Bài giảng TÀI CHÍNH CÔNG VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG - Pdf 26

TÀI CHÍNH CÔNG VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CÔNG

1 - Lý luận chung về Tài chính và Tài chính công
1.1 - Bản chất của tài chính
1.1.1 Sự ra đời của tài chính
Tài chính ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử và kinh tế, xã
hội nhất định. Khi xã hội bắt đầu có sự phân công lao động, sự chiếm hữu
khác nhau về tư liệu sản xuất, về sản phẩm lao động thì nền sản xuất hàng hoá
ra đời. Tiền tệ xuất hiện như một tất yếu khách quan và là môi giới trung gian
giúp cho việc trao đổi hàng hoá được tiến hành một cách dễ dàng. Tiền tệ trở
thành phương tiện trao đổi và phương tiện tích luỹ trong quá trình phân phối
tổng sản phẩm xã hội. Các quỹ tiền tệ cũng được hình thành nhằm mục đích
tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Các quỹ tiền tệ này được tạo
lập và sử dụng bởi các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay cá nhân. Các quan
hệ kinh tế này đã làm nảy sinh phạm trù tài chính.
Sự xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất gắn liền với sự phân chia
giai cấp và sự xuất hiện của Nhà nước. Với chức năng và quyền lực của mình,
Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế hàng hoá phát triển, mở rộng
phạm vi hoạt động của tài chính. Đồng thời, để duy trì hoạt động của mình,
Nhà nước cũng đã tạo lập quỹ ngân sách để chi tiêu cho các hoạt động của
mình. Thông qua ngân sách nhà nước, Nhà nước tác động vào quá trình phân
phối tổng sản phẩm xã hội và hình thành lĩnh vực tài chính nhà nước. Như
vậy, Nhà nước ra đời làm cho hoạt động tài chính ngày càng phát triển hơn.
Từ đó có thể thấy các tiền đề khách quan quyết định sự ra đời và tồn tại
của tài chính là sản xuất hàng hoá - tiền tệ và sự xuất hiện nhà nước, trong đó
sản xuất hàng hoá-tiền tệ là là nhân tố mang tính chất khách quan, có ý nghĩa
quyết định đối với sự ra đời và tồn tại của tài chính; còn Nhà nước là nhân tố
có ý nghĩa định hướng, tạo hành lang và điều tiết sự phát triển của tài chính.
1
1
1.1.2. Bản chất của tài chính

- Tài chính các tổ chức xã hội.
1.2. Khái niệm và bản chất tài chính công
Tài chính công là một bộ phận hữu cơ của nền tài chính quốc gia. Sự ra
đời và phát triển của tài chính công gắn liền với sự ra đời và phát triển của
Nhà nước.
Tài chính công là một phạm trù kinh tế gắn với thu nhập và chi tiêu của
Nhà nước; vừa là nguồn lực để Nhà nước thực hiện các chức năng vốn có của
mình, vừa là công cụ để Nhà nước chi phối, điều chỉnh các hoạt động khác
của xã hội; vừa là công cụ quan trọng của Nhà nước để thực hiện những
nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, sự tồn tại và phát triển của tài chính
công là một đòi hỏi khách quan và hết sức cần thiết.
Tài chính công có một số đặc điểm cơ bản như sau:
- Chủ thể sở hữu và quản lý tài chính công là Nhà nước, nên quyền
quyết định các khoản thu, chi trong tài chính công thuộc Nhà nước hoặc các
cơ quan công quyền do Nhà nước uỷ nhiệm.
- Các quan hệ kinh tế trong phân phối của tài chính công gắn với quá
trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của chính quyền trung
ương, các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức, đơn vị của Nhà nước.
- Tài chính công hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu
phục vụ lợi ích cộng đồng. Vì vậy một số bộ phận của tài chính nhà nước như
doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng thương mại hoạt động vì mục đích
kinh doanh và lợi nhuận không nằm trong phạm vi tài chính công. Đây là
điểm cơ bản trong việc tạo nên sự không đồng nhất giữa tài chính công và tài
chính nhà nước.
3
3
- Tài chính công phục vụ nhiệm vụ chính trị của Nhà nước trong từng
giai đoạn lịch sử nhất định. Do đó trong mỗi giai đoạn, tài chính công có các
nhiệm vụ cụ thể khác nhau.

