Thời, thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt - Pdf 26


0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN KIM PHƯỢNG
THỜI, THỂ và CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU
HIỆN
TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 50408

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Nguyễn Minh Thuyết
TS Lê Đông

2.3.4. PHẠM TRÙ THỜI CÓ PHẢI LÀ MỘT PHẠM TRÙ ĐỘC LẬP KHÔNG? 54
2.3.5. THỜI LÀ PHẠM TRÙ CỦA ĐỘNG TỪ HAY CỦA VỊ NGỮ? 55
2.3.6. PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ THỜI LÀ GÌ? 56
2.3.7. PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ THỜI CÓ TÍNH HỆ THỐNG KHÔNG? 59
2.3.8. VỀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ LIÊN QUAN ĐẾN PHẠM TRÙ THỜI-THỂ 60

3
2.4. TIỂU KẾT 63
Chương 3: PHÓ TỪ ĐÃ VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG 65
3.1. PHÂN BIỆT ĐÃ CHỈ THỜI-THỂ VỚI CÁC TỪ ĐÃ ĐỒNG ÂM 65
3.1.1. PHÓ TỪ ĐÃ 65
3.1.2. TÍNH TỪ ĐÃ 66
3.1.3. TRỢ TỪ ĐÃ 66
3.1.4. TÌNH THÁI TỪ ĐÃ 67
3.2. NHỮNG KIẾN GIẢI VỀ TỪ ĐÃ 74
3.2.1. ĐÃ CÓ CHỈ THỜI KHÔNG? 76
3.2.2. ĐÃ BIỂU THỊ THỜI NÀO? 82
3.2.3. ĐÃ BIỂU THỊ THỂ NÀO? 83
3.3. MIÊU TẢ PHÓ TỪ ĐÃ 86
3.3.1. ĐÃ TRONG CÁCH TRI NHẬN THỜI GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT 86
3.3.2. ĐÃ VỚI Ý NGHĨA THỜI 91
3.3.3. ĐÃ VỚI Ý NGHĨA THỂ 98
3.3.4. ĐÃ VỚI Ý NGHĨA TÌNH THÁI 102
3.3.5. CÁCH SỬ DỤNG ĐÃ TRONG TIẾNG VIỆT 104
3.4. ĐÃ VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG: VỪA, MỚI, TỪNG 113
3.4.1. CÁC PHÓ TỪ VỪA, MỚI VÀ VỪA MỚI 113
3.4.2. PHÓ TỪ TỪNG 119
3.5. TIỂU KẾT 122
Chương 4 123
PHÓ TỪ ĐANG VÀ ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG 123

5.4.3. SẼ VỚI Ý NGHĨA TÌNH THÁI 103
5.4.4. CÁCH SỬ DỤNG SẼ 107
5.5. SẼ VÀ CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ĐƯƠNG: SẮP, CHƯA 115
5.5.1. PHÓ TỪ SẮP 115
5.5.2. PHÓ TỪ CHƯA 121
5.6. TIỂU KẾT 201
KẾT LUẬN 203
TÀI LIỆU THAM KHẢO 210

1
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
(1) í nghĩa thời gian và các phƣơng tiện biểu hiện trong tiếng Việt từ
lâu đó đƣợc các nhà ngữ pháp lƣu tâm. Từ những tài liệu đầu tiên viết về ngữ
pháp tiếng Việt của G. Aubaret (1864), Trƣơng Vĩnh Ký (1883) cho tới những
cụng trỡnh xuất bản trong suốt hàng chục năm đầu thế kỷ XX của Trần Trọng
Kim, Bựi Kỷ, Phạm Duy Khiờm (1940), Bùi Đức Tịnh (1952), Phan Khôi
(1955), Nguyễn Lân (1956), Jones Robert B., Jr- and Huỳnh Sanh Thông
(1960), Xtankevich N.V., Byxtrov I.S. (1961), Trƣơng Văn Chỡnh và Nguyễn
Hiến Lờ (1963), Đào Thị Hợi (1965)… đều dành ít nhất một phần bàn về các
phạm trù liên quan đến thời gian. Đặc biệt, trong những thập kỷ gần đây, vấn
đề này lại càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu với những bài viết,
những chuyờn khảo hay luận ỏn của Đinh Văn Đức (1985, 2001), Nguyễn
Anh Quế (1989), Nguyễn Văn Thành (1992, 2003), V.X. Panfilov (1993,

