1
MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.
Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích, phạm vi, đối tượng, phương pháp nghiên cứu 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
Chương 1. Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT thông
qua hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT 2
1.1. Các khái niệm cơ bản 2
1.2.Cơ sở lý luận 6
Chương 2. Thực trạng giáo dục KNS cho học sinh trường THPT Ngô Gia
Tự thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 9
2.1. Khái quát đặc điểm tình hình về việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh của trường THPT Ngô Gia Tự 9
2.2. Thực trạng về kỹ năng sống của học sinh THPT Ngô Gia Tự nói riêng , học
sinh THPT nói chung 9
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng KNS của học sinh trường THPT Ngô Gia Tự 10
Chương 3. Một số biện pháp giáo dục KNS cho học sinh trườngTHPTNgô
Gia Tự thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 14
3.1. Biện pháp 1: 14
3.2. Biện pháp 2: 14
3.3. Biện pháp 3: 18
3.4. Biện pháp 4: 18
3.5. Biện pháp 5: 19
3.6. Biện pháp 6: 20
Hoạt động ngoài giờ lên lớp
3
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia
tăng, đặc biệt là ở các đô thị và thành phố lớn, đã xuất hiện những vụ án giết người,
cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là bạn học và
thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó, sự bùng phát hiện tượng học sinh phổ thông hút
thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục sớm, thậm chí tự sát khi
gặp vướng mắc trong cuộc sống. Nhiều em khi gặp tình huống có vấn đề, khả năng
tự chủ và kỹ năng giao tiếp khiêm tốn, các em sẵn sàng đánh nhau, chửi bậy, sa đà
vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống Thậm chí, có những
việc rất đơn giản nhưng các em rất lúng túng hoặc không giải quyết được. Vì sao như
thế ? Có rất nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân không thể phủ nhận
đó là thực tế trường học hiện nay nặng dạy chữ, nhẹ dạy người, chưa quan tâm đúng
mức dạy học sinh học làm người như thế nào. Theo các chuyên gia giáo dục, nguyên
nhân sâu xa là do các em thiếu kỹ năng sống.
Từ năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh phổ thông với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là của Unicef tại
Việt Nam. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện bằng việc khai thác
nội dung của một số môn học có ưu thế như môn học giáo dục công dân, các môn
khoa học xã hội Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu xây dựng chương
trình giáo dục kĩ năng sống để đưa vào chương trình giáo dục phổ thông theo hình
thức tích hợp ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy
KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL
Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
Ngô Gia Tự thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các KNS cơ bản cần giáo
dục cho học sinh THPT là: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giáo tiếp, kĩ năng đương
đầu với cảm xúc, căng thẳng và kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực cho
học sinh THPT Ngô Gia Tự thông qua hoạt động giáo dục NGLL được thực hiện với
chương trình hoạt động giáo dục NGLL lớp 10, lớp 11
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu lý luận; phương pháp
nghiên cứu thực tiễn; phương pháp hỗ trợ
5
trình này không quá coi trọng vấn đề tri thức, nhưng lại rất chú trọng kỹ năng cụ thể.
+ Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi nhiều lực
lượng tham gia.
1.1.3. Kỹ năng giao tiếp
- Là kỹ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗi
người khi tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗi
người; khả năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác.
6
- Nội dung cụ thể bao gồm xây dựng tình bạn, tạo sự cảm thông, ngăn chặn và
làm chủ bản thân trước sự lôi kéo, cám dỗ không lành mạnh, trao đổi tranh luận giải
quyết xung đột không cần bạo lực, giao tiếp hiệu quả, biết lắng nghe hợp lý.
1.1.4. Kỹ năng ra quyết định
Bao gồm 3 bước:
- Thu thập thông tin càng đầy đủ càng tốt. Nếu thông tin được tập hợp đầy đủ
thì đảm bảo quá nửa cho việc quyết định thành công trong quyết định.
- Đưa ra hệ thống các giải pháp, hướng đi để cân nhắc khách quan các khả
năng có thể khi quyết định. Có suy nghĩ độc lập, sáng tạo.
- Chọn giải pháp tối ưu hoặc phù hợp với điều kiện cụ thể mà bản thân tâm đắc
nhất. Sau đó tập trung mọi nguồn lực để giải quyết theo hướng đã chọn, tránh việc
thay đổi lớn trong quá trình thực hiện.
