1
:“Hoàn thiện quy trình bán lẻ trực tuyến tại website www.babyplaza.vn của công ty Cổ
phần Quốc tế VNETC”
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Có thể nói cách đây 5 năm, thương mại điện tử vẫn còn là một khái niệm khá mới
mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Thế nhưng đến bây giờ, bức tranh thương mại điện
tử VN hiện tại đã có rất nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực. Những biến chuyển ấy
thể hiện rõ qua những con số thống kê của Bộ Công Thương.
Từ tháng 4 năm 2008, Bộ Công Thương đã hoàn thành báo cáo về thương mại điện tử
năm 2007. Bộ đã điều tra trên quy mô lớn về tình hình ứng dụng thương mại điện tử của
các doanh nghiệp trong nước và kết quả thu được khá khả quan.
Thứ nhất, gần 40 % doanh nghiệp có doanh thu từ thương mại điện tử, và mức doanh
thu ấy chiếm 15% tổng doanh thu. Đây là một con số rất là đáng khích lệ cho thấy thương
mại điện tử đã thực sự đem lại những cái lợi ích cụ thể cho các doanh nghiệp bằng những
giá trị cụ thể.
Thứ hai, một nửa số doanh nghiệp cho biết đã đầu tư cho những ứng dụng thương mại
điện tử trong đơn vị mình. Hơn 60% doanh nghiệp tin rằng doanh thu của họ nhờ thương
mại điện tử sẽ còn tăng hơn nữa trong thời gian tới chứng tỏ niềm tin và sự lạc quan của
doanh nghiệp đối với việc ứng dụng thương mại điện tử để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh. Nhằm tăng cường khả năng tiếp cận với thị trường, hơn 40% doanh nghiệp đã lập
website riêng và khoảng 15% doanh nghiệp có các hoạt động e-marketing.
Vậy bằng những con số cụ thể, chúng ta có thể đưa ra một cái kết luận là hiệu quả
ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp rất là rõ ràng và cái xu hướng ấy ngày
càng tăng. Như vậy, có thể thấy rằng các doanh nghiệp bây giờ rất quan tâm tới việc ứng
dụng thương mại điện tử, đặc biệt là trong cái bối cảnh kinh doanh hiện tại rất khó khăn và
nhiều sự cạnh tranh.
Doanh nghiệp rất cần các công cụ, phương thức mới để làm sao có thể tồn tại trong
cái môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay. Và để tiếp tục duy trì hoạt động và mục tiêu
Thông qua thời gian làm việc tại www.Babyplaza.vn em nhận thấy vấn đề chuẩn hóa
quy trình bán lẻ trực tuyến của website www.Babyplaza.vn là rất cần thiết. Vì vậy em xin
đề xuất hướng đề tài nghiên cứ chuyên đề tốt nghiệp của mình là:“Hoàn thiện quy trình
bán lẻ trực tuyến tại website www.babyplaza.vn của công ty Cổ phần Quốc tế VNETC”
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
4
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là dựa vào các lý luận cơ bản về bán lẻ điện tử, quy trình
bán lẻ điện tử và thông qua các phương pháp nghiên cứu thu thập cơ sở dữ liệu sơ cấp, thứ
cấp để làm cơ sở đánh giá quy trình bán lẻ của www.babyplaza.vn Từ đó phân tích những
ưu nhược điểm trong quy trình bán lẻ điện tử của website www.babyplaza.vn đang tồn tại
và tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình bán lẻ tại www.babyplaza.vn, thêm vào
những chức năng mới cho website để nâng cao hiệu quả trong hoạt động.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Là một đề tài nghiên cứu của sinh nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ mang tầm vi
mô, giới hạn chỉ trong một doanh nghiệp và trong giới hạn khoảng thời gian ngắn hạn. Cụ
thể:
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình quy trình quản trị bán lẻ trực
tuyến tại website www.babyplaza.com nhằm đưa ra một số giải pháp hoàn thiện quy
trình bán lẻ cho website
Về thời gian: Các số liệu được khảo sát từ năm 2008 đến năm 2009, đồng thời trình
bày các nhóm giải pháp định hướng phát triển đến năm 2010
1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề nghiên cứu
1.5.1 Thương mại điện tử
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương
mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thuật ngữ thương mại [commerce] cần
được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ
mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính
thương mại commercial bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây:
bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận
nguyên nhân như: khách hàng quen với việc mua hàng mặt đối mặt, ở bán lẻ điện
tử khách hàng chỉ được nhìn chứ không được sờ, nắm hay dùng thử.
