KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
MỤC LỤC
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân hàng thương mại
(NHTM) ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh cả về số
lượng, quy mô và chất lượng. Trong những năm gần đây, hoạt động ngân hàng đã
góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển.
Như vậy, hệ thống NHTM đã trở thành một trong những ngành tiên phong cho quá
trình đổi mới cơ chế kinh tế, đóng góp to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Tín dụng là hoạt động cơ bản nhất và mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các
NHTM. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, NHTM và các doanh
nghiệp có quan hệ ngày càng chặt chẽ với nhau. Hệ thống NHTM cung cấp một
lượng vốn vô cùng lớn cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Đồng thời
thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng thương mại đã đóng góp một vai trò lớn
trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững
và hiệu quả. Bên cạnh đó, vốn là điều kiện tiên quyết đối với bất kỳ doanh nghiệp
nào trong việc bảo đảm quả trình sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả. Bên
cạnh nhu cầu vốn trung và dài hạn để đổi mới công nghệ, nhà xưởng, máy móc, các
doanh nghiệp còn có nhu cầu vay vốn ngắn hạn để bổ sung cho nhu cầu thiếu hụt
vốn tạm thời khi gặp khó khăn trong việc thanh toán với khách hàng, trả lương cho
công nhân, mở rộng sản xuất trong mùa vụ… Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế
nước ta hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, dễ gặp phải khó
khăn về vốn ngắn hạn mà không có khả năng giải quyết, do đó nhu cầu vay vốn
ngắn hạn, đặc biệt là nguồn vay từ ngân hàng là rất cao. Chính vì vai trò quan trọng
của hoạt động tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và tín dụng ngắn
hạn nói riêng là yêu cầu nhất thiết đối với mọi ngân hàng thương mại, đặc biệt là
trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt của hệ thống trung gian tài chính
của Việt Nam hiện nay.
Kính mong được sự góp ý của thầy cố giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
2
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY NGẮN HẠN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành tồn tại và phát triển hàng
trăm năm gắn liền cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ
thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền
kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao
nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở
thành những định chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM. Ở Mỹ : Ngân
hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính
và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo quan điểm của giáo
sư Peter S.Rose: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục
các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ
thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế”
Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng 2010 đã xác định "Tổ chức tín dụng
là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ
chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính
vi mô và quỹ tín dụng nhân dân". Trong các loại hình ngân hàng thì "Ngân hàng
thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi
nhuận". Cũng theo luật này, hoạt động ngân hàng được hiểu là việc kinh doanh,
cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng,
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
* Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân
NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại
và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của
mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo
tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng
và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử
dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử
dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
4
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống
NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu
thanh toán, chi trả của xã hội.
1.1.3. Các hoạt động cơ bản của NHTM
* Hoạt động huy động vốn
Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động
hết sức quan trọng và liên quan đến sự sống còn của các ngân hàng thương mại.
Thông qua hoạt động huy động vốn, ngân hàng thu hút được số tiền nhàn rỗi từ dân
cư, các tổ chức kinh tế xã hội, hình thành nên nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của
ngân hàng. Vì vậy, hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chính sách, phương thức
để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vì vậy các phương thức huy động vốn ngày
càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn.
Các hình thức huy động vốn chủ yếu bao gồm:
- Nhận tiền gửi tiết kiệm: Mục đích của tiền gửi tiết kiệm là để hưởng lãi suất
và bảm đảm an toàn. Có 2 loại tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và
không có kỳ hạn, trong đó các kỳ hạn được xác định dựa trên sự thoả thuận giữa
phải không ngừng đa dạng hóa hình thức tín dụng cho phù hợp với nhu cầu và thị
hiếu của khách hàng.
* Hoạt động thanh toán qua ngân hàng
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng là việc cung ứng phương tiện
thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy
nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách
hàng thông qua tài khoản của khách hàng.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN CỦA NHTM
1.2.1. Khái niệm cho vay ngắn hạn của NHTM
Theo khoản 16 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Cho vay là hình thức
cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo
thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Theo khoản 2 điều 3 của
Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng thì “Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng
bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay được thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng”.
Như vậy, cho vay ngắn hạn là những khoản cho vay của NHTM có thời hạn
cho vay không quá 12 tháng, với mục đích nhằm đảm bảo nhu cầu vốn tạm thời,
đầu tư, tài trợ vốn lưu động… hay tài trợ cho một phần tài sản dài hạn trong trường
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
6
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
hợp doanh nghiệp cần vốn gấp mà vẫn có khả năng trả nợ ngắn hạn cho ngân hàng.
Cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động cho vay của NHTM.
Đặc điểm của cho vay ngắn hạn là từng khoản vay thường nhỏ, nguồn vốn được
quay vòng nhiều; thời gian thu hồi vốn nhanh. Rủi ro trong cho vay ngắn hạn
thường không cao và do đó lãi suất cũng thấp hơn trong cho vay trung và dài hạn.
1.2.2. Phân loại cho vay ngắn hạn của NHTM
* Căn cứ vào hình thức cho vay
-
Các nguồn
khác tham gia
dự trữ
+ Đối với cho vay ngắn hạn để dự trữ
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
7
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Nhu cầu vay
ngắn hạn ngân
hàng
=
Nhu cầu dự trữ hàng
hóa bình quân trong kỳ
-
Nguồn vốn CSH, các TCTD
khác tài trợ cho nhu cầu dự
trữ hàng hóa bình quân
Trong kỳ khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không
được vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức
cuối kỳ. Khi đó, dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức, tuy nhiên đến cuối kỳ,
khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sau cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá
hạn mức.
Đây là hình thức cho vay thuận tiền đối với những khách hàng có nhu cầu
vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất
kinh doanh. Trong nghiệp vụ ngày, ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ, mà
khi khách hàng có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân
quỹ cho khách hàng.
- Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để
vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này sẽ là cơ sở pháp lý để ngân hàng có
nguồn thu bù đắp vào phần vốn vay hoặc lãi không thu hồi được nếu khách hàng
không có khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, tài sản thế chấp cũng góp phần kích thích
hàng hàng sử dụng vốn đúng mục đích cam kết và có hiệu quả.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng không
cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực
trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị tài chính hiệu quả thì ngân
hàng có thể cho vay dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một
nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Cho vay sản xuất kinh doanh: cho vay ngắn hạn với mục đích sản xuất kinh
doanh là việc cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp như
cơ hội kinh doanh, bổ sung vốn lưu động không thường xuyên để mua nguyên vật
liệu, vốn lưu động thường xuyên trong một giai đoạn nhất định nhằm ổn định nguồn
tài chính, nâng cao tính chủ động cho doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch kinh
doanh.
- Cho vay tiêu dùng: mục đích vay vốn của khách hàng là đáp ứng các nhu
cầu tiêu dùng như chi trả các khoản chi phí không dự tính trước, trả nợ, nâng cấp
nhà ở, du lịch, trả học phí…
1.2.3. Vai trò của cho vay ngắn hạn
* Đối với nền kinh tế
Cho vay ngắn hạn giúp đáp ứng các nhu cầu về vốn, điều hòa lượng cung
cầp về vốn trong nền kinh tế, góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, mở rộng
đầu tư phát triển kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Cho vay ngắn hạn
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
9
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
giúp tập trung các khoản tín dụng vốn thành các khoản tín dụng lớn, tạo điều kiện
tích tụ và tập trung vốn, góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất.
để có thể linh hoạt trong việc vay vốn, dáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do tính chất
của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi cả trên phần dư nợ chưa sử dụng
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
10
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
đến, do đó buộc các doanh nghiệp phải quay vòng vốn nhanh và tính toán hoạt động
kinh doanh hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Tóm lại, cho vay ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được nguồn
bổ sung vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả, trước là để trả các khoản nợ vay, tạo dựng uy tín trong mắt ngân hàng, tạo điều
kiện duy trì mối quan hệ tín dụng sau này, góp phần phát triển doanh nghiệp.
* Đối với NHTM
Hoạt động cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng đảm bảo nguồn
thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đây là công cụ hiệu quả để
tạo lợi nhuận và phòng chống rủi ro cho ngân hàng. Trong quá trình hoạt động của
NHTM, các nhà quản trị ngân hàng luôn cần quan tâm đến các vấn đề: tạo nguồn
thu bù đắp được chi phí (chi phí huy động vốn, chi phí trả lương, chi phí quản lý…),
mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng. Hoạt động cho vay
ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này.