1.1.5. Kỹ năng xác định giá trị
- Là khả năng nhận biết giá trị của điều mà mình cho là quan trọng cần giữ gìn
và phát huy. Từ đó có thái độ, hành vi để bảo vệ các giá trị đó. Biết bảo vệ cái đúng,
phê phán cái sai một cách hợp lý là kỹ năng xác định giá trị.
- Cách thức xác định: Tìm hiểu các khía cạnh của giá trị quan tâm. Trao đổi,
kiểm nghiệm bằng cuộc sống bản thân, ghi nhận và bổ sung, cập nhật, mở rộng (nếu
có)
- Sử dụng: Vận dụng vào cuộc sống để có được kết quả và cập nhật thông tin
1.1.8. Kỹ năng làm chủ bản thân
- Tuân theo những quy luật chung, cơ bản để tìm ra chỗ dựa vững chắc cho bản
thân. Từ đó có được sự kiên định để làm chủ bản thân.
- Ranh giới giữa làm chủ và không tự chủ bản thân là rất mong manh. Nếu
không có tri thức tương xứng với công việc thì khó tự chủ. Đồng thời sự trung thực,
tự giác là gốc của sự tự chủ. Không lừa dối chính mình là cơ sở của sự tự chủ.
- Có sự độ lượng, tử tế với người khác là điều kiện cần của sự làm chủ bản
thân. Đó chính là sự kiềm chế bản thân để tạo ra sự đồng thuận cộng đồng trong
khuôn khổ có thể chấp nhận được.
- Không biết làm chủ trong trường hợp rủi ro, có nỗi buồn thì sẽ đánh mất một
phần cuộc sống. Lo âu sẽ làm người ta sinh bệnh, ai không chiến thắng lo âu thì
người đó sẽ tổn thọ.
1.1.9. Kỹ năng hợp tác
Kỹ năng này là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng
làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm.
1.1.10. Kỹ năng quản lí thời gian
Kỹ năng này là khả năng con người biết sắp xếp các công việc theo thứ tự ưu
tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một thời gian nhất định.
Kỹ năng này rất cần thiết cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, đặt mục tiêu và
đạt được mục tiêu đó; đồng thời giúp con người tránh được căng thẳng do áp lực
công việc.
1.1.11. Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
Kỹ năng này là khả năng giúp học sinh nhận thức được nguyên nhân nảy sinh
mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo
lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa
các bên một cách hòa bình. Kỹ năng này đòi hỏi học sinh phải biết kiềm chế cảm xúc,
8
tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân
- Sự căng thẳng sẽ làm người ta tập trung vào công việc hoặc huỷ diệt một
phần của cuộc sống. Điều đó phụ thuộc vào việc người đó có vượt qua được sự căng
thẳng với ứng xử hợp lý và đem lại kết quả tích cực, hoặc bị thất bại, không vượt qua
được do thiếu kỹ năng đó.
- Sự căng thẳng thể hiện ở: Thể chất, tình cảm, tư duy.
9
- Giải toả sự căng thẳng: Xác định nguyên nhân, các giải pháp, đặt mục tiêu
sau giải quyết căng thẳng, tập trung xử lý theo khả năng có thể đã chọn (tiếp tục vượt
qua để đạt mục tiêu loại từ chối).
1.1.18. Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
Kỹ năng này là khả năng con người thể hiện sự tự tin, chủ động và ý thức cùng
chia sẻ công việc với các thành viên khác trong nhóm. Khi đảm nhân trách nhiệm,
cần dựa trên những điểm mạnh, tiềm năng của bản thân, đồng thời tìm kiếm thêm sự
giúp đỡ cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.
1.1.19. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ
Kỹ năng này sẽ giúp học sinh nhận được những lời khuyên, sự can thiệp cần
thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của mình. Đồng thời giúp các
em được chia sẻ, giải bày những khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lí do bị
dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ sẽ giúp học sinh không cảm thấy đơn độc,
bi quan.
1.1.20. Kỹ năng thể hiện sự tự tin
Giúp học sinh giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn trình bày suy nghĩ và ý kiến
của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề; có niềm tin về
tương lai, có suy nghĩ tích cực và có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ.
