1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
oOo
TRẦN THỊ THU TRANG THÀNH PHẦN ĐỘNG VẬT KHÔNG XƢƠNG SỐNG Ở MỘT SỐ THỦY VỰC
TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CHÚNG LÀM SINH
VẬT CHỈ THỊ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG NƢỚC CỦA THỦY VỰC LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI – 2012 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
oOo
1.1.1. Trên thế giới 3
1.1.2. Ở Việt Nam 7
1.2. Tình hình nghiên cứu sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan trắc và
đánh giá chất lƣợng nƣớc 12
1.2.1. Trên thế giới 12
1.2.2. Ở Việt Nam 19
Chƣơng 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.2.1. Phƣơng pháp thu thập vật mẫu ngoài thực địa 25
2.2.2. Phƣơng pháp phân tích vật mẫu trong phòng thí nghiệm 28
2.2.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu 29
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1. Sơ lƣợc về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 30
3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 30
3.1.1.1. Vị trí địa lý 30
3.1.1.2. Địa hình 31 4
3.1.1.3. Khí hậu, thời tiết 31
3.1.1.4. Kinh tế xã hội vùng đệm 32
3.1.2. Sơ lƣợc các điểm thu mẫu 33
3.2. Đặc điểm thành phần ĐVKXS ở nƣớc (không kể nhóm côn trùng) tại các thủy vực
nghiên cứu 38
3.2.1. Thành phần loài 38
3.2.2. Biến động thành phần loài ĐVKXS đã gặp (không kể nhóm côn trùng) theo các
điểm thu mẫu 5144
3.3. Kết quả sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá chất
Bảng 5: Tổng hợp thành phần ĐVKXS đã gặp ở các thủy vực nghiên cứu 41
Bảng 6: Danh sách các họ ĐVKXS cỡ lớn đã gặp tại khu vực nghiên cứu nằm trong hệ
thống tính điểm BMWP
VIET
47
Bảng 7: Chỉ số sinh học tại điểm S1 48
Bảng 8: Chỉ số sinh học tại điểm S2 49
Bảng 9: Chỉ số sinh học tại điểm S3 50
Bảng 10: Chỉ số sinh học tại điểm S5 51
Bảng 11: Chỉ số sinh học tại điểm S6 52
Bảng 12: Chỉ số sinh học tại điểm S7 53
Bảng 13: Chỉ số sinh học tại điểm S8 54
Bảng 14: Chỉ số sinh học tại điểm S9 55
Bảng 15: Chỉ số sinh học tại điểm S10 56
Bảng 16: Chỉ số sinh học tại điểm S11 57
Bảng 17: Chỉ số sinh học tại điểm S12 58
Bảng 18: Chỉ số sinh học tại điểm S13 59
Bảng 19: Chỉ số sinh học tại điểm S14 60
Bảng 20: Chỉ số sinh học tại điểm S15 60
Bảng 21: Chỉ số sinh học tại điểm S16 61
Bảng 22: Mức độ ô nhiễm tƣơng ứng với chỉ số ASPT tại các điểm thu mẫu 62
Hình 1: Sơ đồ các điểm thu mẫu thuộc Vƣờn Quốc Gia Ba Vì 27
Hình 2: Tỉ lệ thành phần loài ĐVKXS ở nƣớc thu đƣợc tại các thủy vực nghiên cứu . 43
Hình 3: Biến động thành phần loài tại các điểm thu mẫu 44 6
Hình 4: Biểu đồ thể hiện chỉ số ASPT của các điểm thu mẫu 63
ĐVĐ
: Động vật đáy
ĐVKXS
: Động vật không xƣơng sống
ĐVN
: Động vật nổi
EBI
: Chỉ số sinh học mở rộng (Extended Biotic Index)
EC
: Các nƣớc thuộc cộng đồng Châu Âu (European Community)
EQI
: Chỉ số chất lƣợng sinh thái (Ecological Quality Index)
IBG
: Chỉ số sinh học toàn cầu (Global Biotic Index)
RIVPACD
: Hệ thống phân loại và dự báo ĐVKXS ở sông (River Inverterbrate
Prediction And Classification System
TBI
: Chỉ số sinh học Trent (Trent Biotic Index) 7
TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
VQG
: Vƣờn Quốc Gia MỞ ĐẦU
nghiên cứu và ứng dụng các chỉ thị sinh học còn chƣa nhiều. Do vậy, để góp phần tìm
hiểu về ĐDSH và đánh giá chất lƣợng nƣớc thông qua sinh vật chỉ thị là ĐVKXS cỡ
lớn tại một số thủy vực điển hình thuộc Vƣờn Quốc gia Ba Vì, chúng tôi đã thực hiện
đề tài: “Thành phần Động vật không xương sống ở một số thủy vực tại Vườn Quốc
gia Ba Vì và khả năng sử dụng chúng làm sinh vật chỉ thị đánh giá chất lượng nước
của thủy vực” nhằm mục đích:
1. Điều tra, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thành phần ĐVKXS ở một số thủy vực
thuộc Vƣờn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội.
2. Sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lƣợng môi trƣờng
nƣớc.
Trên cơ sở các kết quả thu đƣợc, chúng tôi rút ra những nhận xét về hiện trạng
chất lƣợng nƣớc tại các thủy vực nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm giảm
thiểu mức độ ô nhiễm của thủy vực.
Luận văn là một phần kết quả của đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mang mã
số QG-11-19 do PGS.TS. Nguyễn Văn Vịnh làm chủ nhiệm. Xin cảm ơn PGS.TS.
Nguyễn Văn Vịnh đã cho phép chúng tôi sử dụng kết quả của đề tài để xây dựng lên
luận văn này. Do thời gian còn hạn hẹp, kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa 9
học còn chƣa nhiều, nên luận văn chắc chắn khó tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi
kính mong nhận đƣợc sự ủng hộ và đóng góp ý kiến chân thành của các Thầy Cô giáo,
các anh chị và các bạn. Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ĐVKXS nƣớc ngọt trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới
Những nghiên cứu về thủy sinh học nƣớc ngọt đã có mầm mống từ thời cổ đại
Vinberg (1966). Các nghiên cứu của các tác giả này đã góp phần xây dựng cơ sở lý
luận về chu trình vật chất trong thủy vực, quan hệ giữa các quá trình lý, hóa, sinh học
diễn ra trong thủy vực, đƣa thủy sinh học cũng nhƣ hồ ao học lên một bƣớc phát triển
mới. [5]
Vào những năm cuối thế kỷ XX, đối tƣợng đƣợc các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu chủ yếu là các nhóm ĐVKXS nƣớc ngọt nhƣ lớp chân bụng (Gastropoda),
lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia), lớp Giáp xác (Crustacea)… trong khi đó các nghiên cứu về
côn trùng nƣớc (Insecta) vẫn còn để ngỏ, ít đƣợc chú ý đến. Cùng với sự phát triển của
khoa học kỹ thuật, nhóm này đã đƣợc nghiên cứu chuyên sâu hơn và đến nay đã ghi
nhận: Côn trùng thủy sinh có 11 bộ sống ở nƣớc trong một giai đoạn của vòng đời hay
cả vòng đời, bao gồm: Phù du (Ephemeroptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh úp
(Plecoptera), Chuồn chuồn (Odonata), Cánh nửa (Hemiptera), Cánh cứng (Coleoptera),
Cánh vảy (Lepidoptera), Cánh lông (Trichoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh gân
(Neuroptera) và Cánh màng (Hymenoptera). [71]
Năm 1983, khóa định loại côn trùng thủy sinh đến họ đƣợc xây dựng bởi nhà
khoa học McCafferty, xác định đƣợc 10 bộ côn trùng thủy sinh với tổng cộng 139 họ.