quá trình phân phối, nên khi nói về chức năng của tài chính nói chung, người
ta thường không tách riêng ra thành một chức năng. Tuy nhiên, đối với tài
chính công, vấn đề tạo lập vốn có sự khác biệt với việc tạo lập vốn của các
khâu tài chính khác, nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định
đối với toàn bộ quá trình phân phối, vì vậy có thể tách ra thành một chức năng
riêng biệt.
Chủ thể của quá trình tạo lập vốn là Nhà nước. Đối tượng của quá trình
này là các nguồn tài chính trong xã hội do Nhà nước tham gia điều tiết. Đặc
thù của chức năng tạo lập vốn của tài chính công là quá trình này gắn với
quyền lực chính trị của Nhà nước. Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của
mình để hình thành các quỹ tiền tệ của mình thông qua việc thu các khoản có
tính bắt buộc từ các chủ thể kinh tế xã hội.
1.3.2. Chức năng phân phối lại và phân bổ
Chủ thể phân phối và phân bổ là Nhà nước với tư cách là người nắm
giữ quyền lực chính trị. Đối tượng phân phối và phân bổ là các nguồn tài
chính công tập trung trong ngân sách nhà nước và các quỹ tiền tệ khác của
Nhà nước, cũng như thu nhập của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà
nhà nước tham gia điều tiết.
Thông qua chức năng phân phối, tài chính công thực hiện sự phân chia
nguồn lực tài chính công giữa các chủ thể thuộc Nhà nước, các chủ thể tham
gia vào các quan hệ kinh tế với Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng
vốn có của Nhà nước. Chức năng phân phối của tài chính công nhằm mục tiêu
công bằng xã hội. Tài chính công, đặc biệt là ngân sách nhà nước, được sử
5
5
dụng làm công cụ để điều chỉnh thu nhập của các chủ thể trong xã hội thông
qua thuế và chi tiêu công.
Cùng với phân phối, tài chính công còn thực hiện chức năng phân bổ.
Thông qua chức năng này, các nguồn lực tài chính công được phân bổ một
cách có chủ đích theo ý chí của Nhà nước nhằm thực hiện sự can thiệp của

chức có nghĩa vụ đóng góp theo luật định, được tập trung vào ngân sách nhà
nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước theo các mục tiêu đã định
đối với từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển. Đây là vai trò mang tính lịch
sử của tài chính công gắn liền với sự ra đời của Nhà nước. Tài chính công
phải thực hiện vai trò này trong bất kỳ chế độ xã hội và cơ chế kinh tế nào.
- Đảm bảo sự tăng trưởng ổn định và bền vững
Nhà nước có vai trò đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, bền
vững và tạo động lực cho sự phát triển. Chức năng phân bổ và ổn định của tài
chính công được sử dụng một cách hữu hiệu để thực hiện vai trò này trong
quá trình quản lý vĩ mô về kinh tế xã hội của Nhà nước.
Thông qua chức năng phân bổ, các nguồn lực của Nhà nước được phân
bổ một cách cân đối, hợp lý, hiệu quả đối với mọi lĩnh vực, mọi thành phần
trong xã hội nhằm thực hiện sự bình đẳng và tập trung vào những ngành mũi
nhọn, những khu vực trọng điểm để tạo cơ hội cho sự tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh đó chức năng giám đốc và điều chỉnh đòi hỏi Nhà nước kiểm
tra bằng đồng tiền đối với quá trình vận động của các nguồn tài chính công,
trên cơ sở đó điều chỉnh quá trình này theo các mục tiêu mà Nhà nước đề ra
và giải quyết những biến động bất thường xảy ra để đảm bảo sự phát triển ổn
định và bền vững của nền kinh tế.
- Đảm bảo công bằng xã hội
Công bằng luôn là một trong những tiêu chí hướng tới của một xã hội
văn minh. Tài chính công có khả năng thực hiện vai trò này để đảm bảo sự
7
7
công bằng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Việc đảm bảo công bằng
được thực hiện bằng chức năng phân phối của tài chính công thông qua hai
công cụ là thuế và chi tiêu công.
Công cụ thuế được sử dụng để phân phối lại thu nhập, rút ngắn khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội bằng cách
đánh thuế cao đối với những người có thu nhập cao hay những mặt hàng xa xỉ

