Nghiên cứu môi trường nhân giống lan Phi Điệp bằng kĩ thuật nuôi vấy mô tế bào - Pdf 26

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ THẢO
NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG NHÂN GIỐNG
LAN PHI ĐIỆP (Dendrobium anosmum) BẰNG
KỸ THUẬT NUÔI CẤY MÔ - TẾ BÀO
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ THẢO
NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG NHÂN GIỐNG
LAN PHI ĐIỆP (Dendrobium anosmum) BẰNG
KỸ THUẬT NUÔI CẤY MÔ - TẾ BÀO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Tâm
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS. TS. Nguyễn Thị Tâm là giáo viên hướng dẫn, cô đã hướng dẫn tận tình và tạo
mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cô Trần Thị Hồng – kĩ thuật viên phòng Công
nghệ tế bào – Vi sinh và toàn thể các thầy cô trong khoa Sinh – KTNN đã giúp đỡ
tôi rất nhiều trong suốt thời gian làm đề tài.
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, đã luôn
ở bên cạnh động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài.
Trong qua trình thực hiện khóa luận, khó tránh khỏi những sai sót. Vì vậy,
tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy cô và bạn bè.
Xin cảm ơn thầy cô và các bạn!

2.3.2. Thăm dò môi trường nuôi cấy 15
2.4. Tính toán kết quả 16
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
3.1. Ảnh hưởng của BAP tới sự sinh trưởng và phát triển của lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum) 18
3.2. Ảnh hưởng của kinetin lên sự phát sinh chồi của lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum) 21
3.3. Ảnh hưởng của α- NAA đến sự phát sinh rễ của lan Phi Điệp 26
(Dendrobium anosmum) 26
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Thành phần cơ bản của môi trường PM 13
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của BAP tới tỷ lệ tạo chồi và tạo protocorm ở lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum) 19
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của BAP tới sự phát triển chồi của lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum) 20
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của kinetin tới tỷ lệ tạo chồi và tạo protocorm của lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum) 23
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của kinetin tới sự phát triển chồi của lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum) 24
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của nồng độ α- NAA đến sự ra rễ ở lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum) 27
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của tổ hợp BAP và α-NAA tới sự ra rễ của lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum) 29
CT 29
Số rễ/ chồi 30
Chiều dài rễ 30
(cm) 30
Màu sắc lá 30

Trang
Hình 1.1. Hình ảnh hoa lan Dendrobium anosmum 5
Hình 3.1. Ảnh hưởng của BAP tới sự phát sinh chồi và tạo protocorm ở lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum) sau 8 tuần nuôi cấy 21
Hình 3.2. Ảnh hưởng của nồng độ kinetin tới sự phát sinh chồi và tạo protocorm của lan
Phi Điệp (Dendrobium anosmum) sau 8 tuần 25
Hình 3.3. Ảnh hưởng của BAP 0,7 mg/l và kinetin 1mg/l lên sự sinh trưởng và phát triển
của lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum) 25
Hình 3.4. Ảnh hưởng của α – NAA tới sự ra rễ của lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum)
sau 8 tuần nuôi cấy 28
Đưa cây ra ngoài vườn ươm là giai đoạn quan trọng bao gồm việc tạo rễ, huấn luyện thích
nghi với thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm, sự mất nước, sâu bệnh và chuyển từ trạng thái dị
dưỡng sang tự dưỡng hoàn toàn. Đây là giai đoạn quyết định khả năng ứng dụng quy trình
nhân giống in vitro. Các loại giá thể gồm: than hoa, dớn, xơ dừa. Theo dõi sự phát triển của
cây lan trong giai đoạn đầu ngoài môi trường nuôi cấy, tôi tiến hành trồng 30 cây con trên
các giá thể than hoa, dớn, xơ dừa, than củi + xơ dừa, than củi + dớn và xơ dừa + dớn. Kết
quả thu được thể hiện trong bảng 3.10 34

