Nguyễn Thị Hồng Chung
A Mở đầu.
I. Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, khi nền kinh tế thị trờng đang biến đổi mạnh mẽ cùng với quy
luật phát triển của nó, thì ngời giáo viên, đặc biệt là ngời giáo viên chủ nhiệm lại
ngày càng có một trọng trách to lớn, quan trọng. Vừa phải tham gia vào quá trình
trang bị kiến thức cho học sinh để đảm bảo yêu cầu của mục tiêu và nhiệm vụ
giáo dục, vừa phải quan tâm tới mọi mặt của từng học sinh lớp chủ nhiệm, giúp
đỡ các em rèn luyện ý hức, thái độ, hình thành những phẩm chất, tình cảm trong
sáng, đúng đắn. Xây dựng cho các em hoài bão, lí tởng sống cao đẹp, có bản lĩnh
đề kháng với những cám dỗ, những ảnh hởng tiêu cực đang diễn ra xung quanh.
Vậy làm thế nào để cùng một lúc vừa có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn
lại vừa làm tốt công tác chủ nhiệm? Tôi thiết nghĩ, để trở thành một ngời giáo
viên giỏi về chuyên môn đã khó, còn để trở thành một ngời giáo viên chủ nhiêm
giỏi, lại khó khăn hơn rất nhiều. Bởi ta chỉ có thể trở thành một ngời giáo viên chủ
nhiệm tốt khi ta thực sự là một tấm gơng mẫu mực trong cuộc sống, giải quyết tốt
các mối quan hệ không chỉ đối với học sinh lớp chủ nhiệm mà còn đối với gia
đình, đồng nghiệp, với mọi ngời ở cộng đồng nơi ở và toàn xã hội Không chỉ
thế, ngời giáo viên chủ nhiệm giỏi cũng rất cần giỏi về chuyên môn, vì trong con
mắt học sinh, thờng giáo viên chủ nhiệm lớp phải là một ngời toàn diện.
Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi không bàn về lĩnh vực chuyên môn, tôi
chỉ xin bàn về việc làm thế nào để ngời giáo viên chúng ta có thể làm tốt công tác
chủ nhiệm.
Để giải quyết vấn để đặt ra ở trên, ngời giáo viên chủ nhiệm ngoài việc
nắm vững các kiến thức, phơng pháp chủ nhiệm ta còn cần hiểu biết về trí tuệ cảm
xúc, và có thể sử dụng trí tuệ cảm xúc để làm tốt công tác chủ nhiệm. Vì thế cho
nên, tôi đã nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc, về hiệu quả của nó để áp dụng vào công
tác chủ nhiệm của mình. Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi xin trình bày về đề
tài kinh nghiệm của tôi: Phng phỏp phõn loi hc sinh da vo trớ tu cm
xỳc trong cụng tỏc ch nhim trng THPT.
II. Mục đích nghiên cứu:
trọng vì nó ảnh hởng tới tất cả quá trình làm công tác chủ nhiệm . Muốn làm công
3
Nguyễn Thị Hồng Chung
tác chủ nhiệm tốt chắc chắn là phải phân loại học sinh tốt. Vậy làm thế nào để
phân loại học sinh tốt? Để phân loại học sinh một cách có hiệu quả có thể có
nhiều cách nhng theo tôi, một trong những cách tốt nhất là phải dựa vào trí tuệ
cảm xúc để phân loại học sinh.
IV. Giả thuyết khoa học:
Nếu tất cả các giáo viên làm công tác chủ nhiệm biết dựa vào chỉ số EQ để
phân loại học sinh và quan tâm giáo dục học sinh về chỉ số EQ thì chắc chắn sẽ
thu đợc hiệu quả cao và các học sinh đợc giáo dục nâng cao chỉ số EQ sẽ bản
lĩnh, vững vàng và thành đạt trong cuộc sống hơn rất nhiều.
V. Ph ơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng một số phơng pháp sau:
1. Điều tra s phạm.
