SKKN MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG DẠY-HỌC CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở THCS - Pdf 26

MỘT VÀI KINH NGHIỆM TRONG DẠY-HỌC CÁC
VĂN BẢN VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI Ở THCS
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn chương nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ
văn trung học cơ sở gồm những sáng tác dân gian, văn thơ cổ điển, văn thơ hiện đại
được chọn và bố trí song song với chương trình văn học dân tộc. Cùng với văn học
dân tộc, văn chương nước ngoài đã góp phần tạo điều kiện cho học sinh mở rộng
tầm nhìn và khả năng cảm thụ tinh hoa văn hoá nhân loại, hiểu biết thêm về cuộc
sống và tài năng sáng tạo của các dân tộc từ đó hiểu rõ hơn đất nước, dân tộc và văn
hoá dân tộc đồng thời phát triển tinh thần quốc tế và ý thức về cộng đồng văn hoá
nhân loại.
Đó là những sáng tác được chọn lọc trong kho tàng văn học của các dân tộc.
Nói rộng ra đó là tinh hoa văn hoá nhân loại đủ sức vượt qua sự thử thách khắc
nghiệt của thời gian, của không gian đến với chúng ta hôm nay. Ta bắt gặp ở đây
những tác phẩm đã thành mẫu mực của văn học thế giới từ các chuyện cổ tích như
“Cây bút thần” (Trung Quốc), “Ông lão đánh cá và con cá vàng” (Nga)… cho đến
các tác phẩm văn chương nổi tiếng của các nhà văn lớn của các dân tộc cũng là của
thế giới như “Đôn- ki-hô-tê” của (Xéc-van-tét), “Cô bé bán diêm” của (An-đéc-
xen), “Chiếc lá cuối cùng” của (OHen-ry), thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ; Truyện của
Lỗ Tấn, A. Tôn-xtôi, Mô-pa-xăng, Giắc Lơn-đơn, Ai-ma-tốp, các trích đoạn kịch cổ
điển Pháp, Anh của Mô-li-e, Sếc-xpia.
Nhìn chung đó là những tác phẩm rất giàu giá trị nhân bản, giàu tinh thần dân
tộc có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tình cảm cao đẹp, bồi dưỡng tâm hồn
trong sáng và ý thức vươn tới điều thiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách cho
học sinh. Đó còn là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật lớn, đạt trình độ mẫu mực
được viết ra bởi tài nghệ bậc thầy của các nhà văn xuất sắc.
4
Tuy nhiên trong thực tế dạy và học tác phẩm văn chương nước ngoài ở trung
học cơ sở hiện nay gặp rất nhiều khó khăn mà trước hết khó khăn lớn nhất là khoảng
cách khá lớn về không gian và thời gian, về lịch sử và tâm lý. Đứng trước nhiều tác

+ Thông qua các buổi sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, qua dự giờ đồng nghiệp,
thăm lớp rút kinh nghiệm và đánh giá chất lượng, kết quả của các tiết dạy và học từ
đó rút ra những phương pháp và biện pháp chung trong dạy và học các loại thể văn
học nước ngoài.
+ Sử dụng phiếu học tập với những câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra việc nắm kiến
thức bài học, sự hiểu biết của học sinh về các tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
+ Tiến hành cho học sinh làm các bài kiểm tra viết để đánh giá tổng quát khả năng
cảm thụ, phân tích những giá trị nghệ thuật và nội dung của các tác phẩm văn học
nước ngoài.
2, Kết quả khảo sát:
Khối Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu
SL (%) SL (%) SL (%) SL (%)
6
64 39 0 0 13 33,3 22 56,4 4 10,3
65 40 0 0 11 27,5 24 60,0 5 12,5
7
71 39 0 0 15 38,4 21 54,0 3 7,6
75 41 0 0 12 29,2 22 54,0 6 16,8
Qua thực tế và kết quả khảo sát tôi nhận thấy rằng:
+ Sự hiểu biết của học sinh về các tác giả cũng như các tác phẩm văn học nước
ngoài được học trong chương trình còn rất hạn chế.
6
+ Khả năng tiếp thu và cảm nhận những tác phẩm văn chương nước ngoài chưa
cao.
+ Kỹ năng phân tích và cảm thụ những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và nội dung
các tác phẩm văn chương nước ngoài còn hời hợt và chưa sâu sắc. Vì vậy số bài đạt
điểm khá chưa cao.
+ Kỹ năng phân tích các yếu tố ngôn ngữ, các biện pháp nghệ thuật, chi tiết, hình
ảnh, nhân vật … trong các tác phẩm văn học nước ngoài của học sinh còn lúng túng.
+ Ở một vài giáo viên sự hiểu biết về phong tục, tập quán sinh hoạt, quan niệm