Các kỹ năng đã hình thành trong bán lẻ truyền thống không mang lại nhiều
tác dụng trong bán lẻ điện tử.
Một vấn đề khác là khách hàng quen với nhận thức là mua hàng trên mạng
giá rẻ hơn ở các cửa hàng truyền thống. Điều này làm hạn chế hiệu quả kinh tế
và sự mở rộng của bán lẻ điện tử. Khó khăn chăm sóc khách hàng, đặc biệt là
thương mại qua biên giới.
Thuận lợi của bán lẻ điện tử đối với người bán lẻ
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
6
TMĐT đã xoá nhoà khoảng cách không gian và thời gian. Có thể bán hàng
hiệu quả tại bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, không còn biên giới các quốc gia nữa.
Chỉ với một website tốt, doanh nghiệp có thể bày bán hàng trăm nghìn sản phẩm mà
điều này chỉ có ở một siêu thị lớn trong kinh doanh truyền thống.
Nhà bán lẻ nhỏ hoàn toàn có thể có khả năng cạnh tranh bình đẳng với các
nhà bán lẻ lớn, đều có thể hướng tới mọi tập khách hàng và đều có khả năng phục
vụ 24/24. Tiết kiệm chi phí doanh nghiệp (lương nhân viên, chi phí duy trì các
phương tiện bán hàng ).
Cấu trúc xã hội-dân số học của khách hàng điện tử là những người hiểu biết
về công nghệ, cơ cấu trẻ, có thu nhập cao.
Khả năng tích hợp với nhà quản trị quan hệ khách hàng (CRM) và các hệ
thống định vị marketing (micro-marketing systems). Cùng với sự thuận tiện trong
cung cấp thông tin đã dẫn tới nhiều cơ hội đối với bán hàng chéo (cross-selling) và
bán hàng bổ sung (selling-up).
1.5.2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thành công của bán lẻ điện tử
Tính chất của hàng hóa
Các mặt hàng sẽ có khả năng thu lại được được doanh thu cao cho doanh
nghiệp:
Hàng hóa đã có thương hiệu được biết đến rộng rãi
thành người mua hàng thực sự
-Có thể cần mở rộng vật lý
để đảm bảo các dịch vụ bền
vững
-Tăng cường các nỗ lực
marketing để biến những
“người xem hàng” thành
người mua hàng thực sự
Công nghệ -Có thể không cần sự mở
rộng vật lý
-Tăng cường các nỗ lực marketing
để biến những “người xem hàng”
thành người mua hàng thực
sựCông nghệ tự động hóa bán
hàng như các hệ thống POS (Point
of Sale)
-Các công nghệ tiền phương
(Front-end)
-Các công nghệ hậu phương
(Back-end)
-Các công nghệ “thông tin”
Quan hệ khách hàng -Quan hệ bền vững hơn nhờ
tiếp xúc trực tiếp
-Dễ dung hòa hơn trong các
cuộc tranh cãi do tính hữu hình
-Mối quan hệ “vật lý”
-Kém bền vững hơn do tiếp
xúc vô danh
-Kém dung hòa hơn trong
các
-Vô danh
-Cần nhiều nguồn lực hơn để
tăng tính trung thành của
khách hàng
Các mặt hàng chủ yếu trong bán lẻ điện tử
Phần cứng và phần mềm máy tính: Là loại sản phẩm số hóa
bán chạy nhất.
Hàng điện tử dân dụng: Máy quay phim, máy in, các thiết bị
không dây
Sản phẩm trang bị văn phòng: Máy in, máy photo, máy đếm
tiền, camera…
Hàng thể thao: Mặt hàng bán rất tốt trên internet thường kết
hợp với bán lẻ trực tuyến.
Sách và âm nhạc: Dễ vận chuyển, ít phải kiểm tra vật lý, mặt
hàng đa dạng, phong phú.
Đồ chơi: doanh thu bán đồ chơi tăng trưởng khả quan nhờ áp
dụng dạng thức kinh doanh hỗn hợp “click and mortor”
Sản phẩm chăm sóc cơ thể và làm đẹp: Là nhóm sản phẩm có
cơ cấu mặt hàng rất phong phú, bao gồm từ vitamin, hàng mỹ
phẩm cho đến đồ nữ trang.