1.3. NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY NGẮN HẠN CỦA NHTM
1.3.1. Khái niệm nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn của NHTM
* Quan điểm về chất lượng cho vay ngắn hạn của NHTM
Hoạt động cho vay của NHTM không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng
mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái của nền kinh tế. Ngân hàng với tư cách là
một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, một lĩnh vực có độ nhạy cảm và
rủi ro cao. Trong các nghiệp vụ ngân hàng, cho vay là một nghiệp vụ mang lại phần
doanh lợi lớn cho ngân hàng, đồng nghĩa với việc ẩn chứa nhiều rủi ro, ngay cả khi
khoản vay có tài sản đảm bảo, bởi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả
năng tài chính của khách hàng mới là quan trong nhất trong việc đảm bảo khả năng
trả nợ của khách hàng.
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế - xã hội để cung ứng cho các doanh
nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Cho vay ngắn hạn đầu tư cho nền kinh tế tạo
ra sản phẩm có chất lượng cao, hạ giá thành, tạo thêm công ăn việc làm cho người
lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác mọi khả năng tiềm tàng, tích tụ
vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vốn vay nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát
triển.
Như vậy, chất lượng cho vay ngắn hạn là sự đáp ựng một cách tốt nhất yêu
cầu về vốn ngắn hạn (không quá 12 tháng) của khách hàng trong quan hệ tín dụng,
đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro về vốn, nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng, phù
hợp và phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.
Qua đó, có thể thấy, chất lượng cho vay ngắn hạn là một khái niệm vừa cụ
thể (phản ánh được thông qua các chỉ tiêu định tính), vừa trừu tượng (thể hiện ở các
chỉ tiêu định tính như khả năng đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, sự phù hợp
với tình hình của nền kinh tế…). Chất lượng cho vay ngắn hạn được xác định qua
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
12
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
nhiều yếu tố như thu hút được khách hàng, cho vay nhiều, mức độ an toàn vốn cao,
thủ tục đơn giản… Như vậy, chất lượng cho vay ngắn hạn được hình thành, bảo
đảm từ hai phía là ngân hàng và yếu tố bên ngoài. Để hạn chế rủi ro và nâng cao lợi
nhuận từ hoạt động cho vay nắn hạn, ngân hàng cần nâng cao chất lượng của các
khoản vay ngắn hạn.
* Về nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn của NHTM
Nâng cao chất lượng ngắn hạn là việc tăng cường khả năng đáp ứng kịp thời,
đầy đủ nhu cầu về vốn ngắn hạn của khách hàng, nâng cao hiệu quả khoản vay, đảm
bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, tăng khả năng sinh lời cho khoản vay,
phù hợp với đường lối chính sách kinh tế xã hội mà Nhà nước đã hoạch định. Hiện
nay, cho vay ngắn hạn đang là kênh huy động vốn chủ yếu và quan trọng của các cá
nhân, doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Nền kinh tế càng
phát triển thì nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn càng cần được quan tâm.
đắn để khai thác khả năng tiềm tàng của tài nguyên. lao động, đảm bảo cho sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề.
Nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng còn
góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ, qua đó thúc đầy tăng
trưởng kinh tế. Thông qua việc cho vay chuyển khoản, thanh toán không dùng tiền
mặt, các NHTM có khả năng mở rộng số tiền ghi sổ nên nhiều lần so với số tiền
thực tế mà Nhà nước bỏ vào lưu thông. Như vậy, khi chất lượng cho vay được nâng
lên sẽ góp phần giúp Nhà nước thực hiện được các chính sách kinh tế vĩ mô, kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế.
Cuối cùng, chất lượng cho vay nâng cao góp phần làm lành mạnh hóa quan
hệ tín dụng, giảm thiểu tình trạng cho vay nặng lãi đang khá phổ biến hiện nay.
* Đối với khách hàng:
Cung cấp kịp thời nhu cầu về vốn cho khách hàng: Chất lượng cho vay ngắn
hạn cao sẽ tạo điều kiện cho khách hàng mở rộng thị trường, cung cấp vốn kịp thời,
đáp ứng yếu cầu của sản xuất kinh doanh.
Lành mạnh hóa tình hình tài chính của khách hàng: Đề đảm bảo chất lượng
cho vay thì ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn tín dụng
của khách hàng, qua đó cùng với khách hàng uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời những
thiếu sót trong hoạt động tài chính và kinh doanh của họ. Do đó, việc nâng cao chất
lượng cho vay góp phần nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh cũng như lành
mạnh hóa tình hình tài chính của khách hàng.
* Đối với NHTM
Nâng cao chất lượng cho vay nói chung và cho vay ngắn hạn nói riêng là sự
cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của hệ thống ngân hàng
thương mại.
Nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn tức là tăng khả năng quay vòng vốn
vay, qua đó mở rộng được các hình thức dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng như
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
14
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
tăng, tạo điều kiện mở rộng hoạt động cho vay của NHTM.
Nhân tố Chu kỳ kinh tế cũng tác động rất lớn tới chất lượng cho vay ngắn
hạn. Trong thời kỳ nền kinh tế hưng thinh, sản xuất kinh doanh dược mở rộng, nhu
cầu về vốn tăng, hiệu quả sự dụng vốn cao, do đó giảm bớt được rủi ro tín dụng,
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
15
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
giúp nâng cao hiệu quả cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên, trong giai đoạn kinh tế hưng
thịnh, các ngân hàng thường cạnh tranh rất gay gắt để mở rộng khách hàng. Điều
này buộc ngân hàng phải hạ thấp yêu cầu với khách hàng về các điều kiện cho vay.
Đây chính là nguyên nhân khiến các khoản cho vay ngắn hạn gặp nhiều rủi ro hơn,
chất lượng cho vay ngắn hạn do vậy cũng giảm xuống. Khi nền kinh tế rơi vào khó
khăn, khủng hoảng, nền sản xuất bị trì trệ khiến nhu cầu vốn va giảm. Các doanh
nghiệp sẽ thấy mạo hiểm nếu mở rộng sản xuất bởi nhu cầu tiêu dùng của người dân
giảm, sức mua kém, hàng hóa bị tồn kho, lợi nhuận giảm hoặc thậm chí doanh
nghiệp có thể bị phá sản bởi không duy trì được sản xuất dẫn đến không trả nợ được
ngân hàng. Trong khi hoạt động cho vay gặp nhiều khó khăn, ngân hàng vẫn phải
trả tiền lãi để huy động nguồn vốn trước đó. Vì vậy, chất lượng cho vay ở giai đoạn
này thường rất thấp.
Một trong những nhân tố kinh tế có ảnh hưởng đến chất lượng cho vay ngắn
hạn là sự phù hợp giữa lãi suất huy động ngắn hạn, lãi suất cho vay ngắn hạn và
mức lợi nhuận bình quân của nền kinh tế. Khi mức lợi nhuân doanh nghiệp giảm
xuống hay lãi suất huy động tăng lên sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay ngắn hạn
của hệ thống ngân hàng thương mại.
* Môi trường pháp lý
Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn ổn định và phát triển thì cũng cần có một
hành lang pháp lý thích hợp. Đây chính là bàn tay hữu hình của Nhà nước tác động
vào nền kinh tế nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo đúng mục tiêu, chế độ của
mình. Hoạt động cho vay ngắn hạn của NHTM là một trong những hoạt độgn kinh
tế trong tổng thể nền kinh tế, vì vậy nó cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật
* Nhân tố từ phía người vay vốn
Khách hàng là người trực tiếp sử dụng khoản vay từ ngân hàng, có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng cho vay của ngân hàng. Việc có nhiều khách hàng đủ
điều kiện vay vốn, sử dụng vốn vay hợp lý, hiệu quả, đúng mục đích đã cam kết,
thanh toán nợ và lãi đầy đủ, đúng hạn sẽ làm cho chất lượng cho vay ngắn hạn của
NHTM được nâng cao. Những yếu tố từ người đi vay ảnh hưởng đến chất lượng
cho vay ngắn hạn bao gồm:
- Phương án vay vốn: Phương án sản xuất kinh doanh tốt sẽ đem lại tính khả
thi và hiệu quả sử dụng vốn cao, đem lại lợi nhuận cho khách hàng, dòng tiền và kết
quả kinh doanh để trả nợ cho ngân hàng, đảm bảo tính an toàn và sinh lời cho
khoản vay ngắn hạn.
- Năng lực, kinh nghiệm quản lý của doanh nghiệp
Trong hoạt động cho vay ngắn hạn, khách hàng có trình độ chuyên môn và
quản lý cao sẽ có khả năng dự báo, lập kế hoạch tốt, do vậy, tính khả thi của
phương án vay vốn cũng cao. Bên cạnh đó, khách hàng có năng lực quản lý cũng
biết tận dụng tốt các nguồn lực trong doanh nghiệp, tạo được môi trường làm việc
tốt, khuyến khích phát triển tiềm của cán bộ công nhân viên, thúc đẩy hiệu quả sản
xuất kinh doanh, sử dụng vốn có hiệu quả, đảm bảo cho việc trả nợ gốc và lãi cho
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
17
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ngân hàng, nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn.