Trong đó, Ephemeroptera: 17 họ, Odonata: 11 họ, Plecoptera: 9 họ, Hemiptera: 17 họ, 11
Megaloptera: 2 họ, Lepidoptera: 4 họ, Coleoptera: 24 họ, Trichoptera: 18 họ, Diptera:
36 họ và Neuroptera chỉ có 1 họ. [71]
Cũng một nghiên cứu tại khu vực Bắc Mỹ, Merritt R. W. và Cummins K. W.
(1996) đã đƣa ra hệ thống phân loại đến giống côn trùng thủy sinh và bán thủy sinh,
đặc biệt ở bộ Trichoptera, Diptera (các họ Chironomidae, Simuliidae, Culicidae và
Tipulidae). Đồng thời, các tác giả đã đƣa ra hệ thống phân loại của bộ Collembola và
Orthoptera sống ở nƣớc. [43]
Không chỉ dừng lại ở các nƣớc Châu Âu, Châu Mỹ, những công trình nghiên
cứu về Rotatoria, Crustacea, Insecta… đã mở rộng tại khu vực Đông Nam Á, có thể
2007), về ĐVN đã thu đƣợc 118 loài, thuộc 61 giống, 31 họ thuộc các nhóm Crustacea
(Copepoda, Brachiopoda, và Ostracoda), Eurotatorea, Protozoa. Về ĐVKXS cỡ lớn
sống đáy, đã thu đƣợc 79 taxa. Trong đó, côn trùng là nhóm loài giàu loài hơn cả và
xuất hiện ở hầu hết các điểm thu mẫu, các đại diện của ngành thân mềm cũng xuất hiện
ở 18 điểm thu mẫu. Tiếp đến là lớp Giun ít tơ (Oligochaeta), chủ yếu là hai họ
Tubificidae và Naididea đã tìm thấy ở 14 điểm thu mẫu. Tổng hợp các kết quả nghiên
cứu của chƣơng trình này đã đƣa ra các khóa định loại ĐVKXS ở nƣớc thuộc lƣu vực
sông Mê Kông. Những tài liệu rất hữu ích này có vai trò quan trọng trong công tác định
loại ĐVKXS nƣớc ngọt ở nƣớc ta cũng nhƣ các nƣớc lân cận. [65]
Năm 2002 – 2008, một dự án quy mô lớn có tên “Freshwater Animal Diversity
Assessment (FADA)” đƣợc thực hiện dƣới sự tài trợ của nhiều tổ chức nhƣ: Tổ chức
bảo tồn ĐDSH (CDB), Viện nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS)… và sự quy tụ của
163 nhà khoa học trên toàn thế giới. Mục tiêu của dự án này là đánh giá tổng quan về
mức độ ĐDSH ở bậc giống và loài động vật, thực vật trong các hệ sinh thái nƣớc ngọt
trên thế giới [23]. Một số các nhà khoa học tham gia nghiên cứu nhƣ: Darren C. J. Y.,
Peter K. L. Ng., et al. (Crustacea: Decapoda: Brachyura) [26], De Grave S., Cai Y.,
Anker A. (Crustacea: Decapoda: Caridea) [31], De Moor F. C., Ivanov V. D. (Insecta:
Trichoptera) [32], Vincent J. K. et al (Insecta: Odonata) [71], Helen M. Baber-James et 13
al. (Insecta: Ephemeroptera) [37], Kết quả nghiên cứu đã mô tả 125.531 loài động vật
nƣớc ngọt, chiếm 9,5% tổng số loài động vật đƣợc công nhận trên toàn cầu (1.324.000
loài): trong đó Insecta chiếm ƣu thế với: 75.874 loài (chiếm 60,4%); động vật có xƣơng
sống: 18.235 loài (chiếm 14,5%); Crustace: 11.990 loài (chiếm 10%); Arachnida: 6.149
loài, (chiếm 5%); Mollusca: 4.998 loài (chiếm 4%); Rotifera: 1.948 loài (chiếm 1,6%),
Annelida: 1.761 loài (chiếm 1,4%), Nematoda: 1.808 loài (chiếm 1,4%),
Platyhelminthes (Turbellaria: 1.297 loài, chiếm 1%); số ít là Collembola và các nhóm
khác nhƣ Bryozoa, Tardigrada. [24]
năm 1866, lần đầu tiên Wattebled mới khảo sát trai ốc nƣớc ngọt vùng Trung Bộ (Huế)
và 20 năm sau mới lại có các nghiên cứu về nhóm này ở Bắc Việt Nam của Morlet
(1886), Mabille (1887), Dautzenberg và Hamonville (1887). [6]
Tuy nhiên, các nghiên cứu về thành phần loài trai ốc nƣớc ngọt Việt Nam thời
kỳ trƣớc Cách mạng còn nhiều vấn đề về phân loại học chƣa rõ ràng, vị trí phân loại,
danh pháp phân loại của nhiều loài còn có nhẫm lẫn, nhiều loài mới mô tả còn thiếu
căn cứ. Chính vì vậy, danh mục thành phần loài trai ốc nƣớc ngọt nƣớc ta trƣớc đây
còn chƣa ổn định, số loài công bố thay đổi qua từng thời gian, sau các nghiên cứu tu
chỉnh phân loại học.
