A.Phần mở đầu:
I. Lý do chọn đề tài:
- Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao. Đặc biệt ngời
học toán cần phải có kỹ năng làm toán tốt thì mới đem lại kết quả cao
trong học tập. Mặt khác, học giỏi toán cũng là công cụ cần thiết để học
các môn học khác cũng nh nhận thức thế giới xung quanh và thực tiễn
một cách có hiệu quả.
- Khả năng giáo dục nhiều mặt của Môn Toán rất to lớn, nó là tiền đề để
phát triển t duy lôgic đồng thời bồi dỡng và phát triển những thao tác
mang tính chất trí tuệ để nhận thức thế giới hiện thực nh: Trừu tợng hoá,
khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, dự đoán, chứng minh. Nó có vai trò
to lớn trong việc rèn luyện phơng pháp suy luận, giải quyết vấn đề có căn
cứ khoa học, toàn diện, chính xác; nó có nhiều tác dụng trong việc phát
triển trí thông minh, t duy độc lập, linh hoạt, sáng tạo, góp phần giáo dục
ý chí và những đức tính tốt nh cần cù, nhẫn nại của con ngời.
Từ những nhận thức trên cùng với những điều đã học hỏi của đồng
nghiệp và những kinh nghiệm của bản thân, tôi đã quyết định nghiên
cứu, áp dụng vào giảng dạy Rèn kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 4
trong năm học 2007 2008 này.
II. Mục đích:
Qua việc giảng dạy để tìm ra biện pháp rèn học sinh có kỹ năng giải
toán tốt.
III. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu:
Học sinh lớp 4A.
IV. Nhiệm vụ của đề tài:
- Tìm hiểu đối tợng học sinh.
- Khảo sát chất lợng học tập.
- Đánh giá kết quả học tập.
V. Phơng pháp nghiên cứu:
- Khảo sát.
- Điều tra.
- Đổi mới hình thức trong giờ học: Xây dựng lớp học thành một môi tr-
ờng khuyến khích từng học sinh chủ động học tập, phát huy sự sáng tạo
của học sinh để các em vơn tới kết quả cao nhất có thể đạt đợc. Kích
thích cho học sinh hứng thú học toán, mong đợc học toán để có dịp thể
2
hiện tài trí của mình, đợc thầy cô khen. Qua đó, khơi dậy tính tò mò,
muốn tìm ra những điều lạ cho học sinh.
-Tất cả những điều đó đều khẳng định sự đổi mới của thầy, quyết định sự
tiến bộ của trò.
-Trong các giờ học nói chung và giờ học toán nói riêng thì học sinh phải
là trung tâm của quá trình dạy học. Giáo viên là ngời tổ chức, hớng
dẫn và mọi học sinh đều đợc hoạt động.
- Do mục đích của môn học là dạy cho các em trở thành ngời linh hoạt,
sáng tạo, làm theo mẫu chuẩn nên mỗi khi có nội dung học mới, dạy bài
tập mới cần có những mẫu chuẩn để có tác dụng hớng dẫn sự suy nghĩ,
tìm tòi lời giải và trình bày bài giải chuẩn mực nhất.
- Để học sinh có kỹ năng giải toán tốt, giáo viên cần cho học sinh thực
hành nhiều bài tập trong một dạng bài. Cần sử dụng nhiều hình thức và
phơng pháp giảng dạy trong một giờ học để thu hút mọi học sinh vào
hoạt động học tập. Mặt khác phải sử dụng kết hợp nhiều phơng pháp dạy
học phù hợp với từng giờ học: phơng pháp trực quan, quan sát, thảo luận,
thực hành, chơi trò chơi,
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học trong một tiết học cũng là một hình thức
để học sinh ghi nhớ bài học trong việc rèn kỹ năng học toán.
III. Những bài học kinh nghiệm và những giải pháp:
* Trớc hết phải dạy cho học sinh nắm đợc phơng pháp cơ bản để giải một
bài toán:
- Nắm chắc kiến thức cơ bản: Cộng, trừ, nhân, chia trong bảng, cách
nhẩm,
- Nắm đợc đặc trng của từng dạng bài tập.
Đổi 4 tấn rỡi=45 tạ.