2. So sánh.
3. Tổng hợp đánh giá.
VI . Cơ sở, phạm vi, thời gian nghiên cứu:
Tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài này trong 5 năm (2003 - 2008) và tiến
hành thực nghiệm trong 2 năm (2006 - 2008) ở lớp 11A1 tại trờng THPT Yên
Thủy B.
4
Nguyễn Thị Hồng Chung
B Quá trình nghiên cứu.
Ch ơng I. Cơ sở lí luận và thực tiễn:
I.Sơ lợc lịch sử vấn đề nghiên cứu.
Thế giới biết đến thuật ngữ trí tuệ cảm xúc lần đầu tiên nhờ vào hai nhà
tâm lí học ngời Mĩ là Piter Salovey và John D.Mayer. Vào năm 1993 hai nhà khoa
học này cho xuất bản cuốn The intelligence of emotional intelligence trong
đó đề cập và làm rõ vấn đề trí tuệ cảm xúc .Vấn đề chính mà cuốn sách trên
với chỉ số IQ và CQ, ba chỉ số này đều có liên quan đáng kể tới quá trình học tập
của các em học sinh. Đặc biệt nó có một vai trò quan trọng trong cuộc sống, sự
thành công trong cuộc đời của các em.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Dung trờng Cao đẳng S Phạm Tây Ninh nghiên cứu về
vấn đề trí tuệ cảm xúc và công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên trờng tiểu học.Tác
giả khẳng định: Trí tuệ cảm xúc quan trọng hơn trí thông minh (IQ) đối với
sự thành công của công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên trờng tiểu học.Kết
luận đo nghiệm này phù hợp với những kết luận khoa học của các nhà tâm lí
học Mĩ đ ra vào năm 1997.
6
Nguyễn Thị Hồng Chung
Dựa vào những nghiên cứu trên đây của các tác giả, tôi nghiên cứu và áp
dụng trí tuệ cảm xúc vào công tác chủ nhiệm ở trờng THPT và thu đợc những
kết quả đáng kể.Trong khuôn khổ của đề tài này tôi chỉ xin trình bày về phơng
pháp phân loại học sinh dựa vào trí tuệ cảm xúc trong công tác chủ nhiệm ở trờng
THPT.
II. Cơ sở lí luận của ván đề nghiên cứu:
Qua các công trình nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của các tác giả đã trình
bày ở trên, khái niệm về trí tuệ cảm xúc đợc đa ra và đợc hiểu khá đồng nhất.
Theo Peter Salovey và John D.Mayer trong cuốn The inter lligence of
emotional intelligence , Trí tuệ cảm xúc (EQ) là một dạng trí tuệ xã hội
cung cấp cho con ngời khả năng kiểm định, phân loại cảm xúc của mình và
của ngời khác, trên cơ sở đó điều chỉnh t duy và điều tiết hành vi của mình.
Theo họ: Những ngời có chỉ số cảm xúc (Emotional quotient ) cao là ngời có khả
năng phát triển nhanh trong những lĩnh vực nhất định và biết cách sử dụng những
khả năng sẵn có của mình,
Còn Gioleman nhà tâm lý học ngời Mỹ cũng cho rằng: EQ là cách
chúng ta nhận thức bản thân và những mối quan hệ cũng nh tác động qua lại
của chúng ta với những ngời khác. Ông đa ra cấu trúc của trí tuệ cảm xúc bao
gồm 4 thành phần chủ yếu: Sự tự nhận thức ( Self awareness), Sự tự chủ
biến đổi xúc cảm qua thời gian.
Thứ t : Sử dụng xúc cảm đúng đắn để ra những quyết định chiến lợc.
Theo 4 năng lực xúc cảm trên của ngời giáo viên chủ nhiệm ta lại thấy việc
sử dụng xúc cảm có hai quá trình. Quá trình ngời GVCN sử dụng xúc cảm của
mình để làm công tác chủ nhiệm và quá trình giáo dục xúc cảm cho các em học
sinh ở đây tôi chỉ xin bàn về quá trình ngời giáo viên sử dụng xúc cảm của
mình để làm công tác chủ nhiệm.
III. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Trên Tạp chí Giáo dục số 163 kì 2 tháng 5/2007 có bài viết Trí tuệ cảm
xúc và công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên trờng tiểu học của Th.S Nguyễn
Thị Dung CĐSP Tây Ninh. Tác giả bài viết cho rằng: Cuộc sống thờng nhật
cho thấy bằng cấp, chỉ số IQ và các kì thi truyền thống không cho phép chúng
ta tiên đoán một cách chắc chắn ai sã là ngời thành công hơn trong cuộc đời.
Không phải ngời có chỉ số thông minh thấp hơn bao giờ cũng ít thành đạt hơn
8
Nguyễn Thị Hồng Chung
ngời có IQ cao hơn Các trắc nghiệm IQ truyền thống cho phép tiên đoán sự
thành công ở nhà trờng, thì những kết quả này lại càng ít quan trọng khi
những con đờng của cuộc đời rời khỏi lĩnh vực học đờng hạn hẹp.
Với nhận định này của tác giả, tôi cho rằng tác giả đã đúng nhng cha hoàn
toàn chính xác. Khi nhìn nhận vai trò của IQ và EQ ta không nên đối lập chúng
với nhau. Cái quyết định sự thành công của con ngời thực ra phải là cả hai yếu tố
IQ và EQ.
Xã hội mà chúng ta đang sống là xã hội của nền kinh tế tri thức. Ngời có
chỉ số EQ thấp mà IQ cao có thể gải quyết đợc những công việc cần đến rình độ
chuyên môn cao nhng cha chắc dã giải quyêt đợc những áp lực công việc liên
quan đến khả năng điều hòa các mối quan hệ trong công việc và ngoài xã hội, và
ngợc lại. Vì thế tôi cho rằng dù cuộc đời học sinh đang ở trờng phổ thông hay ở
ngoài xã hội thì các em cũng cần có cả hai yếu tố IQ và EQ. Daniel Goleman
khẳng định: trong những yếu tố quyết định thành công của đời ngời thì IQ
thế nào? Tôi đã nghiên cứu và đa ra 4 phơng pháp phân loại học sinh dựa vào trí
tuệ cảm xúc nh sau:
1. Phân loại học sinh dựa vào chỉ số EQ của giới tính.
2. Phân loại học sinh dựa vào chỉ số EQ của các học sinh ở những khu vực
khác nhau.
3. Phân loại học sinh dựa vào chỉ số EQ liên quan đến nhóm nghề của bố mẹ
4. Phân loại học sinh dựa vào sự tơng quan giữa EQ với điểm học.
10
Nguyễn Thị Hồng Chung
Ch ơng II. Các biện pháp thực hiện
I. Phơng pháp phân loại học sinh dựa vào chỉ số EQ của
giới tính
Đây là phơng pháp dựa vào đặc điểm tâm sinh lí của giới tính nam và nữ để
phân loại các em. Qua nghiên cứu cho thấy, điểm số EQ trung bình của nhóm học
sinh nữ luôn cao hơn điểm số EQ trung bình của nhóm học sinh nam. Điều này
đúng với thực tế. Các em nữ dậy thì sớm hơn, Khả năng nhận biết cảm xúc của
các em nữ nhạy cảm hơn, tinh tế hơn các em nam cùng tuổi. Các em nữ thờng
quan tâm nhiều đến ngoại hình của mình, thờng dành nhiều thời gian để chăm sóc
bản thân hơn các em nam, những yếu tố từ ngoại hình tác động nhiểu đến trí tuệ
cảm xúc của các em, nó có thể giúp các em tự tin hơn để học tập tốt hơn, nhng nó
cũng có thể là nguyên nhân chính dẫn các em đến việc mải mê vui chơi, làm
đỏm, không quan tâm tới việc học hành. Lúc này, ngời giáo viên chủ nhiệm cần
phải biết quan tâm đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tợng để hớng các em đến những
hành vi, suy nghĩ đúng đắn hơn.