Trong nhóm giáp xác, riêng nhóm tôm cua đƣợc nghiên cứu nhiều hơn về thành
phần loài. Có thể kể đến các nghiên cứu của A.M. Edwards đã mô tả loài cua nƣớc
ngọt Thelphusa longipes A.M. Edwards cho Côn Đảo; De Man (1898) tìm thấy 3 loài ở
Việt Nam; Rathbun (từ 1902 – 1906) mô tả 15 loài trong đó có 11 loài ở Nam Việt
Nam và 4 loài ở Bắc Việt Nam, thành phần loài này sau đó còn đƣợc Balss (1914) bổ
sung thêm 2 loài. Cho tới cuối thời kỳ trƣớc Cách mạng, thành phần loài cua nƣớc ngọt
ở cả Việt Nam đã biết gồm 24 loài trong đó ở Bắc Việt Nam có 4 loài. [6]
Dẫn liệu về tôm nƣớc ngọt ở Việt Nam đƣợc De Man công bố lần đầu tiên vào
năm 1904 rất nghèo nàn với chỉ 3 loài. Thành phần loài tôm nƣớc ngọt sau đó đƣợc 15
Sollaud (1914) bổ sung thêm 2 loài và Bovier (1904, 1920, 1925) bổ sung thêm 3 loài
trong đó có 2 loài tìm thấy ở Bắc Việt Nam. [6]
Đối với nhóm động vật nổi nƣớc ngọt, các nghiên cứu trong thời kỳ trƣớc Cách
mạng còn ít ngay cả về thành phần loài. Thành phần loài giáp xác nhỏ trong ĐVN ở
Bắc Việt Nam hầu nhƣ chƣa biết, ngoài hai thông báo nhỏ của Richard (1894) về 11
loài giáp xác nhỏ tìm thấy trong các thủy vực nƣớc ngọt ở Lào Cai và của Brehm
(1952) về một dạng giáp xác chân chèo mới tìm thấy ở sông vùng Hải Dƣơng. Ở vùng
phía Nam Việt Nam, các công trình nghiên cứu của Daday (1907) và Stingelin (1905)
(chiếm 73-88%), đa số là nhóm Rotatoria; ĐVĐ (Zoobenthos) chỉ chiếm từ khoảng 12-
27%. [17]
Năm 1999, Darren C. J. Yeo và Nguyễn Xuân Quýnh đã mô tả 1 loài cua mới
thuộc giống Somanniathelphusa ở Việt Nam [29]. Cũng trong năm này, cùng với Cai
Y. và Peter K. L. Ng., Nguyễn Xuân Quýnh đã mô tả 1 loài tôm mới cho miền Bắc
Việt Nam với tên khoa học là Caridina clinata. [74]
Đến năm 2001, Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải đã bổ sung và hoàn thiện việc
định loại, mô tả vùng phân bố các nhóm giác xác nƣớc ngọt trong “Động vật chí Việt
Nam, tập 5”. Đây đƣợc xem là tài liệu đầy đủ nhất về tôm (Palaemonidae), cua
(Parathelphusidae, Potamidae), giáp xác râu ngành (Cladocera), giáp xác chân chèo
(Copepoda – Calanoida) nƣớc ngọt ở Việt Nam hiện nay. [3]
Kết quả phân tích các mẫu giáp xác nƣớc ngọt thu đƣợc ở suối vùng A Lƣới và
suối VQG Cúc Phƣơng, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2002) đã công bố 2 loài