học một cách phù hợp hơn.
III, NHỮNG CÔNG VIỆC THỰC TẾ ĐÃ LÀM VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.
1. Những nguyên tắc chung:
1a. Muốn dạy tốt các tác phẩm văn chương nước ngoài phải trực tiếp tiếp xúc với
tác phẩm:
Có thể coi đây là một yêu cầu nghiêm ngặt đối với giáo viên và học sinh khi
dạy học tác phẩm văn chương. Nhưng với các tác phẩm văn chương nước ngoài thì
đây là một yêu cầu khá cao song phải tìm mọi cách mà thực hiện cho được. Có thể tổ
chức cho tổ, nhóm chuyên môn chia nhau tìm đọc, trao đổi với nhau. Cũng có thể tổ
chức báo cáo trong sinh hoạt chuyên môn hoặc có thể tổ chức ngoại khoá cho học
sinh. Nếu không đọc được tác phẩm thì cũng phải được nghe, được kể, được thảo
luận về tác phẩm mà mình phải dạy và học.
1b. Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến tác phẩm:
Sự hiểu biết về tác giả, về thời đại, về đất nước đó sản sinh ra tác phẩm,
những đặc sắc về thiên nhiên, về tập tục xã hội nhất là về tâm lý dân tộc sẽ giúp ta
hiểu và cảm tác phẩm văn chương nước ngoài rất nhiều. Những điều đó không dễ gì
có đươc nếu chúng ta không tìm tòi học hỏi.
Chúng ta sẽ không cảm và hiểu tốt đoạn trích “ Đánh nhau với cối xay
gió”trong “Đôn-ki hô tê” của Xéc-van-tét nếu ta không hiểu biết gì về đất nước Tây
Ban Nha thời trung cổ, sự tan giã của ý thức hệ phong kiến và sự hình thành của ý
thức hệ tư sản.
8
Vì vậy việc tìm đọc các tài liệu có liên quan trên các tạp chí, các sách báo rất
cần thiết đối với giáo viên và học sinh nhất là giáo viên trong việc dạy học tác phẩm
văn chương, nhất là tác phẩm văn chương nước ngoài.
1c. Muốn dạy tốt tác phẩm cần hiểu đúng tác phẩm:
Muốn dạy tốt văn bản thì phải hiểu đúng nó, tìm hiểu nó đúng trong vị trí tác
phẩm, hiểu được toàn bộ tác phẩm và dụng ý nghệ thuật của tác giả từ đó mới lựa
chọn được vấn đề và cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội cho
phù hợp với trình độ học sinh. Đây là một yêu cầu cao song với tác phẩm văn

bao nhiêu ông chủ trước đó, trong bối cảnh khốc liệt của cuộc hành trình dai dẳng
dài dặc trên những con đường ngập tuyết, trong cơn tuyệt mệnh của đàn chó…
Chính đây mới là phần cốt yếu của tác phẩm, mới là dụng ý nghệ thuật của tác giả.
Chỉ có trên cơ sở tình yêu vô hạn đối với loài vật mới chiến thắng được những con
vật. Nội dung của tác phẩm là thế, tư tưởng của tác phẩm cũng là thế nhưng nếu chỉ
dựa vào tên của văn bản, qua hai chiến công của con chó, nhiều người chỉ thấy nổi
lên hình ảnh “Con chó Bấc” mà thôi.
2, Những công việc thức tế đã làm:
Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài cũng là dạy-học tác phẩm văn
chương nói chung. Đó cũng là tác phẩm văn chương dân gian, văn chương cổ điển
và văn chương hiện đại… Đó cũng là tác phẩm trữ tình và tự sự. Dạy học tác phẩm
văn chương nước ngoài cũng đến phải vận dụng các phương pháp và biện pháp dạy
học tác phẩm văn chương nói chung nhưng với tác phẩm văn chương nước ngoài, do
những đặc điểm, những khó khăn như đã nói ở trên nên ta cần vận dụng những hình
thức, biện pháp sao cho hợp lý và đạt được hiệu quả giờ dạy.
2a. Tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác tác phẩm:
Tác phẩm văn chương bao giờ cũng mang trên mình dấu ấn của một thời lịch
sử nhất định. Vì vậy việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và hoàn cảnh sáng tác bao giờ
cũng là một yêu cầu có tính nguyên tắc. Dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài
thì việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử và việc sáng tác thật là việc vô cùng quan trọng. Vì
đây là những điều rất xa lạ đối với học sinh. Sự phụ thuộc của tác phẩm văn chương
10
vào hoàn cảnh lịch sử sẽ rất khó giải thích cho học sinh nếu như không gắn liền với
những điểm phân tích, đánh giá chung với hoàn cảnh cuộc sống và hoạt động sáng
tác của nhà văn. Có như thế mới giúp học sinh có điều kiện tìm hiểu sâu tác phẩm.
Ví dụ: Dạy học bài: “Thạch Hào lại”( Kẻ lại ở thạch hào) của Đỗ Phủ mà không
đả động gì đến hoàn cảnh xã hội, đến sự biến An Lộc Sơn và Sử Tư Minh (755-763)
và sự phức tạp của các mâu thuẫn trong xã hội đương thời của Trung Quốc thì cũng
khó mà hiểu được một cách đúng đắn bài thơ này.
Hoặc có hiểu sâu sắc bối cảnh lịch sử của nông thôn Trung Quốc sau cách