Sản phẩm giải trí: Bao gồm hàng chục sản phẩm, từ vé tham
gia sự kiện đến các trò chơi trả tiền như game online.
Trang phục và quần áo: Thường là mặt hàng được bán nhiều
nhất, có nhiều website tham gia nhất.
Cơ cấu mặt hàng trong bán lẻ điện tử
Nhà bán lẻ điện tử có thể lựa chọn cơ cấu mặt hàng là rộng hay đặc
thù, phụ thuộc vào quan niệm, ý tưởng kinh doanh của từng người. Nhà bán
lẻ phải trả lời câu hỏi: “bán cái gì? Bán cho ai? Và bán như thế nào?”.
Trước hết, nhà bán lẻ cần xác định là họ sẽ bán mặt hàng gì, bán một
loại hàng hay nhiều nhóm hàng khác nhau. Việc xác định mặt hàng sẽ bán
• Thuế phải trả
• Phí bốc dỡ và kiểm hàng.
- Bán hàng: nội dung đơn đặt hàng bao gồm:
• Thông tin khách hàng (thường được trích từ bản ghi chép thông tin khi khách
hàng khai báo, nó cũng bao gồm địa chỉ trong hoá đơn).
• Thông tin hàng hóa (số xác nhận, mô tả hàng, số lượng và đơn giá ).
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
10
• Những yêu cầu về giao hàng, đặc biệt là địa chỉ giao hàng, ngày yêu cần
giaohàng, phương thức giao hàng và đặc biệt yêu cầu bốc dỡ hàng là cần thiết.
• Các điều khoản của hợp đồng bán hàng.
Hình 1.1: Mô hình quá trình đặt hàng trong bán lẻ điện tử
Nguồn: Giáo trình quản trị tác nghiệp B2C trường Đại học Thương Mại
Quy trình quản trị thực hiện đơn hàng
Bao gồm các bước:
- Thông báo xác nhận bán hàng: Sau khi đơn hàng được chấp nhận, bên bán nên thông
báo cho khách hàng thông tin (đã chấp nhận đơn hàng); đưa ra thông báo tới khách
hàng việc đặt hàng là chắc chắn. Có thể thông báo cho khách hàng qua email hoặc
hiển thị trên cửa hàng điện tử thông báo có thể in được.
- Lịch trình và kế hoạch vận chuyển
+ Lịch trình vận chuyển là việc xác định các phương tiện vận tải, lựa chọn nhà
cung cấp dịch vụ vận tải, xác định tuyến vận tải để hàng hóa được gửi đi không bị
chậm trễ và giao hàng hoá tới khách hàng đúng thời gian với chi phí thấp.
+ Kế hoạch vận chuyển: xác định những công việc được đề cập đến trong quá
trình vận chuyển hàng hóa và giao cho khách hàng, thời gian và thời điểm thực hiện
mỗi công việc, bao gồm 3 công việc chính:
Gom hàng và đóng gói.
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
11
Bốc hàng.
hàng có thể được tạo ra trong các tài khoản của khách hàng, giúp khách hàng xem lại
đơn đặt hàng trong quá khứ.
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
12
+ Xử lý đơn đặt hàng trước: Khi mặt hàng hiện thời không có trong kho, khách
hàng cần được thông báo trước khi đặt hàng. Điểu này có thể thực hiện được nếu
doanh nghiệp ứng dụng hệ thống tự động quản trị đơn hàng và kho hàng (theo thời
gian thực). Tuy nhiên trong những tình huống không lường trước, ví dụ hàng hóa
trong kho không khớp với số liệu, hoặc kho hàng vật lý bị phá hủy có thể dẫn tới tình
huống hàng hóa không có trong kho. Người bán cần có chính sách và cách thức giải
quyết các tình huống:
Giữ đơn đặt hàng cho đến khi yêu cầu về hàng hóa được đáp ứng.
Một phần của đơn đặt hàng được thực hiện và phần còn lại được thực
hiện sau. Người bán không được tính phí phần đơn hàng thực hiện sau.
Đề nghị khách hàng các mặt hàng thay thế khác.
Cho phép khách hàng hủy bỏ đơn hàng nếu đơn đặt hàng đã được đặt
và trả lại tiền.