cua mới thuộc họ Potamidae ở Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm khu hệ cua
suối ở Việt Nam. [4]
Công trình nghiên cứu về nhóm côn trùng thủy sinh của Nguyễn Văn Vịnh
(2003) ở 55 điểm của Việt Nam đã mô tả 102 loài thuộc 50 giống, 14 họ 17
Ephemeroptera, đồng thời, tác giả cũng xây dựng khóa định loại đến loài của bộ
Ephemeroptera [48]. Đến năm 2005, tác giả cùng các cộng sự đã mô tả thêm 2 loài mới
thuộc họ Heptageniidae, bộ Ephemeroptera ở Việt Nam [49]. Năm 2006, tác giả đã bổ
sung thêm 3 loài thuộc họ Ephemerellidae, bộ Ephemeroptera. Các nghiên cứu trƣớc
cũng đã xác định đƣợc 5 loài mới thuộc họ Ephemerellidae tại Việt Nam [50].
Từ năm 2006 đến năm 2007, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và
cộng sự về thành phần ĐVKXS ở nƣớc sông Đáy, sông Nhuệ (thuộc địa phận tỉnh Hà
Nam) đã xác định đƣợc 150 loài thuộc 70 họ, 11 lớp, 6 ngành ĐVKXS (Rotatoria,
Arthropoda, Mollusca, Annelida, Coelenterata, Tardigrada) [47],[56], [57].
thế là Crustacea (27,7%), Rotatoria (21,4%), Insecta (19,9%) và Gastropoda (11,2%).
Trong đó, ĐVN có 92 loài; ĐVĐ là 114 loài. [14]
Gần đây nhất, năm 2011, Nguyễn Xuân Quýnh cùng với các nhà khoa học nƣớc
ngoài đã mô tả 3 loài cua mới thuộc giống Indochinamon Yeo & Ng, 2007 (Crustacea:
Brachyura: Potamoidea: Potamidae) ở Việt Nam cùng với việc mô tả lại loài Ranguna
(Ranguna) kimboiensis Dang, 1975. Loài Indochinamon kimboiensis Dang, 1975 đƣợc
cho là loài hiếm gặp ở nƣớc ta đã đƣợc mô tả lại do mẫu gốc của I. kimboiensis đã bị
thất lạc. I. bavi n. sp. thu đƣợc tại VQG Ba Vì (Hà Nội) và I. phongnha n. sp. ở Phong
Nha (Quảng Bình) đƣợc liên hệ với I. kimboiensis, nhƣng có một vài đặc điểm khác
biệt. [67]
1.2. Tình hình nghiên cứu sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan
trắc và đánh giá chất lƣợng nƣớc
1.2.1. Trên thế giới
- Ở các nƣớc Châu Âu
Đánh giá và giám sát chất lƣợng nƣớc ngọt bằng ĐVKXS cỡ lớn đã đƣợc quan
tâm ở các nƣớc Châu Âu từ những năm đầu thế kỷ 20 chính bởi những ƣu điểm nhƣ:
thuận tiện trong việc sử dụng , đỡ tốn kém hơn so với giám sát lý, hóa học; hơn nữa lại 19
không gây ô nhiễm đối với môi trƣờng. Do vậy nên tại đây, phƣơng pháp này ngày
càng phát triển mạnh mẽ và dần đƣợc hoàn thiện.
