nhận thức về việc làm và giải quyết việc làm của nhà nước - Pdf 26

Điều 15 Hiến pháp 1992 quy định “ Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước
và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động ” . Theo đó, có việc làm là
quyền cơ bản của người lao động nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cá nhân
người lao động. Quan niệm này đã mở ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức về việc làm và
giải quyết việc làm của nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động; đó là trách nhiệm của
mỗi bên trong lĩnh vực giải quyết việc làm.
1/ Vì sao cần phải đặt vấn đề trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động và
người lao động trong lĩnh vực giải quyết việc làm.
Điều 13 Bộ luật lao động (BLLĐ) quy định “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Đó là việc xuất phát từ tầm quan
trọng của vấn đề việc làm. Vấn đề việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên những bình diện
như bình diện kinh tế - xã hội, bình diện chính trị - pháp lý, bình diện quốc tế. Bảo đảm việc làm là
chính sách xã hội có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng chống hạn chế tiêu cực xã hộ, giữ vững kỉ
cương nền nếp xã hội. Bên cạnh đó, việc làm cũng đảm bảo an ninh và sự ổn định của quốc gia, tạo
điều kiện cho thuận lợi cho quốc gia hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa. Chính vì vậy, vấn
đề việc làm là vấn đề được quan tâm hàng đầu, đồng thời đòi hỏi trách nhiệm của toàn xã hội trong
giải quyết việc làm đặc biệt là trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao
động.
Thị trường lao động Việt Nam đã hình thành và phát triển, với dân số đông (trên 84 triệu
người) và quy mô lao động lớn (45,6 triệu lao động năm 2006), hằng năm, lực lượng lao động được
bổ sung trên 1 triệu người, đem lại lợi thế cho Việt Nam về nguồn nhân công dồi dào, giá nhân
công tương đối rẻ so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mặt khác, lao động trẻ chiếm tỷ
trọng lớn trong lực lượng lao động (chiếm 45,6%), đây thực sự là nguồn lao động tiềm năng lớn
cho Việt Nam trong việc phát huy nội lực của đất nước để phát triển.
2/ Trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm.
Điều 13 BLLĐ) quy định “ Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao
động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội
”. Trong quan hệ lao động nói chung, Nhà nước được nhìn nhận là người quản lý lao động, người
sử dụng lao động, với vai trò là người tư vấn, hỗ trợ quá trình xác lập và vận hành quan hệ lao động
và vai trò của trọng tài quyền lực. Chức năng quản lý xã hội nói chung là chức năng cơ bản của
Nhà nước, do đó trong nội dung quản lý của nhà nước không thể không có việc quản lý lao động.

BLLĐ), phải nhận tỉ lệ lao động tàn tật nhất định (Điều 125 BLLĐ). Trách nhiệm này của người sử
dụng lao động xuất phát từ nguyên tắc ưu tiên đối với một số đối tượng đặc thù trong chính sách về
việc làm của Nhà nước. Đối tượng này là những lao động có những đặc điểm riêng biệt về tâm sinh
lý như giới tính, sức khỏe, tuổi tác…Chính vì vậy mà cơ hội tìm kiếm việc làm cũng như có việc
làm của họ thường khó khăn hơn những người lao động khác đặc biệt là trong điều kiện hiện nay
khi cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt. Vì vậy, trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải
ưu tiên những lao động này trong lĩnh vực việc làm nhằn hỗ trợ cho họ những cơ hội việc làm giúp
họ hòa nhập với cộng đồng, khắc phục những yếu thế đặc thù của họ. Khoản 2 Điều 111 BLLĐ
quy định “ Người sử dụng lao động phải ưu tiên nhận phụ nữ vào làm việc khi người đó đủ tiêu
chuẩn tuyển chọn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ mà doanh nghiệp đang cần”
Bên cạnh đó, trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi về cơ cấu công nghệ thì người sử
dụng lao động phải đào tạo lại người lao động, nếu cho thôi việc phải trả trợ cấp mất việc làm theo
Điều 17 BLLĐ nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
4/ Trách nhiệm của người lao động trong lĩnh vực giải quyết việc làm.
Người lao động cũng là một bên không thể thiếu trong quan hệ lao động – việc làm. Đây
cũng là đối tượng chiếm số lượng đông đảo trong xã hội nên vấn đề giải quyết việc làm cho người
lao động trở nên cấp bách trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Tuy nhiên, không vì thế
mà trách nhiệm giải quyết việc làm đặt lên Nhà nước và người sử dụng lao động mà chính người
lao động phải tự trách nhiệm lấy vấn đề việc làm của mình. Đối với bản thân người lao động, có
việc làm sẽ tạo điều kiện và cơ hội để người lao động có thu nhập, đảm bảo cuộc sống bản thân và
gia đình đồng thời đóng góp cho xã hội.
NLĐ có quyền làm việc cho bất kì NSDLĐ nào và ở bất kì nơi nào mà pháp luật không cấm.
Theo đó, trách nhiệm của NLĐ trong giải quyết vấn đề việc làm được thể hiện qua:
+) Người cần tìm việc có quyền trực tiếp liên hệ để tìm việc hoặc đăng kí tại các tổ chức giới
thiệu việc làm để tìm việc theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp, sức khỏe của mình
(Điều 16 BLLĐ).
+) Người lao động có trách nhiệm tự tạo việc làm cho bản thân với sự hỗ trợ của Nhà nước
(Khoản 1 Điều 14 BLLĐ).
+) học nghề phù hợp với yêu cầu về việc làm của mình (Điều 20 BLLĐ).
Như vậy, trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động là giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status