nước đối với xã hội.
2.1.2. Mục tiêu và yêu cầu của quản lý tài chính công
Mục tiêu tổng quát của quản lý tài chính công là tạo ra sự cân đối và
hiệu quả của tài chính công, tạo môi trường tài chính công thuận lợi cho sự ổn
định và phát triển kinh tế, xã hội nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội của đất nước.
* Các mục tiêu cụ thể của quản lý tài chính công là:
- Thứ nhất, bảo đảm kỷ luật tài khoá tổng thể. Chính phủ quản lý các nhu
cầu có tính cạnh tranh nhau trong giới hạn nguồn lực tài chính công cho phép,
từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
- Thứ hai, bảo đảm hiệu quả phân bổ và huy động nguồn lực. Chính phủ
phải xác định được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực; phù hợp với các
chiến lược và kế hoạch quốc gia, các bộ ngành và các tỉnh (chiến lược phân
bổ hay sự lựa chọn mang tính chiến lược).
- Thứ ba, đảm bảo hiệu quả hoạt động, tức là làm thế nào để các cơ quan
cung ứng dịch vụ công có thể cung ứng được các hàng hoá và dịch vụ có hiệu
quả mong muốn trong phạm vi ngân sách cho trước hoặc với chi phí thấp
nhất.
* Các yêu cầu đối với quản lý tài chính công là:
- Tập trung được nguồn lực tài chính công để giải quyết các nhiệm vụ
quan trọng, đúng với chức năng của nhà nước.
9
9
- Sử dụng tập trung nguồn lực tài chính công cho các ưu tiên chiến lược
với chính sách nhất quán và thống nhất.
- Đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập của nền kinh tế, tạo
nên sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công ở tầm vĩ mô và
hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công ở những đơn vị trực tiếp sử dụng.
- Nâng cao được tính chủ động, quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị

quản lý chính là việc tuân thủ theo một quy định chung từ việc hình thành, sử
dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá
trình triển khai thực hiện. Thực hiện nguyên tắc quản lý thống nhất sẽ đảm
bảo tính bình đẳng, công bằng, đảm bảo hiệu quả, hạn chế những tiêu cực và
những rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu công.
- Nguyên tắc công khai, minh bạch: Công khai minh bạch trong động
viên, phân phối các nguồn lực tài chính công là nguyên tắc quan trọng nhằm
đảm bảo cho việc quản lý tài chính công được thực hiện thống nhất và hiệu
quả. Thực hiện công khai minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng
đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi trong quản lý tài
chính công, hạn chế những thất thoát và đảm bảo hiệu quả của những khoản
thu, chi tiêu công.
2.2. Phạm vi quản lý tài chính công và mối liên hệ giữa các bộ phận
2.2.1. Phạm vi quản lý tài chính công
Xuất phát từ khái niệm tài chính công chúng ta thấy rằng phạm vi quản
lý tài chính công bao gồm những bộ phận sau: ngân sách nhà nước, các quỹ
tài chính công ngoài ngân sách nhà nước, tài chính trong các cơ quan hành
chính, các đơn vị sự nghiệp và quản lý công sản.
- Quản lý ngân sách nhà nước: Theo Luật Ngân sách nhà nước năm
2002 thì Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
11
11
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước trong
việc thực hiện các chính sách của mình. Ngân sách nhà nước phản ảnh các
quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà
nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không
hoàn trả trực tiếp. Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, hoạt động thu, chi của
ngân sách nhà nước thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại một bộ phận