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC Đối chứng
CT Công thức
KTST Chất kích thích sinh trưởng
PM Môi trường Phytamax
MS Môi trường MS (Murashige và Skoog, 1962)
BAP 6 – benzyl amino purin
α – NAA α – Naphthalene acetic acid
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất, tinh khiết, vương giả cao sang,
cùng với vẻ đẹp rực rỡ về màu sắc, quyến rũ về hình dáng, hoa lan còn có công

hàng loạt cây con ổn định về mặt di truyền, sạch bệnh và đáp ứng giá cả, chúng tôi
chọn đề tài: “Nghiên cứu môi trường nhân giống lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum) bằng kĩ thuật nuôi cấy mô – tế bào”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm được môi trường thích hợp cho việc nhân giống lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum) trong ống nghiệm.
Xác định được giá thể thích hợp để đưa cây lan Phi Điệp Dendrobium
anosmum từ trong ống nghiệm ra môi trường tự nhiên.
3. Nội dung nghiên cứu
- Thăm dò ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm
cytokinin đến sự phát sinh chồi của lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum) trong
ống nghiệm.
- Thăm dò ảnh hưởng của kích thích sinh trưởng thuộc nhóm auxin đến sự ra
rễ của lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum) trong ống nghiệm.
- Thăm dò ảnh hưởng của tổ hợp các chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm
auxin và nhóm cytokinin lên sự sinh trưởng của lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum) trong ống nghiệm.
- Nghiên cứu tìm ra loại giá thể thích hợp nhất cho ra cây lan Phi Điệp (xơ
dừa, rong biển, than củi …).
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một vài nét giới thiệu về chi Dendrobium và lan Phi Điệp (Dendrobium
anosmum)
1.1.1. Giới thiệu về chi Dendrobium
Phong lan có vùng phân bố rộng lớn, trải dài từ đường xích đạo cho đến Bắc
cực, từ đồng bằng cho đến các vùng núi băng tuyết. Họ phong lan (Orchidaceae)
với 750 chi và hơn 25000 loài là họ lớn thứ hai sau họ cúc (Asteraceae) trong ngành
hạt kín (Angiospermae) và cũng là họ lớn nhất trong lớp một lá mầm [5].
Chi Hoàng thảo (Dendrobium) là một chi lớn trong họ Phong lan. Hiện nay,

chỉ còn dính lại với nhau ở đỉnh gốc. Ở một số loài khi chín quả không nứt ra nên
hạt chỉ ra khỏi quả khi bị mục nát [5].
Quả chứa 10.000 – 100.000 hạt, đôi khi đến 3 triệu hạt có kích thước rất nhỏ
nên phôi hạt chưa phân hóa. Sau 3 – 5 tháng hạt chín và phát tán nhờ gió [5].
1.1.2. Lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum)
Lan Phi Điệp có tên khoa học là Dendrobium anosmum, thuộc họ Hoàng thảo
(Dendrobium). Lan Phi Điệp còn có tên gọi khác như: Giả hạc, Hoàng thảo đùi gà,
Hoàng thảo dẹt, Huỳnh thảo, Co vàng sao (Thái). Cây được dùng trong y học cổ
truyền với tên thuốc là Thạch hộc hay Kẹp thảo [19]. Cây thường dùng chữa miệng
khô táo khát, phổi kết hạch, đau dạ dày ợ chua, không muốn ăn, di tinh, sau khi khỏi
bệnh bị hư nhược, đổ mồ hôi trộm, lưng gối đau mỏi, nhiệt bệnh thương tổn đến tân
dịch. Liều dùng 8-10g, dạng thuốc sắc. Thạch hộc thường dùng trong các bệnh như
ho khan, khô cổ, háo người, dùng cho các bệnh nhân nam giới sinh hoạt không điều
độ bị đau lưng mỏi gối, bệnh nhân bị thiểu năng sinh dục. Dùng riêng hoặc phối
hợp với các vị thuốc khác: chữa ho thì phối hợp với Mạch môn, vỏ Quýt khô; chữa
đau lưng mỏi gối, gia thêm Câu kỷ, Ngưu tất [24].
Thân dài tới 1,2m buông rũ xuống. Lá mọc đối cách dài 8cm – 12cm, rộng từ
4cm – 7cm. Hoa to tới 10cm mọc từ 1 – 3 chiếc ở các đốt đã rụng lá, nở vào mùa
xuân. Dendrobium anosmum có hai màu sắc chính là tím hồng và trắng. Tuy nhiên
khá nhiều biến dạng hồng nhạt, hồng thẫm hoặc cánh trắng lưỡi tím, nhưng rất dễ
4
nhầm lẫn với Dendrobium parishii thân ngắn chỉ chừng 30cm –40cm và hoa tím sẫm
hơn nhiều. Hoa có hương thơm ngào ngạt và lâu tàn (3 – 4 tuần). Nhiều hoa trên một
phát hoa, một cây nếu mạnh khỏe có thể ra tới 50 – 70 hoa [20]. Sau khi hoa tàn,
những đốt gần trên ngọn hoặc ở gần dưới gốc thường nảy sinh ra những cây con.