Tất cả những lý do nờu trờn đó thỳc đẩy chúng tôi chọn vấn đề: Thời,
thể và những phƣơng tiện biểu hiện trong tiếng Việt làm đề tài nghiên
cứu cho luận ỏn của mỡnh.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
(1) Mục đích chính của luận án là miờu tả cỏc phú từ biểu hiện ý nghĩa
thời và thể trong tiếng Việt, trên cơ sở đó tỡm lời giải đáp cho những câu hỏi đó
gõy nhiều tranh cói trong vài chục năm nay: Cỏc phạm trự thời và thể cú tồn tại
trong tiếng Việt hay khụng? Nếu cú thỡ chỳng được biểu hiện bằng những
phương tiện ngữ pháp nào? Nếu không có thỡ tiếng Việt biểu hiện cỏc ý nghĩa
thời, thể bằng cỏch gỡ?
(2) Để đạt mục đích nêu trên, luận án phải giải quyết các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
 Làm rừ những đặc điểm cơ bản của các phạm trù thời và thể để vận
dụng vào tiếng Việt.
 Khái quát những chặng đƣờng nghiên cứu thời, thể tiếng Việt từ
trƣớc đến nay.
 Miêu tả cụ thể các phƣơng tiện biểu thị ý nghĩa thời, thể tiếng Việt
trờn phƣơng diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, dựa vào những
ngữ liệu thu đƣợc từ các loại hỡnh văn bản tiếng Việt và từ lời ăn
tiếng nói hằng ngày của ngƣời Việt.
 Hệ thống hoỏ cỏc phú từ biểu thị ý nghĩa thời, thể theo những đặc
trƣng cơ bản của chúng.

3
III. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Với mục đích nói trên, trong phạm vi nghiên cứu của mỡnh, chỳng tụi
hy vọng luận ỏn cú thể cú những đóng góp nhƣ sau:
(1) Về mặt lý luận
 Gúp phần tỡm hiểu chức năng của nhúm phú từ biểu hiện cỏc ý
nghĩa liờn quan đến thời gian trong tiếng Việt trên ba bỡnh diện: kết

(b) Trong hệ thống các phó từ đứng trƣớc vị từ cũn cỏc phú từ đều,
cũng, vẫn, lại, cũn… Tuy nhiên, chức năng cơ bản của chúng không phải là
định vị sự tỡnh trong thời gian. Thờm vào đó, các phó từ thời-thể, theo quan
niệm của chúng tôi, là phải thoả món hai điều kiện: 1) Có khả năng trả lời câu
hỏi: đó P chưa? Và 2) Có khả năng thay thế bằng các phó từ thời, thể khỏc.
Những phú từ trờn khụng thoả món hai điều kiện này. Do vậy, chúng nằm
ngoài phạm vi khảo sát của luận án.
(2) Về nguồn tư liệu
Các tƣ liệu của luận án đƣợc lấy từ hai nguồn chính:
 Các văn bản viết thuộc nhiều thể loại, nhiều loại hỡnh phong cỏch
chức năng khác nhau: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, văn chính luận,
báo chí, văn bản hành chính - công vụ…
 Lời ăn tiếng nói hằng ngày của ngƣời Việt mà chúng tôi ghi chép
đƣợc và ngữ liệu nhận đƣợc từ những điều tra xó hội học với đối
tƣợng là sinh viên sƣ phạm.
Khi thực hiện phƣơng pháp so sánh - đối chiếu, luận án có sử dụng
thêm hai tƣ liệu song ngữ Anh - Việt mà văn bản gốc là những tác phẩm văn
học nổi tiếng thế giới: Love story của E. Segan và Romeo and Juliet của W.
Shakespeare.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản của luận án là phƣơng pháp miờu tả,
đƣợc thực hiện với nhiều cấp độ, từ thấp đến cao.
Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
 Phương pháp điều tra ngôn ngữ:
Đây là phƣơng pháp đƣợc áp dụng để thu thập ngữ liệu. Các phiếu điều
tra đƣợc lấy từ nhiều nguồn tƣ liệu đáng tin cậy với một số lƣợng đủ để tránh