- Khả năng, điều kiện hiện tại của doanh nghiệp
Bên cạnh tính khả thi của phương án vay vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh
hiện tại của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng. Khi
phân tích hồ sơ vay vốn ngắn hạn của khách hàng, chỉ những khách hàng có tình
hình kinh doanh tốt, chỉ tiêu kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng mới xem xét cho
vay. Tình hình tài chính của doanh nghiệp có thể được phản ánh thông qua Bảng
cân đối kế toán, quy mô, cơ cấu nguồn vốn, tài sản, Báo cáo kết quả kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tện. Bên cạnh đó, ngân hàng cần phân tích khả năng, điều
muốn có chất lượng cho vay ngắn hạn tốt thì phải có một chính sách cho vay ngắn
hạn rõ ràng, phù hợp với ngân hàng mình, với nhu cầu của khách hàng và xu thế
phát triển chung của nền kinh tế.
- Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là những quy định cần thực hiện trong quá trình cho vay
và thu nợ nhằm đảm bảo an toàn cho khoản vay. Quy trình tín dụng bao gồm giai
đoạn chuẩn bị cho vay, giải ngân, kiểm tra quá trình cho vay và giai đoạn thu hồi
khoản vay. chất lượng cho vay ngắn hạn tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào sự
phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ giữa các bước trong quy trình tín dụng.
Thẩm định dự án là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán,
phân tích, so sánh phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cho khách
hàng vay vốn hay không nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới
chất lượng hoạt động cho vay ngắn hạn. Nếu chất lượng của công tác thẩm định
không cao, tức là cán bộ tín dụng không xác định được thực chất dự án có hiệu quả
hay không thì những khoản vay mà ngân hàng cấp sẽ gặp khó khăn trong việc thu
hồi nợ và lãi. Chính vì vậy, công tác thẩm định đỏi hỏi những nhân viên thẩm định
có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả các phòng ban trong ngân hàng.
Sau quá trình giải ngân, các cán bộ tín dụng sẽ liên tục kiểm tra, giám sát
tình hình sử dụng số vốn đã cấp. Nếu việc giám sát này là chặt chẽ thì ngân hàng có
thể phát hiện kịp thời những rủi ro, sai phạm để từ đó đưa ra điều chỉnh, can thiệp
cần thiết, giúp nâng cao chất lượng của khoản vay.
NHTM muốn tồn tại thì ngoài việc quan trọng là cần thu được cả khoản gốc
và lãi vay. Nếu ngân hàng có biện pháp xử lý nợ chính xác, nhanh chóng thì sẽ giảm
thiếu rủi ro và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại khi xảy ra, qua đó, chất lượng tín
dụng sẽ được nâng cao.
- Chính sách lãi suất
Lợi nhuận của NHTM đến từ chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi huy động được
và lãi suất cho vay (thường cao hơn lãi suất tiền gửi huy động). Trong điều kiện nền
kinh tế có nhiều biến động, lãi suất luôn thay đổi, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu
cũng như các quy định của Chính phủ và NHNN. Vì vậy, để nâng cao chất lượng
Dư nợ ngắn hạn trong kỳ - Dư nợ ngắn hạn kỳ trước
x 100%
Dư nợ ngắn hạn kỳ trước
Trong đó:
Dư nợ ngắn hạn trong kỳ = Dư nợ ngắn hạn đầu kỳ + Doanh số vay ngắn hạn
trong kỳ - Doanh số thu nợ ngắn hạn trong kỳ
* Chỉ tiêu phản ánh tính an toàn của khoản vay ngắn hạn
Nguyên tắc cho vay là có hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi của khoản
vay, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng để cấu thành chất lượng cho vay. Tính
an toàn trong cho vay ngắn hạn được cụ thể hóa thông qua tỉ lệ nợ quá hạn ngắn, tỉ
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
20
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
lệ nợ xấu ngắn hạn và tỉ lệ mất vốn.
- Tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn:
Tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn là tỉ lệ giữa tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn trên tổng
dư nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn cho vay ngắn hạn thì bao nhiêu
đồng bị chuyển xuống nợ quá hạn.