Hầu hết các phƣơng pháp sinh học đánh giá chất lƣợng nƣớc ở cộng đồng Châu
Âu (EC) đều sử dụng khi các nhà khoa học nghiên cứu tại thực địa nên không có quy
trình cụ thể. Để chuẩn hóa phƣơng pháp này theo một quy trình, EC đã đƣa ra một seri
gồm 3 thí nghiệm chuẩn thực hiện ở Italia [36], [73]. Mặc khác, công tác này cũng góp
phần so sánh, đánh giá các phƣơng pháp thu mẫu. Các loại sông khác nhau đƣợc dùng
để kiểm tra gồm: sông sâu, sông nông, sông rộng và sông hẹp.
Những thí nghiệm so sánh đã rút ra đƣợc những kết luận và đề nghị chính sau:
và chỉ số sinh học Pháp (FIB) thành chỉ số sinh học của Bỉ (BBI). Những cải tiến này
liên quan đến việc chuẩn hóa quy trình lấy mẫu (thƣờng sử dụng vợt tay với thời gian
là 5 phút đạp nƣớc) và mẫu đƣợc phân loại đến họ hoặc giống. Chỉ số sinh học biến
thiên từ 0-10, giá trị càng cao thì số lƣợng các đơn vị phân loại mẫn cảm trong quần xã
càng lớn. Chỉ số sinh học Bỉ đã chia thành 5 loại chất lƣợng nƣớc, mỗi loại đều có mã
màu tƣơng ứng:
Loại
Chỉ số sinh học
Màu
Mức độ ô nhiễm
I
10-9
Xanh da trời
Không ô nhiễm hoặc ô nhiễm nhẹ
II
8-7
Xanh lá cây
Ô nhiễm nhẹ
III
6-5
Vàng
Ô nhiễm trung bình
IV
4-3
Cam
Ô nhiễm nặng
V
2-0
Đỏ
Ô nhiễm rất nặng
pháp EBI trong quy trình giám sát chất lƣợng nƣớc sông. [33], [73]
Trƣớc năm 1970, nƣớc Anh đã sử dụng phƣơng pháp sinh học để quan trắc chất
lƣợng nƣớc sông và dựa vào chỉ số sinh học Trent (TBI). Đến năm 1970, lần đầu tiên ở
Anh đã đƣa ra một hệ thống đánh giá chất lƣợng nƣớc khá đơn giản để bổ sung cho
phƣơng pháp phân tích hóa học. Hệ thống này chia làm 4 loại A, B, C, D, mỗi loại
tƣơng ứng với những nhóm động vật chỉ thị cho chất lƣợng nƣớc khác nhau. [33], [41] 22
Loại A
Những con sông có khu hệ ĐVKXS rất đa dạng. Có một tỷ lệ khá cao về
Plecoptera (Thiếu trùng cánh úp) hoặc Ephemeroptera (Thiếu trùng phù du),
Trichoptera (ấu trùng Cánh lông) và Amphipoda (Giáp xác bơi nghiêng). Có thể nuôi
cá Hồi và họ cá Thymal khi những yếu tố sinh thái thuận lợi cho cá này và cũng rất tốt
để phối hợp nuôi nhiều loại cá.
Loại B
Những con sông có những quần thể Plecoptera (Thiếu trùng Cánh úp) và
Ephemeroptera (Thiếu trùng Phù du) nhƣng với số lƣợng giới hạn. Trichoptera (ấu
trùng Cánh lông) và Amphipoda (Giáp xác bơi nghiêng) thƣờng có mặt với số lƣợng
vừa phải và quần thể ĐVKXS hoàn toàn thay đổi. Cá Hồi có thể có mặt nhƣng không
chiếm ƣu thế.
Loại C
Những con sông trong đó ĐVKXS có thể kém phong phú. Ở đây gặp chủ yếu là
giác xác chân đều Asellus aquaticus và có thể gặp Amphipoda (Giáp xác bơi nghiêng)
còn Ephemeroptera (Thiếu trùng phù du) và Trichoptera (ấu trùng Cánh lông) tƣơng
đối hiếm.
