Nhiều công
trình cầu cống bị hư hỏng nặng. Tuyến
đư
ờng bị ách tắc trong nhiều ng
ày.

32 người
chết
104
2004 2 cơn bão và 3 đợt lũ
lớn
Tổng khối lượng sạt lở trên các tuyến
đường mà tỉnh quản lý khoảng
685.000 m
3
. Các tuyến đường Hồ Chí
Minh, quốc lộ 14B, 14D, 14E và tỉnh
lộ lên miền núi hầu hết bị ách tắc với

ra liên tiếp
Hiện tượng sạt lở đất, lũ quét xảy ra
nhiều nơi trên miền núi, xói lở bờ
sông, bồi lấp ruộng vườn khá nghiêm
trọng Các tuyến đường QL1A, đường
Hồ Chí Minh, QL14B, QL14D,
DT604, DT616 sạt lở nghiêm trọng
47 chết,
339 bị
thương
2000
2008 5 đợt mưa lũ lớn Vùi lấp nhà cửa, sạt lở đất đe dọa. Sạt
lở vùi lấp, ngập đường làm ách tắc
giao thông tại các tuyến đường ĐT604,
ĐT616, QL14B, QL14D
23 chết
04 bị
thương
150
2009 2 cơn bão vào cuối
tháng 9 và đầu tháng
11
Ngập lụt, sạt lở trong khu vực. Lớn
nhất tại dốc Kiền trên đường DT 604,
dài trên 500m, Khối lượng trượt lên tới
hàng chục ngàn. Đặc biệt bão số 9 làm
13 3500

15
trượt lở nhiều đoạn đường gây ách tắc

Bên cạnh việc thu thập các tài liệu liên quan đến trượt đất, công việc khảo sát
ngoài thực địa cũng đã được tiến hành 316 điểm trượt đất đã được xác định dọc theo
một số tuyến giao thông chính trong tỉnh: Tỉnh lộ ĐT 616 ; Quốc lộ QL 14E, Quốc lộ
QL 14B, Đường Hồ Chí Minh, Tỉnh lộ ĐT 604, và được thể hiện ở bảng 6:
Bảng 6. Trượt lở, sạt lở đất qua khảo sát thực địa
Tuy
ến

Đi
ểm
Đ
ịa điể
m
Đ
ịa h
ình,
đ
ịa
Th
ực vật

Đ
ất

M
ức độ16
sạt khảo sát mạo

Quốc lộ
14B
30 Nối TP Đ
à
N
ẵng với
đư
ờng HCM
t
ại Thạnh Mỹ

Xảy ra chủ yếu
trên đá trầm
tích, biến chất,
đ
ộ dốc > 30
0

Thưa thớt,
cây bụi, rừng
trồng
Fa, Fv, Fq
Trung
bình
Đường
HCM
145 T
ừ Thạnh
M
ỹ đến ranh

TPCG nh
ẹ,
tầng d
ày
<70cm
Trung
bình
Hình 6. Các điểm trượt đất trên tuyến đường ĐT
616
Hình 7. Phân bố trượt lở dọc tuyến QL 14B 17Hình 8. Phân bố trượt lở dọc theo tuyến đường
Hồ Chí Minh
Hình 9. Phân bố trượt lở trên tuyến ĐT 604
* Một số nhận xét về trượt lở Quảng Nam
Tổng hợp các số liệu cho thấy trong từ năm 1998 đến 2008 đã có khoảng 51
trận mưa bão lũ đáng kể ở Quảng Nam, trung bình khoảng 4 – 5 trận/năm (bảng 7)
Bảng 7. Tổng hợp trượt lở trên các tuyến giao thông do Quảng Nam quản lý
Năm
Số trận
mưa lũ
Khối lượng
sạt lở (m3)
2001

6

185680

309472002

3

-

-2003

7

150000

214292004

-

-2008

5

-

-Tổng 51

4859929

142939

Sạt lở trung bình tính theo số
trận có số liệu
Khối lượng sạt lở dọc theo các tuyến giao thông trong những năm 1998, 1999
lớn hơn rất nhiều so với những năm sau. Điều này có thể là do về sau đã có thêm
nhiều các công trình phòng chống sạt lở. Nếu tính cường độ sạt lở trung bình thì năm
1999 là lớn nhất (759.000 m
3
/trận) lớn hơn hẳn,gấp 1,6 lần so với năm đứng thứ nhì,