Hình 1.1. Hình ảnh hoa lan Dendrobium anosmum
Giống lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum) được trồng nhiều nhất vì nó tương
đối dễ trồng, khả năng chịu nóng, lạnh tương đối tốt. Loài lan này cần nhiều ánh sáng,
nuôi trồng trong điều kiện nhiệt độ là 8 – 25

1.2.2. Các phương thức nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống vô tính
1.2.2.1. Nuôi cấy mô phân sinh hoặc đỉnh sinh trưởng
Khái niệm mô phân sinh chỉ đúng khi mẫu vật nuôi cấy được tách đúng từ
đỉnh sinh trưởng có kích thước trong vòng 0,1mm tính từ chóp của đỉnh sinh
trưởng [1]. Trong thực tế, mẫu nuôi cấy được tách với kích thước đó chỉ khi
người ta tiến hành nuôi cấy với mục đích làm sạch bệnh cây trồng, do đó phải
kết hợp các yếu tố tìm ra phương thức lấy mẫu tối ưu. Một đỉnh sinh trưởng nuôi
cấy ở điều kiện thích hợp sẽ phát triển thành một hay nhiều chồi và các chồi sẽ
phát triển thành cây hoàn chỉnh.
Xét về nguồn gốc của cây có ba khả năng:
- Cây phát triển từ chồi đỉnh
6
- Cây phát triển từ chồi nách
- Cây phát triển từ chồi mới phát sinh
Ở lan có sự phát triển qua giai đoạn dẻ hành, cùng một lúc đỉnh sinh trưởng
tạo hàng loạt protocrom lại tiếp tục phân chia cho ra các protocrom mới hay các
chồi mới tạo thành cây hoàn chỉnh.
1.2.2.2. Tái sinh cây hoàn chỉnh từ các bộ phận khác của cây
Ngoài mô phân sinh và đỉnh sinh trưởng là bộ phận dễ nuôi cấy thành công,
các bộ phận còn lại của một cơ thể thực vật đều có thể ứng dụng cho nuôi cấy mô –
tế bào [17]. Như các đoạn thân, cuống lá, các bộ phận của hoa, nhánh củ.
1.2.2.3. Nhân giống qua giai đoạn mô sẹo
Trong khuôn khổ mục đích nhân giống vô tính, nếu tái sinh được cây hoàn
chỉnh trực tiếp từ mẫu cấy ban đầu thì không những nhanh chóng thu được cây mà
các cây cũng khá đồng nhất về mặt di truyền. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp mô
nuôi cấy không tái sinh cây ngay mà phát triển thành khối mô sẹo. Tế bào mô sẹo
khi cấy nhiều lần sẽ không ổn định về mặt di truyền [17].
Một phương hướng nhân giống vô tính nữa là tạo phôi soma từ tế bào mô
sẹo. phương pháp này đã thành công ở hai đối tượng: Cà rốt (Daucus carota) và
thuốc lá (Nicotiana tabacum).