Tỉ lệ nợ quá hạn
ngắn hạn
=
Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn
x 100%
Tổng dư nợ ngắn hạn
Nợ quá hạn là những khoản vay đến hạn mà khách hàng không trả được gốc
và/hoặc lãi. Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá
hạn đối với những khoản nợ này (cao hơn lãi suất thông thường). Đây là những
khoản nợ có độ rủi ro cao, có khả năng mất vốn. Vì vậy, chỉ tiêu tỉ lệ nợ ngắn hạn
càng thấp thì chất lượng khoản vay ngắn hạn càng cao.
- Tỉ lệ nợ xấu ngắn hạn:
thấy chất lượng thẩm định dự án thấp, công tác giảm sát khách hàng không tốt, khả
năng thu hồi nợ yếu.
- Tỉ lệ mất vốn:
Tỉ lệ mất vốn thể hiện một đồng vốn cho vay ngắn hạn thì bao nhiêu đồng
ngân hàng không thu về được.
Tỉ lệ mất vốn
ngắn hạn
=
Tổng dư nợ ngắn hạn được xóa nợ
x 100%
Tổng dư nợ ngắn hạn bình quân
Những khoản nợ quá hạn, nếu khách hàng tiếp tục không trả được nợ thì
ngân hàng thực hiện khoanh nợ, xóa nợ và bù đắp nguồn vốn bằng quỹ dự phòng
rủi ro. Xóa nợ đơn giản là một phương pháp quản lý tài chính của ngân hàng chứ
không phải sự thừa nhận về pháp lý rằng người vay không còn nợ ngân hàng nữa.
Ngân hàng có chất lượng cho vay ngắn hạn càng cao thì tỉ lệ này càng nhỏ.
- Tỉ lệ dự phòng:
Tỉ lệ dự phòng =
Dự phòng mất vốn
x 100%
Tổng dư nợ bình quân
Tỉ lệ này được hình thành dựa trên tỉ lệ nợ quá hạn và nợ mất vốn kỳ trước.
Dự phòng mất vốn được trích lập căn cứ vào dư nợ được dự đoán là không có khả
năng thu hồi vốn, theo tỉ lệ quy định. Như vậy, tỉ lệ dự phòng càng thấp càng chứng
tỏ dư nợ có khả năng mất vốn của ngân hàng thấp, chất lượng của các khoản vay tốt.
* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cho vay ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng vốn vay ngắn hạn được thể hiện ở tốc độ luân chuyển vốn
ngắn hạn, hiệu suất sử dụng vốn và khả năng sinh lời của dư nợ cho vay ngắn hạn.
- Vòng quay vốn cho vay ngắn hạn:
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
dụng vốn có hiệu quả.
Bên cạnh đó, chất lượng của cho vay ngắn hạn còn được đánh giá thông qua
lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ cho vay ngắn hạn. Để xem xét chất lượng cho
vay ngắn hạn trên phương diện này, người ta sử dụng hai chỉ tiêu là tỉ lệ sinh lời
ngắn hạn và tỉ lệ lợi nhuận từ cho vay ngắn hạn.
- Tỉ lệ sinh lời ngắn hạn:
Chỉ tiêu tỉ lệ sinh lời ngắn hạn phản ánh một đồng vốn ngắn hạn cho vay thì
thu về được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Tỉ lệ sinh lời = Lợi nhuận từ cho vay ngắn hạn x 100%
SV: Trần Lệ Quyên Lớp: Tài chính doanh nghiệp 49A
23
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
ngắn hạn Tổng dư nợ ngắn hạn
Tỉ lệ sinh lời cao chứng tỏ khoản vay đó có hiệu quả, chất lượng cao, bởi để
đạt được tỉ lệ sinh lời cao thì việc thu nợ và giải quyết nợ quá hạn phải tốt. Tỷ lệ
này cao một phần nói lên kết quả kinh doanh tích cực của ngân hàng, điều này rất
quan trọng vì doanh thu từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng.
- Tỉ lệ lợi nhuận từ cho vay ngắn hạn:
Tỉ lệ lợi nhuận từ cho vay ngắn hạn cho biết lợi nhuận từ hoạt động cho vay
ngắn hạn đóng góp bao nhiêu phần trăm vào tổng thu nhập của ngân hàng, từ đó,
đánh giá chất lượng, vai trò của cho vay ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Tỉ lệ LN từ cho vay
ngắn hạn
=
Lợi nhuận từ cho vay ngắn hạn
x 100%
Tổng lợi nhuận
1.3.4.2. Nhóm chỉ tiêu định tính
* Trên cơ sở pháp lý: Hoạt động cho vay ngắn hạn có chất lượng phải chấp