5
những kết luận mang tính chất cảm tính, chủ quan. Phƣơng pháp này đƣợc
tiến hành với những thao tác nhƣ: tập hợp, thống kê, phân loại sơ bộ…

6
những vấn đề trùng lặp do đề tài đó đƣợc nhiều ngƣời đề cập tới. Ngoài khái
niệm về thời và thể, luận ỏn cố gắng phỏc thảo một cỏi nhỡn chung nhất về hệ
thống thời và hệ thống thể trong một số ngụn ngữ, cỏc kiểu ý nghĩa thuộc về
thể, và đặc biệt nhấn mạnh vào mối quan hệ của bộ ba thời – thể – tỡnh thỏi.
Chương 2: Tổng quan tỡnh hỡnh nghiờn cứu thời-thể tiếng Việt
Chƣơng này khái quát những chặng đƣờng nghiên cứu của các tác giả
đi trƣớc về thời và thể. Cách thức trỡnh bày là theo vấn đề, trong đó nhấn
mạnh tới những điểm khác biệt giữa các tác giả, chứ không theo trỡnh tự thời
gian.
Để tránh trỡnh bày dàn trải, trùng lặp, đồng thời để phù hợp với khuôn
khổ quy định cho một luận án tiến sĩ, các chƣơng 3, 4, 5 chủ yếu tập trung
miêu tả ba phó từ điển hỡnh là đó, đang, sẽ. Đây là ba phú từ gõy nhiều tranh
cói nhất trong giới nghiờn cứu. Mỗi chƣơng sẽ miêu tả một từ. Mỗi từ đều
đƣợc khai thác trên những vấn đề chung là: phân biệt nó với các từ đồng âm,
những kiến giải khác nhau về nó, những miêu tả của luận án dựa trên cách tri
nhận thời gian của ngƣời Việt, quy tắc sử dụng của từng từ cụ thể. Trong mỗi
chƣơng, luận án lại trỡnh bày thờm về cỏc đơn vị tƣơng đƣơng với từ chính
đƣợc miêu tả trong chƣơng ấy. Cụ thể nhƣ sau:
Chương 3: Phú từ đó và cỏc đơn vị tƣơng đƣơng
Chƣơng này tập trung miờu tả phú từ đó, trên cơ sở đó trỡnh bày mối
quan hệ giữa đó và cỏc phú từ vừa, mới, từng – cỏc phú từ ứng với ý nghĩa
thời gian quỏ khứ.
Chương 4: Phú từ đang và đơn vị tƣơng đƣơng
Chƣơng này tập trung miờu tả phú từ đang, trên cơ sở đó trỡnh bày mối
quan hệ giữa đang và zờro, một chỉ tố giống với đang ở chỗ là có tần số xuất
hiện tƣơng đối cao trong khung thời gian hiện tại.
Chương 5: Phú từ sẽ và các đơn vị tƣơng đƣơng
Chƣơng này tập trung miêu tả phó từ sẽ, trên cơ sở đó trỡnh bày mối
quan hệ giữa sẽ với sắp và chưa. Cỏc phú từ này giống nhau ở tớnh phi thực

gian trong những sáng tạo tinh thần của con ngƣời. Tuy nhiên, thời gian trong
các sỏng tạo này khụng phải bao giờ cũng trựng với thời gian trong hiện thực
khỏch quan.
Thời gian trong văn học và điện ảnh là thứ thời gian được cảm nhận
bằng tâm lý và mang ý nghĩa thẩm mỹ, là hỡnh thức cảm nhận thế giới của
con người gắn liền với một quan niệm nhất định về thế giới (Trần Đỡnh Sử).
Núi cỏch khỏc, thời gian ở đây không có tính khách quan và tính đơn chiều.
Cái nhanh, chậm, lâu, mau của thời gian do tâm trạng con ngƣời quyết định.
Nếu mang những quy luật của thời gian khách quan vào nghiên cứu thời gian