+ Thực hiện đơn hàng từ nguồn lực bên ngoài : Người bán hàng trực tuyến nên
lựa chọn tự mình thực hiện các tác nghiệp thực hiện đơn hàng hay thực hiện bằng
nguồn lực bên ngoài.
- Thay đổi đơn hàng: Trong trường hợp khách hàng muốn thay đổi lại đơn hàng thì
quá trình được thực hiện lặp lại các bước như trên
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
13
Hình 2.2 Quy trình thực hiện đơn hàng
Nguồn: Giáo trình quản trị tác nghiệp B2C trường Đại học Thương Mại
Xử lý thanh toán
- Khó khăn lớn nhất của bán lẻ điện tử chính là tính an toàn trong thanh toán. Vì vậy, các
nhà bán lẻ điện tử cần đảm bảo giao dịch thanh toán điện tử được an toàn thông qua các
hệ thống TMĐT có đảm bảo an toàn thông tin thẻ tín dụng thông qua mã hoá.
Làm lại, chuyển hóa thành vật liệu, hủy bỏ, làm từ thiện, bán cho thị trưởng thứ
cấp hoặc trả lại nhà cung ứng.
Sửa chữa điều chỉnh, tái chế, tái sản xuất…
Sau khi hàng hóa được trả lại, người bán cần trả lại tiền cho khách hàng theo quy
định cụ thể tuỳ từng doanh nghiệp.
+ Trả tiền cho khách hàng:
Khi có yêu cầu trả lại tiền, người bán cần xem xét việc trả lại số tiền khách hàng
đã trả, bao gồm phí vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa, bảo hiểm và những chi phí khác.
Nếu khách hàng đã chấp nhận một phần hợp đồng thì sẽ có sự khác biệt về tổng
số tiền đã thanh toán với tổng số tiền trả lại và số tiền khách hàng sẽ phải trả cho
những hàng hóa đã được vận chuyển.
+ Trả lại hàng sử dụng nguồn lực bên ngoài:
Một số doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực bên ngoài để thực hiện logistics
ngược nếu như chi phí thực hiện thấp hơn lợi ích đạt được. Thông thường những
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
15
công ty thực hiện hoạt động logistic ngược còn thực hiện các dịch vụ bổ sung
khác như tái sản xuất và tân trang lại hàng hóa trả lại.
Một số công ty thứ ba đưa ra dịch vụ cho thuê kho hàng để thu hút dịch vụ trả lại
hàng. Ở đây các hàng hóa trả lại có thể được trục vớt, làm lại hoặc trả lại tới nhà
sản xuất phụ thuộc vào những yêu cầu của khách hàng của họ.
1.5.3 Phân định nội dung
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Phương pháp nghiên cức và các kết quả phân tích thực trạng vấn đề
hoàn thiện quy trình bán lẻ trực tuyến của website www.babyplaza.vn
Chương 3: Các kết luận và đề xuất với vấn đề hoàn thiện quy trình bán lẻ trực
tuyến của website www.babyplaza.vn
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT
QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRANG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Sưu tầm các báo cáo, các bài báo, các bài đánh giá về doanh nghiệp.
Sưu tầm thông tin từ internet: thông tin doanh nghiệp, quy trình quản trị bán lẻ điện tử
2.1.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
- Phương pháp định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS là phần mềm chuyên dụng xử
lý thông tin sơ cấp thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn.
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
17
+ Ưu điểm: Đa năng và mềm dẻo trong việc lập các bảng phân tích, sử dụng các
mô hình phân tích đồng thời loại bỏ một số công đoạn không cần thiết mà một số
phần mềm khác gặp phải.
+ Nhược điểm: Sử dụng các hàm tính toán không thuận tiện, dễ nhầm lẫn, sai sót.
- Phương pháp định tính: Phân tích, tổng hợp các dữ liệu thu thập được thông qua
các câu hỏi phỏng vấn chuyên sâu.
+ Ưu điểm: Có thể phát hiện những chủ đề quan trọng mà người nghiên cứu chưa
bao quát được, hạn chế các sai số do ngữ cảnh do tạo được môi trường thoải mái nhất
cho đối tượng phỏng vấn.
+ Nhược điểm: Mẫu nghiên cứu thường nhỏ hơn, câu trả lời thường không tổng
quát và khách quan.