các nhiệm vụ của cơ quan mình. Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt
động chủ yếu dựa vào cấp phát từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc không
bồi hoàn trực tiếp để thực hiện những nhiệm vụ mà nhà nước giao.
Nguồn tài chính của các đơn vị hành chính nhà nước được sử dụng tuân
thủ theo các quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản đặc thù cho
từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương.
- Quản lý tài chính trong các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà
nước: Một bộ phận lớn các dịch vụ công được các đơn vị trực thuộc nhà nước
cung ứng. Đơn vị cung ứng dịch vụ công thuộc nhà nước là những đơn vị
thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ (ví dụ như các đơn vị sự nghiệp
thuộc ngành giáo dục, y tế, khoa học, thể dục thể thao,) hoặc các đơn vị thực
hiện các hoạt động công ích (ví dụ cung ứng điện, nước, xây dựng đường xá)
không vì mục đích kinh doanh lợi nhuận
Các đơn vị này cung cấp những dịch vụ công nhằm thỏa mãn nhu cầu
thiết yếu của người dân và của xã hội. Nguồn tài chính cho các đơn vị này
hoạt động là từ ngân sách nhà nước, một số những khoản thu khác có nguồn
gốc từ ngân sách nhà nước, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, các khoản
thu từ quyên góp, tặng, biếu không phải nộp ngân sách nhà nước.
Nguồn tài chính của các đơn vị cung ứng dịch vụ công được sử dụng,
chi tiêu theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và những quy định khác
13
13
nhằm tạo thêm nguồn tài chính cho hoạt động của các đơn vị; thúc đẩy thực
hành tiết kiệm, công khai tài chính, thực hiện phân phối công bằng trong nội
bộ đơn vị; thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng hoạt
động cung ứng dịch vụ công và tạo quyền chủ động cho đơn vị cung ứng dịch
vụ công.
- Quản lý tài sản công: Căn cứ vào pháp luật hiện hành, tài sản công
được hiểu là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài
sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật, đất đai,

hành chính và đơn vị sự nghiệp. Do đó, hiệu quả của quản lý tài chính trong
các cơ quan hành chính và đơn vị cung ứng dịch vụ công có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả của chi Ngân sách nhà nước. Quy mô và hiệu quả của Ngân
sách nhà nước cũng có tác động đáng kể đến quy mô và hiệu quả tài chính của
các cơ quan hành chính và đơn vị cung ứng dịch vụ công.
Việc thu và chi từ các quỹ tiền tệ của nhà nước, đặc biệt là Ngân sách
nhà nước gắn với việc hình thành và sử dụng tài sản công. Việc thu thuế, phí,
lệ phí từ sử dụng các tài sản công đóng góp một phần không nhỏ cho Ngân
sách nhà nước. Việc mua sắm các tài sản công theo đúng các quy định về tài
chính cũng chính là góp phần quản lý tốt ngân sách nhà nước ở trung ương, ở
các địa phương cũng như trong từng cơ quan, đơn vị trực thuộc nhà nước.
2.3. Cải cách Tài chính công trong công cuộc cải cách hành chính.
Trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, thực tế đã cho chúng ta
thấy chỉ có thể thực hiện cải cách hành chính thành công khi tiến hành đồng
thời với việc cải cách tài chính công. Thông qua các hoạt động thu, chi bằng
tiền của Nhà nước, tài chính công phản ánh các mối quan hệ giữa Nhà nước
với các chủ thể kinh tế, xã hội khác trong quá trình hình thành và sử dụng các
quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của mình.
Hiệu quả của quản lý tài chính công vừa phản ánh năng lực của bộ máy nhà
nước, vừa có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của các cơ quan
15
15
trong bộ máy này. Từ nhận thức đó, cải cách tài chính công trở thành nội
dung quan trọng của công cuộc cải cách hành chính ở nước ta.
Nội dung của cải cách tài chính công bao gồm:
Thứ nhất, đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của
ngân sách trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động và trách
nhiệm của địa phương, các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách.
Thứ hai, bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội

những động lực thúc đẩy các cơ quan trong bộ máy nhà nước đổi mới về tổ
chức, phương thức hoạt động và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công
chức, làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn, đáp
ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính ở nước ta.
17
17
Bài 2
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm ngân sách nhà nớc
Ngân sách nhà nước ra đời và phát triển cùng với Nhà nước nhưng
quan niệm về NSNN còn nhiều điểm chưa được thực sự thống nhất, cả trong
và ngoài nước, chẳng hạn:
Từ điển Bỏch khoa toàn thư về kinh tế của Phỏp: "Ngõn sỏch là văn
kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn về các nghiệp
vụ tài chính (thu, chi) của mộ t tổ chức công (Nhà nước, chính quyền địa
phương và đơn vị công).
Đại từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc, định nghĩa "NSNN là
kế hoạch thu, chi tài chính hàng năm của Nhà nước được xét duyệt theo trình
tự pháp định".
Luật NSNN năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 1998 của Việt Nam, định
nghia "NSNN là toàn bộ cỏc khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".Như vậy:
18
18
Dưới góc độ lý thuyết, NSNN thể hiện các quan hệ kinh tế giữa nhà
nước và các chủ thể khác trong xã hội, là sự vận động của các nguồn tài chính
gắn với quá trình tạo lập, sử dụng quĩ tiền tệ tập trung của nhà nước phát sinh
khi nhà nước tham gia vào quá trình phân phối các nguồn tài chính quốc gia.
Dưới góc độ pháp lý, NSNN được luật hóa cả hình thức và nội dung,

2.2. Vai trò của ngân sách phát triển: là công cụ thúc đẩy tăng
trưởng, ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
- Thông qua NSNN, Nhà nước định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu
của nền kinh tế theo các định hướng đã đặt ra cả về cơ cấu vùng, cơ cấu
ngành.
- Thông qua chi NSNN, Nhà nước đầu tư cho kết cấu hạ tầng - lĩnh vực
mà tư nhân sẽ không muốn tham gia hoặc không thể tham gia; tạo điều kiện
thuận lợi cho sản xuất – kinh doanh phát triển, thúc đẩy tăng trởng kinh tế,
nâng cao đời sống dân cư.
- Bằng nguồn chi NSNN hàng năm, tạo lập các quĩ dự trữ về hàng hoá
và tài chính, trong trường hợp thị trường biến động, giá cả tăng quá cao hoặc
xuống quá thấp, nhờ vào lực lợng dự trữ hàng hoá và tiền, Nhà nước có thể
điều hoà cung cầu hàng hoá để bình ổn giá cả, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
và người sản xuất.
- Nhà nước cũng có thể chống lạm phát bằng việc cắt giảm chi NSNN,
tăng thuế tiêu dùng, khống chế cầu, giảm thuế đầu tư để khuyến khích đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng cường cung. Sử dụng các công cụ vay nợ
như công trái, tín phiếu kho bạc… để hút bớt lượng tiền mặt trong lưu thông,
giảm sức ép về giá cả và bù đắp thâm hụt ngân sách.
2.3. NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng
xã hội và giải quyết các vấn đề xã hội.
Nền kinh tế thị trường với sức mạnh thần kỳ, nhưng cũng luôn chứa
đựng những khuyết tật mà nó không thể tự sửa chữa, đặc biệt là về mặt xã hội
20
20
như: bất bình đẳng về thu nhập, sự chênh lệch về mức sống, tệ nạn xã hội;
NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng và giải quyết
các vấn đề xã hội. Nó được thể hiện thông qua các khoản thu - chi của NSNN,
điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt những bất hợp lý
trong phân phối, đảm bảo công bằng và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội

- Các khoản thu từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân
- Các khoản thu khác
3.2. Chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước là việc chi tiêu của nhà nước cho các mục tiêu
công theo những định hướng nhất định.
Là việc phân chia và sử dụng quĩ NSNN nhằm thực hiện các chức năng
của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Các khoản chi bao gồm:
- Chi thường xuyên
- Chi đầu tư phát triển
- Chi trả nợ, cho vay
- Chi bổ sung quỹ dự trữ
- Chi khác
4. Tiêu chuẩn là một ngân sách “tốt” trong thực tế
Đảm bảo kỷ luật, hiệu quả và thoả mãn nhu cầu của cộng đồng;
Tầm nhìn phải dài hạn và chỉ ra được hiệu quả của các lựa chọn công;
Dự báo trước được các khoản thu và nhiệm vụ chi tiêu để xây dựng
chính xác kế hoạch thu, chi;
Đảm bảo sự tham gia của cộng đồng và thể hiện các lợi ích khác nhau;
22
22
Ngân sách phải công khai minh bạch để ngăn chặn tình trạng trốn thuế
và lạm dụng chi tiêu công;
Ngân sách phải bền vững và cho phép dễ dàng nắm bắt mục tiêu và
thách thức cũng như điều chỉnh theo những thay đổi của môi trờng
5. Một số vấn đề trong quản lý ngân sách bền vững
5.1. Tăng cường qui trách nhiệm trong quản lý ngân sách
Qui trách nhiệm và quản lý ngân sách: điều này đòi hỏi các nhà quản lý
ngân sách nhà nước ở các cấp và nhân viên của họ có khả năng trả lời về số
tiền mà họ đã sử dụng ở đâu và như thế nào và kết quả đã thực hiện được nhờ
vào khoản tiền đó.

- Các khoản chi “gián tiếp” cũng cần công khai minh bạch. Đó là các
bảo lãnh cho vay (thay thế trợ cấp trực tiếp cho các DN); Chi thuế ( là các
khoản khấu trừ thuế).
5.3. Tạo ra cho ngân sách tầm nhìn trung và dài hạn
Mở rộng phạm vi dự báo
- Tạo ra sự khác biệt giữa các dự kiến ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Cung cấp các thông tin về tác động lâu dài của các quyết định ngân sách
- Đánh giá các tác động của các quyết định ngân sách
Tầm nhìn nhiều năm
Tăng cường kỷ luật chi tiêu công thông qua: xác định mục tiêu tổng
thể; đánh giá chi phí của các hoạt động cam kết; làm rõ kết quả của các quyết
định hiện nay
Tăng cường yếu tố chiến lược của quản lý ngân sách thông qua:
- Phát hiện các khuynh hướng không thuận lợi và làm rõ chúng;
- Coi trọng tác động của yếu tố dân số tới sự vận động của tài chính công
24
24
NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG
NGÂN SÁCH TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
NGÂN SÁCH HUYỆN
VÀ CÁC CẤP TƯƠNG ĐƯƠNG
NGÂN SÁCH XÃ VÀ
CẤP TƯƠNG ĐƯƠNG
NGÂN SÁCH NHÀ NỚC
- Thể hiện công khai minh bạch
Chú ý các vấn đề mang tình phương pháp
- Tránh ảo tưởng đánh giá cao về tiềm năng tăng trưởng kinh tế
- Ảo tưởng về các dự báo trung và dài hạn tạo ra về sự cải thiện tình hình tài
chính trong khi về lâu dài tình trạng tài chính xấu đi
- Khuynh hướng đẩy các khoản chi ra ngoài phạm vi xem xét


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status