9
trong thơ, ta sẽ không cắt nghĩa nổi vỡ sao cú thể viết: Sầu đong càng lắc
càng đầy. Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. (Nguyễn Du – Truyện Kiều), hay:
Xuân đang đến nghĩa là xuân đương qua; Xuân cũn non nghĩa là xuõn sẽ già;
Mà xuõn hết nghĩa là tụi cũng mất. (Xuân Diệu – Vội vàng) Đối với các
truyện khoa học viễn tƣởng, ngƣời ta sẵn lũng tin vào một tƣởng tƣợng nào
đó của ngƣời viết về những gỡ sẽ diễn ra trong tƣơng lai. Trong điện ảnh,
ngƣời ta không nhất thiết phải làm phim theo trỡnh tự con ngƣời sinh ra rồi
mới lớn lên, trƣởng thành, già đi và chết… Nghĩa là cỏi đại lượng vật chất
không ngừng biến đổi, diễn ra một chiều, một đi không trở lại ấy có thể bất
biến, đa chiều trong điện ảnh và văn học.
1.1.2. SỰ THỂ HIỆN THỜI GIAN TRONG NGễN NGỮ
Là phƣơng tiện để giao tiếp và tƣ duy, ngôn ngữ dĩ nhiên chịu sự tác
động của quy luật thời gian nói chung, nhƣng cũng phản ánh các đặc tính của
thời gian theo cách riêng của nó. Thời gian ngôn ngữ là thời gian do ngụn ngữ
tạo ra, chỉ cú trong ngụn ngữ.
Theo J. Lyons, thời gian khỏch quan là thời gian siờu ngụn ngữ
(metalingiustic tense), cũn thời gian ngữ phỏp hoỏ là thời gian ngụn ngữ
(language’s tense).
Ảnh hƣởng của thời gian tới ngôn ngữ trƣớc hết thể hiện ở tính hỡnh

ta biết cỏc ý nghĩa về thời gian. Một cõu chuyện do ngƣời khác kể lại cho biết
các sự kiện trong câu chuyện đó diễn ra rồi. Một câu hỏi nhƣ: Anh về đây làm
gỡ? thể hiện rằng anh đó về rồi. Hay: Nú khụng tỡm thấy bỳt có nghĩa là nó
đó tỡm bỳt nhƣng không thấy. Hoặc: Cô ấy định đến nhà tôi có nghĩa là cô ấy
chƣa đến. Sao anh lại núi như thế?, có nghĩa là anh đó núi rồi. Bao giờ anh
về? có nghĩa là hiện nay anh chƣa về. Cũn Anh về bao giờ? lại cú nghĩa là anh
đó về rồi…
Nói chung, thời gian đƣợc phản ánh vào trong ngôn ngữ bằng nhiều
hỡnh thức đa dạng. Thời gian tác động đến nhiều mặt của ngôn ngữ: đến đoản
ngữ, đến nghĩa của câu, đến tổ chức phát ngôn, đến tổ chức diễn ngôn, đến
phạm trù thể, phạm trù thời… Khó nhận biết hơn nhƣng lại vô cùng quan
trọng xét trên phƣơng diện ngữ pháp học và loại hỡnh học là việc ý nghĩa thời
gian đƣợc biểu hiện thông qua phạm trù thời và thể của động từ. Đó chính là
thời gian ngữ pháp. (Phần này xin bàn chi tiết ở mục 1.2. của luận ỏn).
1.1.3. THỜI GIAN TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI KHễNG GIAN