11
Nguyễn Thị Hồng Chung
Nhóm học sinh nữ còn là những em dễ rung động, dễ chia sẻ, rất tinh tế và
nhạy cảm, vì thế, bạn không nên quá cứng nhắc, cũng không nên xa rời các em
mà cần quan tâm chia sẻ, tâm sự với các em nh ngời thân. ở độ tuổi học đờng các
em thờng phải trải qua những biến đổi về tâm lí nên bạn phải thờng xuyên qua
Lâu nay ngời giáo viên làm công tác chủ nhiệm thờng ít quan tâm đến
nhóm nghề của cha mẹ của các em học sinh, mà điều này lại vô cùng quan trọng
trong công tác giáo dục học sinh. Thực chất nghề nghiệp của bố mẹ là một nhân
tố tổng hòa, phản ánh trực tiếp hay gián tiếp môi trờng gia đình, đặc thù của mỗi
gia đình, kinh tế, văn hóa xã hội. Qua nghiên cứu về nhóm nghề của cha mẹ học
sinh, ngời ta đa ra 8 nhóm nghề khác nhau nh: Công nhân, nông dân, trí thức, cán
bộ viên chức lực lợng vũ trang, doanh nhân, nội chợ, nghề tự do. Qua khảo xát
PGS.TS Nguyễn Công Khanh chứng minh chỉ số EQ của học sinh theo nhóm
nghề của bố mẹ lần lợt đợc xếp từ cao suống thấp nh sau: Lực lợng vũ trang,
doanh nhân, công nhân, trí thức, nội trợ, cán bộ viên chức, nghề tự do, nông dân
Nh vậy, những học sinh có bố mẹ làm nghề nông, có điểm số EQ trung bình thấp
hơn so với các em có bố, mẹ làm nghề khác
Dựa vào đặc điểm này, ngời làm công tác chủ nhiệm cần hiểu rõ những học
sinh có bố mẹ trong nhóm nghề lực lợng vũ trang, doanh nhân, công nhân, trí
thức là những học sinh có chỉ số EQ cao, có khả năng tự đánh giá về bản thân cao
hơn những học sinh có bố mẹ trong nhóm nghề còn lại. Tuy nhiên ta cũng cần
nhìn nhận chính xác sự tự đánh giá về bản thân của các em để đa các em về với
kết quả đúng hoạc gần đúng của xử lí trí tuệ cảm xúc. Còn với nhóm học sinh có
bố mẹ trong nhóm nghề còn lại, giáo viên chủ nhiệm cần định hớng cho các em
năng lực tự nhân biết mình, năng lực tự khẳng định, quyết đoán và năng lực đánh
giá mình một cách lạc quan. Đôi khi các em có sự tự ti về nghề nghiệp của bố mẹ
mình lúc này ngời giáo viên chủ nhiệm cần chỉnh sửa những suy nghĩ sai lệch của
các em, xóa nhòa danh giới giữa hai nhóm học sinh trên để các em có một tập thể
lớp đoàn kết, mạnh mẽ và phát triển .
V. Phơng pháp phân loại học sinh dựa vào sự tơng quan
giữa chỉ số EQ với điểm học lực các môn.
13
Nguyễn Thị Hồng Chung
14
Nguyễn Thị Hồng Chung
Ch ơng III. Thực nghiệm s phạm
Tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm bốn phơng pháp trên đối với
lớp 11A1 (trờng THPT Yên Thủy B) ở 2 giai đoạn: giai đoạn 1: từ tháng 9
2007 đến tháng 1 2008; giai đoạn 2: từ tháng 2 2008 đến tháng 5 2008.