2.1 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến vấn đề nghiên
cứu
2.1.1 Tổng quan tình hình thực hiện quy trình bán lẻ tại các website bán lẻ trực tuyến
khác trong và ngoài nước
Theo “Báo cáo TMĐT Việt Nam 2008” của Bộ Công Thương cho thấy tỷ lệ các
doanh nghiệp Việt ứng dụng Thương mại điện tử ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê,
doanh thu từ Thương mại điện tử trên toàn thế giới trong năm 2000 là gần 280 tỉ USD, năm
2001 là gần 480 USD, năm 2002 là gần 825 tỉ USD, năm 2003 là hơn 1.400 tỉ USD, năm
2004 là gần 2.400 tỉ USD và trong năm 2005 là gần 4.000 tỉ USD. Các số liệu này cho thấy
thương mại điện tử tăng trưởng gần 70% mỗi năm. Ở châu Âu, Pháp là một nước đi đầu
trong phát triển Thương mại điện tử. Theo số liệu thống kê tại Pháp, đã có hơn 15.000
người dân nước này mỗi năm chi 25% thu nhập cho các hoạt động thương mại điện tử. Tại
dù bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu song năm vừa qua thị trường bán lẻ Việt
Nam vẫn xuất hiện nhiều thương hiệu quốc tế mới như Naf Naf, Morgan de Toi, Mexx,
Aldo, Hard Rock Café, Debenhams Điều này cho thấy chắc chắn trong năm 2010 sẽ có
thêm nhiều nhà bán lẻ cao cấp nước ngoài tham gia vào thị trường bán lẻ Việt Nam trên
bản đồ thế giới về dịch vụ bán lẻ.
Nếu theo mức thông thường, mỗi 100.000 người dân cần có một trung tâm thương
mại lớn, cứ 10.000 người dân cần có một siêu thị và mỗi 1.000 người dân cần có ít nhất 1-3
cửa hàng tiện lợi thì sẽ thấy con số các loại hình bán lẻ Việt Nam còn xa mới đáp ứng nhu
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
19
cầu thì thị trường Việt Nam đúng là còn rất nhiều khoảng trống mời gọi các nhà đầu tư
trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận thị trường bán lẻ Việt Nam cũng còn vô số thách
thức: tính chuyên nghiệp còn yếu (phong cách tiểu thương vẫn còn dai dẳng), thiếu nguồn
nhân lực và kinh nghiệm quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin (hơn 2/3 các DN bán lẻ
chưa sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý), thương mại điện tử, kỹ năng bán lẻ và
xây dựng thương hiệu, nguồn lực tài chính, cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế
Thêm vào đó, yêu cầu của người tiêu dùng cũng ngày một khắt khe hơn sau rất
nhiều “biến cố” về chất lượng hàng hóa, về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như những tác
hại nghiêm trọng về môi trường. Những sản phẩm được hướng tới không chỉ đơn thuần là
đẹp về hình thức, cạnh tranh về giá thành mà hơn thế nữa, đó phải là những sản phẩm an
toàn, xanh, sạch, thân thiện với môi trường.
2.1.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài đến quy trình quản trị bán lẻ
hàng điện tử máy gia dụng tại website www.babyplaza.com
2.12.1 Yếu tố kinh tế
Năm 2008, 2009 đánh dấu sự điều chỉnh của kinh tế thế giới với khủng hoảng tài
chính bắt nguồn từ Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam cũng bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp. Vì vậy TMĐT được nhiều doanh nghiệp coi là công cụ hữu ích nhằm đưa doanh
nghiệp nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng. Đối với không ít các doanh nghiệp thì
khủng hoảng được xem như một cơ hội để tái cấu trúc, hoàn thiện và phát triển.