11
Thông thƣờng, thời gian vẫn đƣợc xếp sóng đôi với không gian và ít ai
đặt vấn đề xem giữa chúng cái nào quan trọng hơn. Trong tiếng Hán và tiếng
Việt, nói tới vũ trụ cũng tức là núi tới thời gian và khụng gian. Hiểu theo lối
chiết tự, vũ là khụng gian, trụ là thời gian [65, tr843-844]. Đến Einstein, thời
gian đƣợc xem là chiều thứ tƣ, phụ thuộc vào không gian. Tuy nhiên, trong
ngữ pháp, thứ bậc không gian – thời gian đƣợc phản ánh theo một cách thức
riêng. Quine phàn nàn rằng dƣờng nhƣ trong ngữ pháp, ngƣời ta đó cú một
“thái độ thiên vị đáng bực mỡnh trong cỏch xử lý thời gian” (Dẫn theo Cao
Xuân Hạo, [41, tr2]). Chỉ có thời gian mới đƣợc phản ánh thành phạm trự thời
trong ngụn ngữ học, và những ngôn ngữ có phạm trù này, bắt buộc phải định
vị một sự kiện trong thời gian thông qua sự biến đổi dạng thức của động từ,
hoặc bằng một cách nào đó, bất kể câu nói đó cú cỏc phƣơng tiện khác để
biểu hiện cái thời gian thực tế. Phan Khôi quan niệm:

Theo G. Yule, “chỉ xuất là một thuật ngữ chuyờn mụn (gốc từ Hy Lạp),
nú cú nghĩa là chỉ ra thông qua ngôn ngữ” [152, tr29]. Theo Lyons, thuật ngữ
này đƣợc đƣa ra để “xử lý các đặc điểm định hƣớng của ngôn ngữ liên quan
tới thời gian và không gian” [72, tr436].
Ba phạm trù chỉ xuất truyền thống là chỉ xuất nhân xƣng, chỉ xuất
không gian và chỉ xuất thời gian.
Theo Đỗ Hữu Châu, “nói chỉ xuất thời gian là nói đến sự chỉ xuất bằng
cách định vị một thời gian nào đó so với thời điểm mốc. Những biểu thức nào
không biểu thị sự đối chiếu với thời điểm mốc thỡ khụng phải là biểu thức chỉ
xuất thời gian” [16, tr336]. Theo Cao Xuân Hạo, cách diễn đạt ý nghĩa thời
của ngụn ngữ là một cỏch diễn đạt trực chỉ (deictic): lấy tỡnh huống phỏt
ngụn, trong đó có cả thời điểm (thời hiện tại) làm căn cứ; một số ngôn ngữ có
thể lấy những thời điểm khác làm căn cứ (nhưng những thời điểm này lại
được quy chiếu vào thời điểm phát ngôn) [41, tr3]. Với cỏch diễn giải nhƣ
trên của hai tác giả, thuật ngữ chỉ xuất trựng với trực chỉ.
Theo quan điểm của Rechenbach, các tham tố của chỉ xuất thời gian bao gồm:
 Thời điểm nói S (point of speech)
 Thời điểm chiếu vật R (point of reference)
 Thời điểm của sự kiện E (cũn gọi là khung sự kiện: event frame)
 Hƣớng: đi trƣớc, trùng hợp, đi sau
 Khoảng cách: xa và gần [Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 16, tr338].
Nhƣ vậy, khi nói tới thời gian là nói tới một điểm cần phải định vị so
với một điểm mốc nào đó. Một câu nói nhƣ Ngày mai ăn phở không mất tiền