18

thường bị xói lở ở phía bờ lõm của các khúc uốn có cấu tạo địa chất bờ bằng các trầm
tích mềm rời với tính chất kháng xâm thực thấp như cát, cát pha, sét pha Những khu
vực bờ lõm thường bị xói lở mạnh trên đoạn sông này như ở Đại Cường, Đại Hoà,
Duy Châu, Điện Thọ, Điện Quang, bờ Nam Câu Lâu, Cẩm Nam Đa số các đoạn bờ
xói lở nêu trên cho đến nay đã được xây dựng các công trình chỉnh trị nhằm giảm thiểu
quá trình xói lở nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống của người dân nơi đây.
Theo kết quả điều tra khảo sát cho thấy: Đoạn bờ khu vực Đại Đồng - Đại
Nghĩa trên sông Vu Gia, đoạn Phú Đa - Cẩm Lâu, chỗ ngã ba sông Thu Bồn - Vĩnh
Điện đều xẩy ra quá trình sạt lở, bồi lấp lòng sông nghiêm trọng đặc biệt là trong các
năm có lũ lớn như 1998, 1999, 2004, 2006, 2007, 2009. Trước hết phải kể đến đoạn
sông uốn khúc chảy theo hướng BTB - NĐN đoạn Đại Nghĩa (sông Quảng Huế).
Sau các trận lũ lớn năm 1999 và 2000, trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn
xuất hiện hiện tượng đặc biệt là sông Quảng Huế bị cắt dòng ở khu vực Đại Cường.
Tại đây hình thành thêm một lạch sông mới từ sông Vu Gia. Cửa vào lạch Quảng Huế

19
mới nằm tại vị trí cách cửa sông Quảng Huế cũ khoảng 1,7km về phía thượng lưu,
thuộc địa phận xã Đại Cường.

Hình 10: Lũ sông Vu Gia tiếp tục phá bờ tạo dòng Quảng Huế mới trong năm 2001
Sau khi xuất hiện lạch sông Quảng Huế mới, lạch Quảng Huế cũ bị yếu dần và
chỉ sau 2 năm đã bồi lấp gần như hoàn toàn. Sông Quảng Huế mới được hình thành
ngày càng mở rộng và gây xói lở mạnh khu vực ven sông. Nhiều nhà cửa bên bờ sông
phải di dời, hàng trăm hecta đất canh tác thuộc các thôn 8,9, Ô Gia Bắc, Thanh Vân -
xã Đại Cường - huyện Đại Lộc bị sạt lở cuốn trôi. Hệ thống điện 110KV cung cấp cho
xã Đại Cường bị hư hại nặng, đường giao thông liên huyện bị cắt đứt v.v…

Hình 11: Lũ sông Vu Gia phá công trình chỉnh trị trong năm 2007 [2]

20

Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhiều đoạn tiếp tục sạt lở đe doạ tính mạng
người dân và có nguy cơ xoá sổ cụm làng nghề truyền thống ở địa phương nếu không
có phương án đối phó kịp thời.
Sạt lở không chỉ có nguy cơ xóa sổ nhiều cụm dân cư phía hạ nguồn sông Thu
Bồn, mà nó còn có thể ảnh hưởng nhiều địa chỉ văn hóa truyền thống dọc theo triền
sông, trong đó có cụm làng nghề truyền thống của huyện Điện Bàn đã quy hoạch tập
trung ở địa phương. Đến nay, tình trạng sạt lở bờ sông Thu Bồn tiếp tục xâm thực vào
đất sản xuất và đất ở của nhiều hộ dân, mặc dù đã sử dụng nhiều biện pháp khắc phục
tạm thời như: dùng tre, vật liệu khác che chắn nhưng tình trạng sạt lở vẫn diễn ra mạnh
mẽ.
Khác với đoạn trung lưu, sông Thu Bồn từ ngã ba Vĩnh Điện đến Cửa Đại lòng
sông phân nhánh và uốn khúc phức tạp. Quá trình xói lở bờ sông, bồi lấp lòng sông
xảy ra có tính chất luân phiên và có quy mô vừa phải.
Tình trạng sạt lở vẫn còn đang tiếp diễn, nhưng vẫn chưa có biện pháp phòng
chống. Nguy cơ đe doạ đời sống người dân trong khu vực hiện đang là vấn đề nóng
bỏng ở tỉnh Quảng Nam.
III.2.2. Hiện trạng sạt lở bờ biển, cửa sông tỉnh Quảng Nam
Dựa trên các tài liệu điều tra nghiên cứu tổng hợp khu vực nghiên cứu và vùng
phụ cận từ năm 1999 đến 2010 cũng như các công trình nghiên cứu có liên quan đã
được công bố [29] cho thấy: Hiện trạng sạt lở bờ biển, cửa sông đang diễn ra hầu khắp
ven biển Quảng Nam với mức độ và thời gian xảy ra không đồng nhất. Chúng liên
quan chặt chẽ với địa hình, cấu tạo vật chất đới bờ và các yếu tố động lực sông - biển
(trong đó: sóng và dòng chảy là yếu tố đóng vai trò quan trọng).
Theo số liệu điều tra thì từ năm 1964 cho đến nay, dọc bờ biển tỉnh Quảng Nam
có 9 khu vực bị sạt lở trong đó 18 đoạn bị sạt lở (bảng 7). Có những đoạn bờ bị sạt lở
với chiều dài hàng nghìn mét như ở xã Tam Hoà, Tam Hải - huyện Núi Thành và tốc
độ xói lở trung bình năm đạt tới vài chục mét /năm như ở xã Tam Thanh - TP. Tam
Kỳ, Tam Xuân, Tam Hải - huyện Núi Thành, hai bên bờ cửa Đại thuộc xã Duy Hải -
huyện Duy Xuyên) và thuộc phường Cửa Đại, TP. Hội An làm cho nhiều đoạn bờ lùi
sâu vào đất liền đến vài trăm mét ảnh hưởng lớn đến kinh tế dân sinh của khu vực.