Xe C và xe D chở đợc là:
45 x 2 = 90 (tạ)
Đổi 90 tạ = 9 tấn
Số tấn hàng cả 4 xe A, B, C, D chở là:
9 + 3 x 2 = 15 (tấn)
Trung bình cộng số tấn hàng toàn đội chở là:
(15 + 1) : 4 = 4 (tấn)
Số tấn hàng xe E chở là:
4 + 1 = 5 (tấn)
Đáp số: 5 tấn.
4
Từ bài toán này, học sinh cũng tìm ra cách giải bài toán ở dạng
kém hay ít hơn trung bình cộng một cách dễ dàng.
+ Với học sinh khá, giỏi thì giáo viên yêu cầu học sinh giải bài toán
bằng nhiều cách. Phân tích, so sánh tìm ra cách giải hay nhất, hợp lý
nhất.
+ Tập cho học sinh tự lập đề toán và giải đợc đề toán đó.
+ Giới thiệu ngoại khoá các nhà toán học, nhằm giáo dục tình cảm và
lòng yêu thích môn toán. Từ đó học sinh có hoài bão vơn lên.
+ Tổ chức thi giải toán tuổi thơ qua các số báo hàng tháng ở phạm vi
trong lớp.
+ Bồi dỡng cho các em phơng pháp học toán và tự học toán ở gia đình
trên cơ sở của SGK, sách bài tập và tài liệu về toán học. Kết hợp với gia
đình tạo điều kiện cho các em học tập.
+ Chú ý bồi dỡng khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt trong quá trình
học toán.
Những việc làm trên đây cần tính toán đến những điều kiện, thời gian
để học sinh không bị quá tải.
- Đối với những học sinh gặp khó khăn về toán:
biết hoặc giải quyết những khó khăn khi tự học sinh đợc giải quyết hoặc
giáo viên giúp đỡ giải quyết. Điều đó sẽ giúp học sinh dễ dàng giải quyết
đợc vấn đề và nâng cao đợc hiểu biết của mình một cách tích cực.
Ví dụ: Năm nay, tổng số tuổi của bà, mẹ và Mai là 120 tuổi. Tính tuổi
mỗi ngời, biết rằng tuổi của Mai bao nhiêu ngày thì tuổi của mẹ bấy
nhiêu tuần và tuổi của Mai bao nhiêu tháng thì tuổi của bà bấy nhiêu
năm
Với bài toán này, tôi đã thay đổi cách phát biểu bài toán bằng một bài
toán khác tơng tự với nó nhng quen thuộc hơn, dễ hiểu hơn nh sau:
Năm nay, tổng số tuổi của bà, mẹ và Mai 120 tuổi. Tính tuổi của mỗi
ngời biết rằng tuổi của mẹ gấp 7 lần tuổi của Mai và tuổi của bà gấp 12
lần của Mai.
Theo cách phát biểu này học sinh hiểu ngay đây là dạng toán Tìm số
khi biết tổng và tỷ số của 2 số đó đã quen thuộc với học sinh và học
sinh giải bài toán một cách dễ dàng.
C.kết luận và đề xuất kiến nghị:
6
Năm học 2007 2008 vừa qua, tôi đã vận dụng những kinh nghiệm
trên vào quá trình giảng dạy, rèn kỹ năng giải toán cho học sinh lớp 4A
và chất lợng môn học đã có tiến bộ vợt bậc. Kết quả là:
- 100% học sinh của lớp 4A đều đợc xếp loại học lực môn Toán khá và
giỏi không có học sinh trung bình, yếu, kém. Điều đó khẳng định rằng
học sinh lớp tôi đã có khả năng giải toán thành thạo.
- Học sinh giỏi do tôi bồi dỡng cũng đạt thành tích xuất sắc, có nhiều
học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện và đợc xếp thứ
2/29 trờng.
Năm học qua số bài giải của học sinh lớp tôi gửi tạp chí toán tuổi thơ khá
nhiều và có tới 5 lần đợc đăng bài và nhận phần thởng.
Năm học qua số bài giải của học sinh lớp tôi gửi tạp chí toán tuổi thơ khá
nhiều và có tới 5 lần đợc đăng bài và nhận phần thởng.