13
mói mói là một điều không bao giờ diễn ra, và ta vẫn phải trả tiền phở khi ăn
ở quán ấy vào bất cứ ngày nào, nếu ta không gắn ngày mai với một thời điểm
mốc nào đó. Nghĩa là lúc nào ta cũng ở vào tỡnh trạng sớm hơn một ngày so
với cái ngày ăn phở miễn phí ấy. Câu này tƣơng tự nhƣ câu Sẽ quay lại sau
một tiếng [ví dụ của G. Yule, 152, tr38] dán trƣớc cửa một căn phũng. Ta

ngữ phỏp và phƣơng tiện hỡnh thức để biểu hiện nó; thêm nữa, cũng cần có
sự đối lập ít nhất là của hai vế – hai lớp từ đối với phạm trù phân loại, hay hai
hỡnh thỏi đối với phạm trù cấu tạo hỡnh thỏi”. Tỏc giả cũng khẳng định:
“Nếu một ngôn ngữ không có phƣơng thức biểu hiện ngữ pháp cho một ý
nghĩa nào đấy, thỡ nú cũng khụng cú phạm trự ngữ phỏp tƣơng ứng” [57,
tr108].
Ở Việt Nam, cũng cú nhiều tỏc giả đề cập đến vấn đề phạm trù ngữ
pháp nhƣ Nguyễn Kim Thản (1964), Nguyễn Minh Thuyết (1995)… Về cơ
bản, các quan niệm này thống nhất với V.B. Kasevich.
Núi một cỏch khỏi quỏt, khỏi niệm phạm trự ngữ phỏp đƣợc hiểu nhƣ
sau:
(1) Phạm trự ngữ phỏp là thể thống nhất giữa nội dung ngữ phỏp (ý
nghĩa ngữ phỏp) và hỡnh thức ngữ phỏp.
(2) Một phạm trự ngữ phỏp cần cú ớt nhất hai ý nghĩa đối lập thể hiện
bằng hai hỡnh thức đối lập nhau.
Theo ngữ pháp truyền thống, phạm trù ngữ pháp thƣờng đƣợc chia làm
hai loại:
 Phạm trự hỡnh thỏi học: các phạm trù thời, thể, thức, dạng, ngôi
(của động từ) và giống, số, cách (của danh từ)… Đây là những
phạm trù ngữ pháp phổ biến của các ngôn ngữ châu Âu.
 Phạm trự cỳ phỏp học: phạm trù chức năng cú pháp (phạm trù chủ
ngữ, vị ngữ, định ngữ… trong tiếng Việt) và phạm trù kết cấu cú
pháp (các kiểu kết cấu ngữ pháp, các kiểu câu…)
Ngƣời ta chƣa thống kê đƣợc con số chính xác về các phạm trù ngữ
pháp trong tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Tuy nhiên, có thể khẳng định số
lƣợng các phạm trù ngữ pháp nói chung không nhiều và cũng không đồng đều
giữa các ngôn ngữ.
1.2.2. PHẠM TRÙ THỜI (TENSE, TEMPS)
1.2.2.1. Quan niệm về phạm trự thời


thời tuyệt đối (nhƣ trong tiếng Anh và tiếng Pháp), một loại là hỡnh thỏi
riờng. Loại thứ hai lại đƣợc tiếp tục phân chia nhỏ hơn:

16
- Loại có tính chất tƣơng đối thuần tuý, nghĩa là thể hiện, chẳng hạn, ý
nghĩa xảy ra trƣớc hoặc xảy ra sau một cách tự thân, không cần biết là so với
thời điểm cụ thể nào (nhƣ trong tiếng Nhật, có thời xảy ra trước và thời không
xảy ra trước).
- Loại cú tớnh chất hỗn hợp, vừa tuyệt đối vừa tƣơng đối (nhƣ trong
tiếng Đức có thời Plusquamperfekt, futurum II và tiếng Pháp có thời plus-
que-parfait, passé anterieur) [57, tr127].
Trên cơ sở phân biệt thời điểm phát ngôn và thời điểm mốc, B. Comrie
(1978) cho rằng:
 Thời tuyệt đối: thể hiện sự đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện với
thời điểm phát ngôn.
 Thời tƣơng đối: thể hiện sự đối chiếu thời gian diễn ra sự kiện với
thời điểm nhất định nào đó đƣợc chọn làm mốc.
W. Frawley (1992) thỡ quan niệm sự phõn chia hai thời cơ bản nhƣ trên
là tƣơng ứng với sự phân chia thời gian chủ quan và thời gian khỏch quan.
Trong đó:
 Thời tuyệt đối: là thời gian chủ quan (lấy thời điểm nói làm thời
điểm qui chiếu).
 Thời tƣơng đối: là thời gian khách quan (lấy một thời điểm nào đó,
không phải thời điểm nói làm thời điểm qui chiếu).
Gọi thời gian chủ quan là thời tuyệt đối vỡ nú chi phối mọi hỡnh thức
chỉ xuất thời gian, cả chủ quan lẫn khỏch quan.
Đối với V.X. Panfilov (1993), thời tuyệt đối là thời cú khuynh hướng
thiên về thời điểm của lời nói, cũn thời tƣơng đối là hướng về một điểm bắt
đầu tính khác. ễng cũn nhấn mạnh:
Việc phân xuất ra thời này hay thời khác, tuyệt đối hay tƣơng