thể phục vụ tốt hơn cho kinh doanh
2.1.2.4 Yếu tố văn hoá xã hội
Theo mạng Visa, Việt Nam là nước đứng thứ ba về tốc độ phát triển thương mại điện tử
trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ. Với cơ cấu dân số
trẻ (60% dưới 30 tuổi), năng động trong tiêu dùng và nhạy bén trong ứng dụng công nghệ
mới, Việt Nam có khoảng 20 triệu người (chiếm 22,7% dân số) sử dụng Internet thường
xuyên. Tính đến năm 2007, đã có 92% doanh nghiệp có kết nối Internet, trong đó 82%
dùng dịch vụ ADSL. Đây là tiềm năng phát triển của thương mại điện tử. Tuy vậy, vấn đề
tâm lý khách hàng là vấn đề khó khăn nhất trong TMĐT, hiện nay tâm lý mua hàng phải sờ
tận tay vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong khách hàng. Hầu hết mọi người vẫn lo sợ khi mua hàng
trên mạng về vấn đề an toàn thông tin cá nhân, ngay cả các doanh nghiệp cũng không phải
doanh nghiệp TMĐT nào cũng nhận thức đúng đắn về bảo vệ thông tin cá nhân cho người
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
21
tiêu dùng.Đây là 1 yếu tố có thể gây khó khăn với việc bán hàng của website
www.babyplaza.com
2.1.2.5 Đối thủ cạnh tranh
Cạnh tranh là yếu tố tất yếu của thị trường, các doanh nghiệp để có vị thế tốt trong
ngành đỏi hỏi phải nâng cao năng lực tranh. Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp kinh
doanh cùng nhóm hàng, cùng chung thị trường. Bước vào kinh doanh trong lĩnh vực TMĐT
các doanh nghiệp phải đối mặt với một lượng lớn các đối thủ cạnh tranh. Các đối thủ cạnh
tranh của www.babyplaza.com là tất cả các cửa hàng bán đồ trẻ em trên khắp địa bàn Hà
Nội và các thành phố lớn , và 1 số website có cùng mặt hàng Kinh doanh trên thị trường
TMĐT các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau chủ yếu về giá các và các dịch vụ sau bán.
Đối với thị trường nước ta, người dân còn lạ lẫm trong việc mua sắm trực tuyến chính vì
vậy mà yếu tố thương hiệu được đánh giá cao. Yếu tố cạnh tranh của www.babyplaza.com
là cạnh tranh về giá với mục tiêu đưa ra giá thấp nhất trên thị trường
2.1.2.6Khách hàng
Khách hàng của www.babyplaza.com chủ yếu là: những người độ tuổi từ 20 đến 35,
chuẩn bị hoặc đã lập gia đình và có quan tâm đến công nghệ
23
4. Để thực hiện việc giao hàng công ty thu thập những thông tin gì?
5. Công ty có lên lịch trình và kế hoạch cho việc vận chuyển đơn hàng?
6. Công ty đang áp dụng loại hình thanh toán nào cho khách hàng?
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
24
7. Hoạt động nào gặp trở ngại trong việc quá trình quản trị bán lẻ của công ty?
Nhận xét: Qua các kết quả từ phiếu điều tra nhận thấy doanh nghiệp đã có những
quan tâm cụ thể đến hoạt động thương mại điện tử, đặc biệt là có những nghiên cứu cụ thể
để triển khai bán hàng thông website www.babyplaza.com như nghiên cứu về khách hàng ,
về nguồn cung ứng, về các vấn đề hậu cần tuy nhiên việc thanh toán vẫn chủ yếu là thanh
toán trực tiếp chưa có thanh toán trực tuyến trên website.
CHƯƠNG III: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỚI VẤN
ĐỀ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH BÁN LẺ TẠI WEBSITE
www.babyplaza.vn
3.1 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu
3.1.1 Những kết quả đạt được:
Cao Văn Anh K45I2 ĐH Thương Mại
25
Tuy mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn nhưng website www.babyplaza.com
cũng đạt được một số những kết quả khá tốt như:
- Hoàn thiện được đẩy đủ các tính năng của một webiste thương mại điện tử có giỏ hàng
cho phép khách hàng có thể đặt hàng trực tiếp qua mạng.
- Website Công ty có giao diện dễ nhìn đơn giản, rõ ràng, màu sắc hài hòa, các thông tin
về sản phẩm được thể hiện ngay trên trang chủ giúp khách hàng dễ dàng truy cập thông
tin về sản phẩm tạo sự thuận tiện nhất cho khách hàng, nhất là đối với những khách
hàng mới làm quen với hình thức mua hàng trực tuyến.
- Xây dựng được mô hình website cung cấp đầy đủ nhất tất cả các sản phẩm cho bà mẹ
và trẻ em tại Việt Nam
- Cung cấp các sản phẩm ra thị trường với mức giá thấp nhất có thể tạo lợi thế cạnh