Loại D
Những con sông trong đó ĐVKXS cỡ lớn vắng mặt hoàn toàn hoặc những sinh
vật có khả năng chống chịu với ô nhiễm nhƣ Oligochaeta (Giun ít tơ) và Chironomus
những năm 1960 đến nay trải qua 3 giai đoạn: giai đoạn một tập trung vào các phƣơng
pháp định tính (liên quan đến sự vắng mặt, có mặt hoặc sự phong phú của ĐVKXS cỡ
lớn với chất lƣợng môi trƣờng); giai đoạn hai là chuyển sang dùng những phƣơng pháp
định lƣợng nghiêm ngặt hơn gồm cả lấy mẫu lặp lại, phân tích thống kê và sử dụng các 24
chỉ số đa dạng [60]. Sau đó phƣơng pháp đƣợc thay đổi, những phƣơng pháp đánh giá
nhanh đƣợc áp dụng giống nhƣ phƣơng pháp truyền thống đã sử dụng ở Châu Âu [42].
- Ở Châu Á
Tại Ấn Độ và Thái Lan, phƣơng pháp đánh giá nhanh bằng ĐVKXS cỡ lớn đã
đƣợc Thorne và Williams (1997) thử nghiệm [66]. Resh và Jackson (1993) đã kiểm tra
20 phƣơng pháp phân tích gồm 5 loại chính đó là các chỉ số độ phong phú, đánh giá về
sự đa dạng, đồng dạng, các chỉ số sinh học và các đánh giá chức năng. Tuy cuối cùng
không có đƣợc phép thử chuẩn nhƣng cả hai loại điểm số BMWP đƣợc áp dụng. [60]
De Zwart và Trivedi (1994) đã chuyển đổi điểm số BMWP để sử dụng phù hợp
với điều kiện ở Ấn Độ và thêm một số họ khác vào, điểm số tƣơng ứng nhƣ sau:
Syrphidae (2 điểm), Blepharoceridae, Psephenidae, Noteridae, Belostomatidae,
Hebridae và Veliidae (5 điểm), Nereidae, Nephthyidae, Palaemonidae, Atyidae,
Thiaridae (6 điểm). Đối với một số họ có khả năng chống chịu tốt hơn hoặc chống chịu
ít hơn cũng đƣợc điều chỉnh điểm từ điểm gốc. Các họ có khả năng ít chống chịu hơn
đƣợc tăng điểm gồm Hydrobiidae, Bithyniidae từ 3 điểm lên 6 điểm và Patycnemididae
từ 6 điểm lên 8 điểm, còn hai họ có khả năng chống chịu tốt hơn thì bị giảm điểm:
Dugesidae từ 5 điểm xuống 4 điểm và Agriidae từ 8 điểm xuống 6 điểm. [34]
Mustow (1997) đã đƣa ra những thay đổi trong thang điểm qua quá trình nghiên
cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn tại 23 điểm ở Bắc Thái Lan. Sự thay đổi này đã đƣợc
Zwart và Trivedi (1994) ủng hộ. Theo Mustow (1997) thì trong 85 họ, có 71 họ có
trong chỉ số gốc đƣợc biết ở Thái Lan và 65 họ trong đó cùng với 33 họ bổ sung đã tìm
thấy trong hệ thống sông Mae Ping không có ở Anh. Tác giả đã hợp nhất 10 họ bổ sung
Công tác nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm của các thủy vực ở Việt Nam đã
đƣợc quan tâm từ khá lâu, nhƣng cho đến năm 1995 hầu nhƣ vẫn chƣa có những hệ
thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy vực. Đáng lƣu ý là hệ thống phân loại độ nhiễm
bẩn và các chỉ tiêu trong thang bậc phân loại đã nêu trên đều là những dẫn liệu đƣợc
nghiên cứu ở các thủy vực ôn đới, hoàn toàn khác với điều kiện tự nhiên và đặc tính
sinh học ở các thủy vực của nƣớc ta.
Năm 1995, sau 10 năm nghiên cứu (1985-1995), Nguyễn Xuân Quýnh đã đƣa ra
một hệ thống phân lại độ nhiễm bẩn các thủy vực có nƣớc thải ở Hà Nội. Tác giả đã