đến”, hay việc sử dụng vần (nhất, tam, ngũ bất luận; nhị , tứ, lục phân minh), những
kiểu đối: Đối thanh, đối ý (24 loại), những bút pháp lấy“động” tả “tĩnh”; “cao” tả
“thấp”; “quá khứ” tả “hiện tại”… trong thơ Đường cũng cần được học sinh hiểu biết
trước khi đi sâu vào tìm hiểu những bài thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hạ Tri Chương.
Đặt tác phẩm trong mối tương quan văn hoá của hai dân tộc sẽ giúp cho việc
nghiên cứu tác phẩm cụ thể nhận ra và làm phong phú hơn đời sống tâm hồn và tình
cảm dân tộc của mỗi người khi tiếp xúc với tác phẩm. Trên thực tế trong quá trình
tiếp xúc với tác phẩm dù thế nào cũng vẫn gợi ra sự liên tưởng so sánh nhất định
nhưng trong chương trình văn học nước ngoài ở Trung học cơ sở, có rất nhiều điểm
khác nhau, thậm trí trái ngược nhau trong cách cảm, cách nghĩ và cách diễn đạt bởi
thế, để học sinh hiểu cảm đúng tác phẩm, cần phải giúp học sinh rút ngắn khoảng
cách này lại.
2c. Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn bản ngôn từ và văn bản hình tượng.
Văn chương nước ngoài đến với giáo viên và học sinh đều qua lời dịch của
các dịch giả. Văn bản tác phẩm mà giáo viên và học sinh được dạy-học là văn bản
dịch chứ không phải là nguyên tác. Như thế người dịch đã phải thực thi một hoạt
động rất phức tạp là:
- Chuyển dịch một tác phẩm từ một ngôn ngữ khác.
- Chuyển dịch một tác phẩm từ một thời gian này (thời gian lich sử xuật hiện
nguyên bản) sang một thời gian khác (thời gian lịch sử của bản dịch) và,
12
- Chuyển dịch một tác phẩm từ một không gian văn hoá này sang một không
gian văn hoá khác.
Như vậy, dịch bản là văn bản hình tượng. Dạy học tác phẩm văn chương nước
ngoài chủ yếu là dạy học trên văn bản hình tượng gặp phải những bài thơ nước ngoài
từ nguyên bản đến bản dịch nghĩa, sang đến bản dịch thơ thì về mặt ngôn từ đã có sự
khác nhau rất xa những bài thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch trong thơ Đường đều nằm
trong trường hợp đó. Thế là việc bám lấy ngôn từ để khai thác như với trường hợp
thơ nói chung là không thể được. Nhưng các đặc điểm khác của thi pháp bài thơ lại
có thể giúp ta hiểu cảm bài thơ thì lại phải khai thác. Tuỳ từng bài mà có cách vận