1.1.21. Kỹ năng tư duy phê phán
Kỹ năng này là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn
đề, sự vật, hiện tượng,…xảy ra. Kỹ năng này rất cần thiết để con người có thể đưa ra
được những quyết định, những hành động phù hợp. Nhất là trong xã hội hiện đại
trường nói chung đều chú trọng nhiều hơn đến việc hướng các em tham gia các hoạt
động xã hội, tìm hiểu thêm về quê hương, đất nước, con người, tham gia giúp đỡ trẻ
em nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
1.2.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống
Gồm các tri thức về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa các con người
với nhau; thái độ tích cực của mỗi cá nhân đối với lối sống có văn hoá của xã hội; tự
nâng cao ý thức và khả năng của học sinh; góp phần phát triển, hoàn thiện thêm các
khả năng ứng xử tích cực của các em trước các tình huống gặp phải trong cuộc sống
hàng ngày.
Giáo dục khả năng thích ứng của con người trước những thay đổi liên tục của
cuộc sống hàng ngày để họ chủ động và sáng tạo trong mọi hành động, biết suy nghĩ
đúng và hành động đúng.
Giáo dục năng lực tư duy sáng tạo, phê phán và năng lực tự đánh giá bản thân,
tự khẳng định mình.
Giáo dục cách sống với người khác mình; giáo dục về bảo vệ môi trường và sự
an toàn của trái đất; giáo dục về sức khỏe và phòng chống các tệ nạn xã hội; giáo dục
lối sống lạc quan yêu đời….
1.2.4. Vai trò và chức năng của hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo
dục ở nhà trường phổ thông, là bộ phận không thể thiếu được trong kế hoạch Giáo
dục - Đào tạo của nhà trường; tạo sự thống nhất giữa giáo dục và dạy học, giữa giáo
dục trong nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, giữa thời gian trong năm học và
thời gian hè. Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giúp nhà trường huy
động các nguồn lực để giáo dục học sinh về mọi mặt, nhằm xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là môi trường hoạt động của người học.
Hoạt động chỉ tạo ra sự thay đổi ở người học khi người học tham gia tự giác tích cực
và chủ động trong quá trình hoạt động.
1.2. 5. Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT
- Nhiệm vụ giáo dục về nhận thức
đường xoáy trôn ốc với mục tiêu, nội dung hoạt động ngày một nâng cao dần. Nội
dung hoạt động được thiết kế mang tính hệ thống, tính kế thừa, những kết quả hoạt
động giáo dục ở lớp trước là cơ sở, là tiền đề để tiến hành hoạt động giáo dục ở lớp
sau, đồng thời những nội dung hoạt động ở lớp sau nhằm củng cố các kết quả ở lớp
dưới.
Nội dung giáo dục không đơn thuần là một nội dung giáo dục mà được tích
hợp từ nhiều nội dung khác nhau: Giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống tôn sư
trọng đạo, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục quyền,bổn phận, giáo dục giới tính, giáo
dục hướng nghiệp, giáo dục sức khoẻ sinh sản, giáo dục môi trường, phòng chống các
tệ nạn xã hội, giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, giáo dục ý thức trách nhiệm
của người công dân đối với đát nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
v.v Các nội dung trên được tích hợp lồng ghép trong nội dung hoạt động mặc dù tên
hoạt động có thể chỉ lấy tên một nội dung cụ thể. Vì vậy, giáo viên tổ chức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp có nhiệm vụ phải căn cứ vào chủ đê, lựa chọn nội dung
12
hoạt động chính và các nội dung giáo dục cần tích hợp để tổ chức hoạt động cho học
sinh.
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được chuyền tải qua kế hoạch
hoạt động và kịch bản hoạt động, vì vậy khi xây dựng kế hoạch hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp phải thể hiện được những nội dung cơ bản của hoạt động, thể
hiện ý tưởng sư phạm và mục tiêu cần đạt được của hoạt động. Kế hoạch hoạt động
được thực thi qua kịch bản, nhưng sự thành công của kịch bản lại phụ thuộc vào vai
trò của người dẫn chương trình, do đó để nội dung hoạt động thực sự đi vào thực tiễn
hoạt động thì vai trò của người dẫn chương trình và người tổ chức rất quan trọng vì
họ góp phần không nhỏ vào sự thành công của hoạt động. Do đó giáo viên chủ nhiệm
lớp hay nhà sư phạm cần quan tâm đến bồi dưỡng năng lực tổ chức, năng lực điều
khiển hoạt động cho học sinh.
phần ngoan ngoãn, lễ phép, chăm chỉ học tập, sống có hoài bão, có lý tưởng vì một
ngày mai.