ở giai đoạn thứ nhất, tôi hoàn toàn không sử dụng trí tuệ cảm xúc để làm
công tác chủ nhiệm, không quan tâm tới những xúc cảm của các học sinh, chỉ áp
dụng những phơng pháp chủ nhiệm thông thờng, đó là đa ra những khuôn hình cụ
thể về chỉ tiêu, ý thức, trách nhiệm mà yêu cầu các em phải thực hiện, đa ra
những khung hình phạt nếu các em vi phạmKhông quan tâm tới trí tuệ cảm xúc
của các em, không gần gũi chia sẻ những khó khăn, niềm vui, nỗi buồn với các
emKết quả thu đợc qua giai đoạn 1 so với năm học trớc có khác biệt nhiều. Tôi
đã tiến hành tổng hợp so sánh và thu đợc những kết quả sau:
Năm 2006 2007: Tổng số học sinh: 45
Về học lực:
Gỏi: 2,2%
Khá: 15,6%
Tb: 71,1%
Yếu: 11,1%
Kém: 0,0%
Về hạnh kiểm:
Tốt: 22,2%
Khá: 66,7%
Tb: 11,1%
Yếu: 0,0%
Kì I năm 2007 2008:
Về học lực:
Giỏi:0.0%
Khá: 8.9%
NguyÔn ThÞ Hång Chung
B¶ng so s¸nh vÒ häc lùc
18
Nguyễn Thị Hồng Chung
Bảng so sánh về hạnh kiểm
Qua thực nghiệm tôi nhận thấy rằng : Khi sử dụng trí tuệ cảm xúc vào
công tác chủ nhiệm không những có thể nâng cao đợc chất lợng giáo dục học sinh
mà còn tạo ra một không khí thoải mái cho lớp học, giúp tập thể có sự gắn bó
đoàn kết, vững mạnh, giúp các em yêu trờng yêu lớp hơn, đặc biệt các giáo viên
bộ môn vốn tâm huyết nay lại càng hứng thú giảng dạy, giáo dục đối với lớp hơn.
Khi tâm sự với các học sinh phần lớn các em đều cảm thấy vui mừng vì sự
đoàn kết của tập thể, đợc các thầy cô giaó tin yêu và điều đặc biệt quan trọng là
các em đợc chia sẻ với những cảm xúc thờng ngày của các thầy cô giáo, điều mà
lâu nay các em thờng mong muốn.
Còn đối với các thầy cô giáo, họ đều bày tỏ cảm xúc vui mừng, tinh thần
phấn trấn khi bớc vào lớp. Nhiều khi các thầy cô vì thơng yêu, gắn bó mà không
quản khó khăn, không kể giờ giấc mà giảng dạy, giáo dục thêm cho các em. Và
điều quan trọng là các thầy cô có thể tâm sự, giao lu, chia sẻ niềm vui nỗi buồn
của mình với các em, luôn mong đến tiết để bớc vào lớp của các em.
19
Nguyễn Thị Hồng Chung
Nh vậy, cả phía giáo viên và phía học sinh nếu đợc quan tâm tới trí tuệ cảm
xúc và phát triển nó một cách đúng đắn thì chắc chắn công tác giáo dục học sinh
trong các trờng phổ thông sẽ ngày càng đợc nâng cao hơn.
C. Kết luận chung và kiến nghị
I kết luận chung
Nói tóm lại, qua phân tích ở trên tôi xin rút ra 1 số kết luận sau:
Thứ nhất: Trong quá trình phân loại học sinh, ngời làm công tác chủ
nhiệm nên áp dụng 4 phơng pháp phân loại đã trình bày ở trên để phân loại học
thông hiện nay.
Tài liệu tham khảo:
1. Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trờng THPT PGS.TS
Hà Nhật Thăng NXB Giáo Dục.
2. Tạp chí Giáo Dục các số: 142 kì 2 tháng 07/ 2006
163 kì 2 tháng 05/ 2007
184 - kì 2 tháng 02/ 2008.
21
Nguyễn Thị Hồng Chung
Mục lục
Mục Tên mục Trang
A
Mở đầu 2
I Lí do chọn đề tài 2
II Mục đích nghiên cứu 2
III Khách thể và đối tợng nghiên cứu 3
IV Giả thuyết khoa học 3
V Phơng pháp nghiên cứu 3
VI Cơ sở, phạm vi, thời gian nghiên cứu 4
B
Quá trình nghiên cứu 5
Chơng I Cơ sở lí luận và thực tiễn 5
I Sơ lợc lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
II Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 6
III Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 7
Chơng II Các biện pháp thực hiện 10
I Phơng pháp phân loại học sinh dựa vào chỉ số EQ
của giới tính
10
II Phơng pháp phân loại học sinh dựa vào chỉ số EQ