cảm có hợp lý không?
Cũng như khi học sinh cảm nhận hai câu thơ cuối:
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương.
Dịch:
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.
Sau khi đọc lại toàn bộ bài thơ, cần dẫn dắt qua các câu hỏi sau:
Em có nhận xét gì về 3 từ trong 3 văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ):
“vọng”, “ngắm”, nhìn về mặt đồng nghĩa em thích từ nhìn hay ngắm hơn? tại sao?
Phân tích hai từ trái nghĩa: “ngẩng” (ngẩng đầu) và “cúi” (cúi đầu) để thấy
hai từ ngữ đó thể hiện cảm xúc gì của nhà thơ?
Tại sao từ vầng trăng sáng mà lại nhớ cố hương? sự liên tưởng cảm xúc đó
có tự nhiên không?
Với thể loại tác phẩm tự sự thì hình tượng nhân vật trong các bản dịch cần
được tìm hiểu, khai thác đúng mức. Nếu không sẽ khó lòng đạt được hiệu quả như
mong muốn.
Trường hợp “Người thầy đầu tiên” với đoạn trích “Hai cây phong” của Tsin-
ghiz Ai-ma-tốp là một thí dụ: “người thầy đầu tiên” hiện lên trên trang giấy không
phải qua việc quan sát, miêu tả, so sánh mà lại hiện lên qua việc tái hiện hình ảnh,
14
qua những kỷ niệm sâu sắc với một tình cảm trân trọng, kính yêu, pha chút hối hận,
áy náy của An- tư -nai, người học sinh bất hạnh nay đã trở thành viện sỹ. Câu
chuyện trải dài trên một quãng thời gian mấy chục năm. Song, ở đây sách giáo khoa
ngữ văn 8 chỉ là những đoạn ở phần đầu cuốn truyện. Dẫu là phần đầu nhưng tất cả
dều góp phần khắc hoạ hình ảnh thầy giáo Đuy-sen, trong đó những mẩu ký ức sau
bao nhiêu năm tháng đã được thời gian khoác màu thi vị, buộc người đọc phải dùng
cả tưởng tượng, liên tưởng và đắm mình trong hoài niệm để cùng sống với nhân vật.
Chúng ta phải làm sao để học sinh đừng ngập vào sự kiện, đừng bị những suy ngẫm
miên man làm loá đi hình ảnh người thầy đã gọi là hồi ức thì không phải tất cả đều

gây ấn tượng mạnh mẽ cho người kể chuyện và lũ trẻ?
Điều gì đã hiện ra trước mắt lũ trẻ? Phản ứng của chúng được miêu tả như
thế nào? Qua đó chúng ta đánh giá vị trí của hai cây phong ra sao?
Qua việc ca ngợi vẻ đẹp của hai cây phong người kể chuyện hướng tới người
vô danh đã trồng và vun xới chúng. Hãy chỉ ra sự ca ngợi tinh tế đó?
Với một tự sự khác lại phải có cách khai thác khác, chẳng hạn với “chiếc lá
cuối cùng” của O.Henry trong ngữ văn 8 lại khác. Hình tượng “chiếc lá cuối cùng”
không chỉ gợi lại ở đó mà còn gợi ta đến tấm lòng của người nghệ sĩ nghèo của nước
Mĩ mà đặc biệt là tấm lòng của bác Bơ- men đã tạo lên kiệt tác “chiếc lá cuối cùng”.
Câu chuyện ngợi ca tình cảm trong sáng, cao đẹp của những nghệ sĩ chân chính, ca
ngợi sự hy sinh quên mình của cụ Bơ- men để vẽ chiếc lá, cứu sống Giôn- xy.
Những chiếc lá trường xuân , theo qui luật sinh tồn của tạo hoá, từng chiếc lá
một theo mùa đông rét mướt qua đi. chiếc lá cuối cùng sót lại không phải bởi cây ấy
là cây trường xuân, không phải bởi lá cây là lá trường xuân mà bởi nét vẽ tài hoa của
ông lão Bơ-men làm trường xuân lá ấy. Cây tuy là trường xuân cũng không giữ được
lá của mình. Người tuy hữu hạn nhưng lại giữ được lá.
Vậy ra điều duy nhất để giữ được lá kia lại trên dương thế này là tấm lòng.
Tấm lòng đã thăng hoa thành nghệ thuật. Và nghệ thuật đã mang thiên chức cứu
người. Với O.Henry nghệ thuật phải phụng sự cái đẹp, phải phụng sự cuộc sống. Mà
cuộc sống, tồn tại trong ý nghĩ cao đẹp nhất, là phải biết hi sinh. Có thể nói, nhân
16
loại tồn tại trong ý thức cao đẹp nhất, là phải biết hi sinh.Và có thể nói, nhân loại tồn
tại và phát triển là nhờ sự hi sinh kế tục của các thế hệ tiếp nối. Xét ở góc độ này,
O.Henry đặt vấn đề về ý nghĩa tồn tại và khả năng duy trì sự sống của con người.
Cuộc sống là đáng quí, nhưng theo Bơ-men, nếu cần, lão sẵn sàng hi sinh tính
mạng của mình vì những điều cao quí hơn. đến đây ta thấy rõ hơn dụng ý nghệ thuật
tạo độ căng của O.Henry: sử dụng thủ pháp tăng cấp nhưng khi truyện phát triển lên
đến đỉnh điểm thì khéo léo đan cài tư tưởng, chủ đề khác vào, đây mới là chủ đề
chính của tác phẩm. Vậy ra, cả hai cô gái, bác sĩ, bức tường gạch, dây trường xuân
kia và cả cách tự sự duyên dáng từ đầu tác phẩm đến đây tất cả đều là nền để ông lão