từ 10 – 36 tháng. Giai đoạn nhân nhanh chồi từ một vài chồi ban đầu không nên kéo
dài quá lâu. Ví dụ: từ đỉnh sinh trưởng của một cây chối chọn lọc ban đầu người ta
chỉ nhân lên 2000 – 3000 chồi sau 7 – 8 lần cấy chuyển để tránh biến dị soma. Đối
với các cây khác như mía, hoa cúc, phong lan sau một năm có thể nhân lên
1.000.000 chồi từ cây mẹ ban đầu [13].
Giai đoạn 4: Tạo cây hoàn chỉnh
Các chồi được hình thành trong quá trình nuôi cấy có thể phát rễ tự sinh,
nhưng thông thường các chồi này phải chuyển sang một môi trường khác để kích
thích tạo rễ. Ở một số loài khác thì các chồi tạo rễ trước khi chuyển trực tiếp ra đất,
thông thường giai đoạn này cần 2 – 8 tuần [17].
Giai đoạn 5: Chuyển cây ra đất trồng
Đây là giai đoạn đầu cây được chuyển từ điều kiện vô trùng của phòng thí
nghiệm ra ngoài môi trường tự nhiên, giai đoạn này quyết định khả năng ứng dụng
8
của quy trình nhân giống mô – tế bào. Đối với một số loài có thể chuyển cây ra đất
khi chưa có rễ, nhưng với đa số các loài cây trồng thì chỉ sau khi chồi đã tạo rễ và
tạo cây hoàn chỉnh thì mới được chuyển ra ngoài vườn ươm. Quá trình thích nghi
với điều kiện bên ngoài của cây được yêu cầu chăm sóc đặc biệt. Vì vậy được
chuyển từ môi trường bão hòa hơi nước sang vườn ươm với những điều kiện khó
khăn hơn, nên vườn ươm cần đáp ứng các yêu cầu: Che cây con bằng nilon bao phủ
và có hệ thống phun sương cung cấp độ ẩm làm mát cây. Giá thể trồng cây có thể là
đất mùn, hoặc các hỗn hợp nhân tạo không chứa đất, mùn cưa và bọt biển… giai
đoạn này thường đòi hỏi 4 đến 16 tuần [17].
1.2.4. Một số thành tựu của kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào trong lĩnh vực nhân
giống cây trồng
Nuôi cấy mô – tế bào là một thành tựu khoa học lớn của loài người. Vào đầu
những năm 1960, kỹ nghệ nuôi cấy mô trong nhân giống phong lan trong ống
nghiệm đã được áp dụng thành công. Những cây thược dược (dahlia) sạch virut
được tạo ra bằng cách dùng đỉnh sinh trưởng để nuôi cấy. Hiện có hơn 22 chi phong
lan được nhân giống phổ biến thông qua con đường nuôi cấy mô. Công ty sản xuất