(3a) Thời tƣơng lai tƣơng đối: E đi sau R
- Those about to sing were asked to go onto the stage.
(Những ngƣời chuẩn bị hát đƣợc yêu cầu lên sân khấu).
Trong các công thức trên, E là thời gian của sự kiện (time of event), R
là điểm quy chiếu (time of referent).

18
Các động từ đó chia trong những vớ dụ trờn cú thời điểm quy chiếu
hoàn toàn là thuộc về quá khứ. Để giải thích thời điểm quy chiếu đó đƣợc mó
hoỏ bởi hỡnh thức phõn từ quỏ khứ, phải tỡm thời điểm quy chiếu trong ngữ
cảnh. Thời điểm quy chiếu trong (1a) là thời điểm mà ngƣời hát đƣợc yêu cầu
yên lặng và quá khứ phân từ định vị hành động của ngƣời hỏt nhƣ là bao phủ
thời điểm quy chiếu thời gian mà họ đƣợc yêu cầu yên lặng. Trong (2a), thời
điểm quy chiếu là thời gian mà họ đƣợc yêu cầu rời sân khấu và phân từ định
vị hành động của ngƣời hát là đi trƣớc thời điểm quy chiếu. Trong (3a), thời
điểm quy chiếu là thời điểm họ đƣợc yêu cầu lên sân khấu, và phân từ định vị
hành động của ngƣời hát đi sau thời điểm quy chiếu này. Thay đổi thời của
động từ đƣợc chia trong các ví dụ trên thỡ thời điểm quy chiếu của phân từ
cũng sẽ thay đổi. Vd:
(1b) Those singing will be told to be quiet.
Những ngƣời đang hát sẽ yên lặng.
(2b) Those having sung will be asked to leave the stage.
Những ngƣời đó hỏt sẽ đƣợc yêu cầu rời sân khấu.
(3b) Those about to sing will be asked to go onto the stage.
Những ngƣời chuẩn bị hát sẽ đƣợc yêu cầu lên sân khấu.
Ở đây, toàn bộ thời điểm quy chiếu lại thuộc về tƣơng lai.
Không xa lạ với quan điểm của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài,
Nguyễn Minh Thuyết (1998) khẳng định: “Thời là phạm trù ngữ pháp của
động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với
một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói”. Khi phạm trù thời biểu thị quan

Nói cụ thể hơn, đối với tiếng Việt, không phải tính từ không có quan hệ
với thời gian bởi tính từ không chỉ hoạt động. Chúng ta đều biết, một tính chất
dù tĩnh đến mấy cũng không đứng im. Vẫn có thể có các kết hợp: đó khoẻ, sẽ
lớn, đỏ lắm rồi… Và vỡ vậy, nếu tiếng Việt cú phạm trự thời thỡ cũng khụng
cú lý do gỡ để cho rằng đây chỉ là phạm trù của riêng từ loại động từ. Chỉ cần
các từ ấy là yếu tố vị tính. Điểm này hoàn toàn khác với các ngôn ngữ Ấn-Âu.
Tớnh từ và danh từ trong cỏc ngụn ngữ Ấn-Âu khụng cú phạm trự thời.
1.2.2.3. Vai trũ của phạm trù thời trong cách xác định thời gian
Sự giải thích đầy đủ về cấu trúc thời gian của một văn bản luôn đũi hỏi
nhiều nguồn thụng tin khỏc nhau, mà trong đó phạm trù thời chỉ là một. Phạm
trù thời dƣờng nhƣ có vai trũ rất nhỏ trong việc thành lập cấu trúc thời gian