tấm lòng của mọi người đối với cô?
Vì sao cụ Bơ-men và Xiu sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ nhìn cây thường
xuân?
Sau hai lần ra lệnh kéo màn để nhìn ra cửa sổ, tâm trạng của Giôn xy
biến đổi như thế nào? Điều gì là nguyên nhân gây lên sự biến đổi đó?
Giôn xy nói “có một cái gì đó đã làm cho chiếc lá cuối cùng vẫn còn đấy
để em thấy rằng mình đã tệ như thế nào. Muốn chết là một tội?
Em thử hình dung diễn biến tình cảm trong tâm trạng của Giôn xy khi thấy
chiếc lá “dũng cảm”, “đơn độc” bám vào cành?
Theo em, Giôn xy được cứu sống chủ yếu nhờ vào những điều gì?
Tại sao có thể nói chiếc lá của cụ Bơ-men vẽ mới là yếu tố quan trọng cứu
sống Giôn xy?
Để cho Gôn xy thoát khỏi cái chết nhờ chiếc lá, ngoài việc ca ngợi những
tình cảm tốt đẹp của các nghệ sĩ, tác giả còn muốn ca ngợi điều gì khác?
Xiu coi chiếc lá của cụ Bơ-men là một kiệt tác. Em có đồng ý như vậy
không? hãy giải thích theo cách hiểu của em?
Những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện, xây dựng các tình
tiết và tình huống truyện của O.Hen ry trong “Chiếc lá cuối cùng”?
2d. Tìm hiểu những dấu hiệu thi pháp của tác phẩm theo đặc trưng loại thể.
18
Mỗi tác phẩm văn học xuất hiện bên cạnh động lực lớn, cảm hứng chủ quan
của nhà văn còn bị chi phối trực tiếp bởi trào lưu văn hoá trong khu vực ảnh hưởng
cụ thể đến dân tộc. Vì vậy, chúng ta đặt yêu cầu này ra là để tìm kiếm những điều
kiện lý tưởng khi dạy và học cũng như nghiên cứu tác phẩm.
Ví dụ: Với thơ Đường thì dù bút pháp hiện thực như Đỗ Phủ, lãng mạn như
Lý Bạch đều bị chi phối bởi triết học Đạo giáo và Phật giáo không đơn thuần chỉ là
Nho giáo. Màu sắc của Đạo giáo trong thơ Lý Bạch rất rõ, ở Vương Duy chất phật rõ
hơn còn Đỗ Phủ thì chất nhân văn từ hiện theo đời sống là chủ đề chính.
Ta thấy thơ đường có màu sắc rất riêng, có lẽ khó gặp ở một trào lưu văn học
Phương tây nào có một loại thơ như thế. Cái tôi với tính chất “phi cá thể”, ước lệ

cử-đê; vọng-tư; minh nguyệt-cố hương). Về ý diễn tả được tư thế và tâm trạng của
tác giả. Tư thế của Lý Bạch ở đây hoàn toàn trái ngược (khi ngẩng đầu nhìn trăng thì
phấn khởi vui vẻ, thoải mái - khi cúi đầu là buồn rầu tưởng nhớ đến quê hương).
3, Kết quả đạt đươc:
Sau khi vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy, tôi đã mạnh
dạn thực nghiệm đối với khối 7 (ở lớp 7A và 7C), khối 8 (lớp 8A và 8D), còn ở khối
6 và khội 9 tôi chưa có điều kiện áp dụng. Để biết được kết quả của việc vận dụng
“kinh nghiệm trong dạy-học các thể loại văn học nước ngoài”. Tôi đã tiến hành khảo
sát ở các tiết văn học của khối 7 (trong các tuần 9, 10, 11), Cách khảo sát được tiến
hành như ở phần: Điều tra thưc trạng trước khi nghiên cứu.
Kết quả khảo sát như sau:

Khối Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu
SL (%) SL (%) SL (%) SL (%)
7
71 39 9 23 19 48 10 26,0 01 3,0
75 41 7 17 21 51 11 27 02 5,0
Với kết quả khảo sát như trên, qua việc đối chiếu, so sánh kết quả ở hai khối
lớp 7 (71 và 75); ). Tôi nhận thấy rằng những biện pháp và hình thức dạy-học các tác
20
phẩm văn học nước ngoài đã góp phần phục vụ hữu ích và góp phần nâng cao hiệu
quả, chất lượng của các giờ dạy-học tác phẩm văn học nước ngoài.
Phần lớn học sinh nắm chắc và nắm sâu kiến thức bài hoc, hiểu và cảm thụ
sâu sắc những giá trị đặc sắc về nghệ thuật, nội dung của các tác phẩm văn, thơ nước
ngoài.
Có kỹ năng tìm hiểu, khám phá, phân tích những tác phẩm văn chương nước
ngoài theo đặc trưng, thể loại.
IV, BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Qua thời gian nghiên cứu cùng các đồng nghiệp của mình áp dụng đề tài này
vào giảng dạy phần văn học nước ngoài trong chương trình ngữ văn 7 và 8, tôi thấy

cả các khối lớp và ở tất cả các trường học khi tìm hiểu phần văn học nước ngoài.
VI. NHỮNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ.
Hiện nay chất lượng dạy và học văn đang thu hút sư chú ý quan tâm của dư
luận xã hội và các bậc phụ huynh học sinh. Trong chương trình văn học được giảng
dạy ở tất cả các trường THCS, phần văn học nước ngoài chiếm một khối lượng
không nhỏ bao gồm các tác giả tác phẩm của nhiều nền văn học khác nhau trên thế
giới. Việc giảng dạy phần văn học nước ngoài thường gặp khó khăn về nguồn tư
liệu, về cách tiếp nhận và việc khai thác tìm hiểu các giá trị thẩm mĩ của các tác
phẩm văn học. Vì vậy để nâng cao chất lượng các giờ dạy và học văn, đặc biệt là
phần văn học nước ngoài. Tôi mạnh dạn nêu một số kiến nghị sau:
+Tăng cường bồi dưỡng kiến thức lịch sử văn hoá, văn học, ngoại ngữ… cho giáo
viên dạy văn.
+ Khẩn trương bổ sung nguồn tư liệu mới có liên quan đến tác phẩm (cho đến nay
rất ít thầy cô được đọc tác phẩm trọn vẹn, nhưng đã dạy đoạn trích mấy năm nay).
22
+ Nên giới thiêu các tác phẩm trọn vẹn để minh hoạ bằng đoạn trích chứ không
nên trích giảng. Từ đó tiến tới phân tích minh hoạ tiêu biểu.
+ Với các giáo viên đứng lớp cần tạo cho việc chiếm lĩnh thơ, văn nước ngoài
bằng những biện pháp khác nhau với từng loại cụ thể của từng tác giả khác nhau
tránh sự áp đặt.
PHẦN III
KẾT LUẬN
Tác phẩm văn chương nước ngoài là tiếng nói tâm tình, là cuộc đời của những
con người sống rất xa ta về không gian và thời gian nhưng lai có cùng một nhịp đập
trái tim với chúng ta. Ta phải vận dụng cả những tình cảm và hiểu biết nhiều khi
tưởng như không dính dáng đến tác phẩm một cách linh hoạt, sáng tạo để đưa các
em đến những bến bờ xa lạ của thế giới văn học nhân loại, để nâng cao tầm nhìn,
tầm suy nghĩ của các em. Có như thế, việc dạy học tác phẩm văn chương nước ngoài
mới có hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
Để dạy – học tốt phần văn học này, giáo viên cần phải có một vốn hiểu biết

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU.
1. Hình thức và nội dung khảo sát .
2. kết quả khảo sát.
II. PHƯƠNG PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH.
III. NHỮNG CÔNG VIỆC THỨC TẾ ĐÃ LÀM VÀ KẾT QUẢ
ĐẠT ĐƯỢC.
1. Những nguyên tắc chung.
2. Những công việc thực tế đã làm.
3. Kết quả đạt được.
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
V. PHẠM VI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI.
VI. NHỮNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ.
PHẦN III
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
8
8
8
8
9
10
10
12
22
24
24
25
26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status