trường cơ bản MS có bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng đã đưa ra được quy
trình nhân giống củ in vitro các giống hoa Lilium spp [4].
Nghiên cứu nhân nhanh in vitro giống lan Kim điệp (Dendrobium
chrysotoxum), Nguyễn Văn Song (2011) đã tìm ra được môi trường thích hợp cho
nảy mầm và phát sinh protocorm của hạt là MS cơ bản, bổ sung saccharose 20g/l,
agar 8g/l, nước dừa 15% và BAP 2,0mg/l. Môi trường nhân nhanh protocorm tốt
nhất là MS cơ bản, bổ sung saccharose 20g/l, agar 8,0g/l, nước dừa 15% và BAP
2,0mg/l. Môi trường MS cơ bản, bổ sung saccharose 30g/l, agar 8,0g/l, than hoạt
tính 1,0g/l, nước dừa 15%, BAP 2,0mg/l và NAA 1,0mg/l thích hợp nhất cho tái
sinh chồi từ protocorm và sinh trưởng của chồi in vitro. Môi trường MS cơ bản, bổ
sung saccharose 20g/l, agar 8,0g/l, nước dừa 15% và NAA 1,0mg/l là thích hợp cho
tạo rễ của chồi in vitro [11].
Nghiên cứu môi trường nhân giống in vitro giống lan Dendrobium
fimbriatum (Lan Hoàng Thảo Long nhãn), Nguyễn Thị Sơn (2011) đã khẳng định
môi trường thích hợp cho nảy mầm và phát sinh protocorm của hạt là môi trường
10
MS, bổ sung nước dừa 100ml/l, saccharose 10g/l, agar 6,0g/l; môi trường nhân
nhanh protocorm tốt nhất là môi trường Knud, bổ sung nước dừa 100ml/l,
saccharose 10g/l, khoai tây 60g/l, agar 6,0g/l; môi trường MS, bổ sung nước dừa
100ml/l, saccharose 20g/l, chuối chín 60g/l, agar 6,0g/l là thích hợp nhất cho nhân
nhanh chồi in vitro; môi trường tạo cây hoàn chỉnh là môi trường RE (Robert
Ernst), bổ sung saccharose 10g/l, than hoạt tính 1,0g/l, agar 6,0g/l [12].
Hoàng Thị Giang và cộng sự (2010) nghiên cứu nhân giống in vitro và nuôi
trồng giống lan Hài P. hangianum perner Gurss (Hài Hằng). Kết quả nghiên cứu
cho thấy, môi trường nhân nhanh protocorm và tạo chồi là môi trường RE có bổ
sung nước dừa 150ml/l và chuối chín 100g/l cho hệ số nhân cao nhất (4,3 lần). Bổ
sung α-NAA 0,4mg/l - 0,6mg/l vào môi trường cho khả năng ra rễ tốt nhất. Các kết
quả thí nghiệm ngoài vườn ươm cho thấy, cây đạt tiêu chuẩn ra vườn ươm cao 3 -
4cm, có từ 3 - 4 lá, 4 - 5 rễ [3].
Phùng Văn Phê và cộng sự (2010) nghiên cứu kỹ thuật nhân nhanh chồi in

[23].
Tuy nhiên, trong số các loại hoa được trồng nhiều ở Việt Nam như hoa
hồng, cúc, lay-ơn hoa lan chỉ chiếm xấp xỉ 10%. Hầu hết hoa được trồng trên
những mảnh vườn mở không có lưới và các phương tiện phòng chống mưa, bão, lụt
rất thô sơ nên chất lượng và thời vụ thu hoạch bị ảnh hưởng rất nhiều. Hoa lan tuy
cũng được trồng trong vườn có lưới che mát nhưng cũng không có các phương tiện
bảo vệ tránh gió mưa, bão gây hại cho hoa.
Đà Lạt hiện nay đang trở thành điểm thu hút các nhà đầu tư kinh doanh hoa do sự
thành công của các công ty nước ngoài đầu tư vào cách đây hơn 10 năm như Dalat
Hasfarm chuyên trồng hoa ôn đới; công ty Lâm Thăng Đài Loan chuyên về lan
Phalaenopsis. Vùng Sapa, Tam Đảo rất thích hợp cho việc trồng hoa ôn đới như hồng,
Lyly, lay ơn Riêng hoa lan nhiệt đới, qua các năm từ 2003- 2005 đã tăng từ 20 ha lên 50
ha (tăng 150%). Xu hướng tiêu dùng hoa lan đã tăng lên đáng kể và dự đoán sẽ tăng mạnh
trong thập niên tới do Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ
là yếu tố tăng mạnh đầu tư nước ngoài làm tăng các dịch vụ du lịch, tổ chức hội nghị quốc
tế [23].
12
Chương 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU
2.1. Vật liệu thực vật
Giống Lan Phi Điệp (Dendrobium anosmum) do phòng Công nghệ tế bào
thực vật – Viện Công nghệ sinh học (Institute of Biotechnology, IBT) cung cấp.
2.2. Hóa chất, thiết bị nghiên cứu
Hóa chất
Các chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm auxin và cytokinin, thạch agar,
đường D – glucose, than hoạt tính, ngoài ra còn bổ sung nước dừa, khoai tây, chuối.
Các thí nghiệm được tiến hành trên nền môi trường PM (phytamax).
Bảng 2.1. Thành phần cơ bản của môi trường PM
Thành phần Nồng độ
(mg/l)