20
cho văn bản song lại là một phần quan trọng của bất kỳ sự đánh giá nào về
mặt ngữ phỏp và loại hỡnh của một ngụn ngữ.
Núi cỏch khỏc, thời, với tƣ cách là một phạm trù ngữ pháp, chỉ là một
trong nhiều cách mà ngôn ngữ có thể truyền đạt những thông tin liên quan đến
thời gian. Dĩ nhiên, so với các phƣơng tiện từ vựng thỡ cỏch truyền đạt này
không thể phong phú bằng. Và, quả thực, chẳng cú gỡ đáng ngạc nhiên khi
bất kỳ ngôn ngữ nào cũng sử dụng phƣơng tiện từ vựng để định vị thời gian
nhiều hơn là dùng phƣơng tiện ngữ pháp. Song, trong những trƣờng hợp nhất
định, thời có thể kết hợp với các phƣơng tiện từ vựng để làm rừ cỏc ý nghĩa
quá khứ, hiện tại, tương lai của sự kiện. Vớ dụ:
- On Tuesday, Mary went to the beach.
- On Tuesday, Mary will go to the beach.
Chính cách chia động từ ở thời quá khứ (câu thứ nhất) và tƣơng lai (câu
thứ hai) đó giỳp chỳng ta xỏc định rừ Tuesday là thứ ba tuần trƣớc (đó qua)
hay thứ ba tới (chƣa đến). Vỡ vậy, hai cõu trờn cú thể dịch là:
- Thứ ba vừa rồi, Mary (đó) đi biển.
- Thứ ba này, Mary sẽ đi biển.

hiện tại, và cùng với đuôi - ing trong động từ to run, đánh dấu thể tiếp diễn.
Tiếng Việt là một ngụn ngữ khụng biến hỡnh, động từ không chia theo
thời nhƣ các ngôn ngữ Ấn-Âu. Tiếng Việt cũng không có những động từ
riêng chuyên dùng để đánh dấu thời nhƣ to be của tiếng Anh hay etre của
tiếng Pháp. Tuy nhiên, tiếng Việt vẫn có thể có thời, nếu nhƣ tiếng Việt thoả
món cỏc điều kiện để hỡnh thành một phạm trự ngữ phỏp nhƣ chúng tôi đó
trỡnh bày ở trờn.
1.2.2.4. Hệ thống thời trong một số ngụn ngữ
Theo cỏch phõn loại của Arixtote, phạm trự thời thuộc vào những
phạm trự ngẫu nhiờn, do vậy nó là cơ sở xuất hiện của giả thuyết cho rằng
các phạm trù ngữ pháp là những đặc điểm mang tính phổ quát của mọi ngôn
ngữ (Dẫn theo Lyons [72, tr432]). Nói cách khác, đó là ngụn ngữ, nhất thiết
phải cú cỏc phạm trự ngữ phỏp, và do vậy, nhất thiết phải cú phạm trự thời.
Cựng với tiến trỡnh vận động của lịch sử, nhƣ ta đó thấy sau này, giả
thuyết trờn đây là không đúng.
Nhƣ đó núi, sự phõn chia thời gian thành quỏ khứ/ hiện tại/ tương lai là
sự phõn chia xuất phỏt từ vật lý học và triết học. Cũn trong ngụn ngữ học, số
lƣợng các ngôn ngữ có phạm trù thời không nhiều, và không phải ngôn ngữ
nào có thời cũng phân chia phạm trù thời thành sự khu biệt tam phõn nhƣ vậy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status