22
1 Tam Kỳ Tam Thanh 1998 Bờ biển 4 35,0
2 Núi Thành Tam Xuân 1

1999 Bờ biển 1 46,7
3 1964 Cửa Hoà An4 Tam Xuân 2

1978 Bờ biển 4 0,4 0,68
5 1978 Sông Ba 1 0,5
6 Tam Hải 1964 Bờ biển 2 3,0 35,0
7 Tam Giang 1994 Cửa An Hoà8 Tam Hoà 1997 Bờ biển 3 1,0 3,9
9 1997
Sông
Trường
Giang 22

Hình 13. Sơ đồ hiện trạng sạt lở bờ sông, bờ biển tỉnh Quảng Nam

23


Nam) có tốc độ xói lở trung bình năm là trên 30 m/năm. Đặc biệt có những khu vực
hiện tượng xói lở mới chỉ xảy ra trong thời gian gần đây (năm 1999, 2000, 2008 -
2010) nhưng với tốc độ khá lớn từ 40 - 60 m/năm là Duy Hải - Duy Xuyên, Bình Minh
- Thăng Bình, Tam Tiến - Núi Thành, cửa Đại, cửa Lở

24Hình 14. Đoạn bờ biển bị sạt lở ở gần Cửa Đại đang được gia cố
Quá trình sạt lở đang diễn ra trên hầu hết bờ biển, tại địa bàn của tất cả các
huyện có bờ biển, cửa sông mặc dù với mức độ (cường độ và tốc độ) khác nhau. Các
khu vực bị xói lở mạnh nhất tập trung ở duyên hải đồng bằng Duy Xuyên, Thăng
Bình, Tam Kỳ, Núi Thành.
Qua số liệu về hiện trạng xói lở của tỉnh Quảng Nam cho thấy: Quá trình xói lở
- bồi tụ diễn ra khá phức tạp, song quá trình xói lở chiếm ưu thế. Quá trình xói lở diễn
ra với qui mô, cường độ, tốc độ khác nhau ở các khu vực và ngày càng gia tăng, đặc
biệt từ những năm 1990 trở lại đây. Quá trình xói lở chủ yếu xảy ra ở những đoạn bờ
biển thẳng với hướng sóng gió, vật chất cấu tạo bờ chủ yếu là những vật liệu bở rời và
các khu vực chưa có các công trình gia cố phòng chống.
III.2.3. Hiện trạng và nguy cơ gia tăng tai biếnthiên nhiên qua biểu hiện BĐKH
Những thiên tai – biểu hiện của BĐKH đã tác động mạnh và gây thiệt hại nặng
nề nhất đối với con người, tài sản và cơ sở hạ tầng xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Trong đó, bão, lũ là thiên tai diễn ra hàng năm với
mức độ nghiêm trọng rất cao, những năm gần đây có xu hướng ngày càng gia tăng,
mức độ tàn phá ngày càng khốc liệt.
Bảng 9. Thống kê số lượng bão, áp thấp nhiệt đới và lũ lụt qua các năm Năm
Loại hình thiên tai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status