2
O 90,35 PM4 FeSO
4
.7H
2
O 27,8
NH
4
NO
3
825,0 Na
2
EDTA 37,26
PM3 H
3
PO
3
31 PM5 Thiamine HCl 0,10
KI 0,415 Pyridoxine HCl 0,50
MnSO
4
.4H
2
O 8,45 Nicotinic acid 0,50
ZnSO
4
.7H
2
O 5,3 Myo-inositol 100
Dụng cụ

hoạt tính 1g, khoai tây 40g, chuối chín 40g. Cho khoai tây, chuối chín vào máy xay,
xay nhuyễn.
14
Khi nước sôi khoảng 50 – 70
0
C thì đổ agar khuấy đến khi nước trong rồi cho
đường, than, khoai tây, chuối chín vào rồi khuấy đều cho tan hết. Bổ sung dung
dịch hóa chất vào cốc thủy tinh. Định lượng hỗn hợp dung dịch trên bằng nước cất
cho đủ 1 lít. Chuẩn độ pH của hỗn hợp dung dịch khoảng 5,5 – 5,8.
Chia đều hỗn hợp nuôi cấy vào các bình tam giác đã chuẩn bị sau khi đã sấy
khô. Đậy bình bằng nút bông đã hấp trùng và bên ngoài có đậy bằng nắp giấy, đậy
kín. Sau đó đem đi hấp khử trùng ở nhiệt độ 120
0
C, áp suất 1,2 atm trong thời gian
20 phút. Sau khi hấp xong để 2 – 3 ngày cho môi trường ổn định rồi tiến hành cấy.
Trước khi tiến hành nuôi cấy, cần khử trùng box cấy bằng tia UV trong khoảng
60 phút, khử trùng bộ đồ cấy bằng cách đốt trên ngọn lửa đèn cồn, sau đó để nguội.
2.3.2. Thăm dò môi trường nuôi cấy
Để tìm ra môi trường nuôi cấy tối ưu cho nhân chồi và ra rễ ở Lan Phi Điệp
(Dendrobium anosmum), chúng tôi đã bố trí thí nghiệm thăm dò môi trường nuôi
cấy. Tất cả các công thức môi trường nuôi cấy đều sử dụng nền môi trường PM +
đường D-glucose 30g + thạch agar 8,5g + than hoạt tính 1g + nước dừa 100ml +
khoai tây 40g + chuối 40g và bổ sung các chất kích thích sinh trưởng (α – NAA ,
BAP, kinetin).
(1) Môi trường nhân chồi
Các chồi giống được cấy lên môi trường nhân chồi bổ sung BAP với các
nồng độ 0,5mg/l – 0,7mg/l – 0,9mg/l – 1,0mg/l hoặc kinetin với các nồng độ
0,5mg/l – 0,7mg/l – 0,9mg/l – 1,0 mg/l – 1,2mg/l; so sánh với môi trường đối chứng
(ĐC) không có BAP hoặc kinetin. Mỗi công thức thí nghiệm được tiến hành trên 30
mô, lặp lại 3 lần. Kết quả được đánh giá sau 4 – 6 – 8 tuần nuôi cấy.

phân hữu cơ sinh học BiO-1 và Vitamin B1 phun luân phiên từ 1 - 2 lần/tuần. Nồng
độ phân tưới cho lan con như sau: Phân NPK 30-10-10 dùng 0.5 – 1 g/lít nước.
Phân hữu cơ sinh học BiO-1 dùng 1 – 2 ml/lít nước.Vitamin B1 dùng 0.5 - 1ml/lít
nước. Sau 3-4 tuần cây sống ra rễ mới, lá mới là có thể đưa ra vườn ươm.
2.4. Tính toán kết quả
16
Các số liệu về tỉ lệ sống, tỉ lệ tạo chồi, số chồi trung bình/1 mô, chiều cao
trung bình của chồi, số rễ/cây, chiều dài trung bình của rễ, số lá/cây, chiều dài trung
bình của lá… của mỗi công thức thí nghiệm được chúng tôi tính toán bằng phần
mềm excell theo hướng dẫn của Chu Văn Mẫn (2000) [7].
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status