Về công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở nhà trường trong những
năm gần đây được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm. Nhà trường đã xây dựng kế
hoạch, chỉ đạo trực tiếp đến tổ chuyên môn, Đoàn thanh niên và giáo viên tổ chức
tích hợp, lồng ghép giáo dục kỹ năng qua các môn học chính khóa, qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp nên đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên công tác giáo
dục còn mang tính hình thức, chỉ chú trọng về mặt kiến thức khoa học, chưa quan
tâm nhiều những kỹ năng cơ bản cần phải có của một học sinh như: kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng nghe, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng
lao động, kỷ năng tổ chức các hoạt động… . Một số giáo viên chưa quan tâm nhiều
đến giáo dục kỹ năng sống cho các em. Vì vậy, nhà trường cần phải đa dạng hóa các
phương pháp, đa dạng về hình thức tổ chức, nội dung phong phú phù hợp với thực
tiễn cho học sinh hiện nay.
2.2. Thực trạng về kỹ năng sống của học sinh THPT Ngô Gia Tự nói riêng
, học sinh THPT nói chung
Hiện nay hầu hết mỗi gia đình chỉ có 1 đến 2 con. Vì vậy các em được nuông
chiều, hầu hết các công việc đơn giản trong gia đình đều được bố mẹ hoặc người nhà
lo chu đáo. Chính vì thế các em ỷ lại, ít làm việc, ít lao động, chỉ chờ có sẵn. Trong
học tập, các em chưa biết cách tổ chức học tập sao cho hiệu quả; khi tổ chức hoạt
động lao động ở nhà trường các em lúng túng; khi xảy ra các tình huống các em xử lý
cảm tính, dẫn đến mâu thuẫn, cao hơn xảy ra bạo lực học đường. Nhìn chung kỹ năng
sống của các em còn nhiều hạn chế về kiến thức cũng như kỹ năng thực hành
Trong những năm qua, mặc dù nhà trường đã chú ý cải tiến về nội dung và
hình thức hoạt động NGLL nhằm nâng cao hiệu qủa giáo dục và thu hút sự tham gia
của học sinh. Song những cải tiến đó chỉ là bộ phận thiếu tính hệ thống và nhất là
chưa khai thác hết tiềm năng của học sinh. Do đó vai trò chủ thể hoạt động của học
sinh nhiều khi bị mờ nhạt, nhất là trong các tiết sinh hoạt. Giáo viên thường lặp đi
lặp lại một vài hình thức hoạt động đơn giản như: Sơ kết lớp, vui văn nghệ, tuyên
dương khen thưởng học sinh Nội dung hoạt động ít thay đổi, hình thức hoạt
các thắc mắc liên quan đến chủ đề này. Những vấn đề các em quan tâm là: Làm thế
nào để hòa mình trong nhóm bạn; để cho bạn hiểu về mình hơn; cảm thấy bố mẹ,
thầy cô không tin tưởng; cảm thấy hoang mang trước cuộc sống.Tuy nhiên không
phải em nào cũng tìm đến tổng đài.Vì vậy nhà trường cần trang bị cho các em những
kỹ năng sống nhất định để các em tự tin hơn trong cuộc sống.
* Nguyên nhân thực trạng
Nhà trường chú trọng chủ yếu dạy “chữ” chưa quan tâm đến dạy “người”.
Nuông chìu của bố mẹ, làm thay cho con cái.
Áp lực của công việc học tập quá nhiều.
Một số giáo viên chưa quan tâm đúng mức, nội dung giáo dục còn nghèo, hình
thức chưa phong phú, chưa thật sự thu hút được học sinh.Vì thế cần có giải pháp giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh.
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng KNS của học sinh trường THPT Ngô Gia
Tự
Để đánh giá về thực trạng KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp, đề tài đã tiến hành khảo sát 100 học sinh của trường THPT Ngô
15
Gia Tự đầu năm học( tháng 9/ 2013). Nội dung khảo sát tập trung vào 2 vấn đề: nhận
thức của học sinh về KNS; đánh giá thực trạng KNS của hoc sinh (phụ lục 1). Kết
quả khảo sát như sau:
2.3.1. Nhận thức mức độ cần thiết của giáo dục kỹ năng sống
Bảng 1: Các mức độ cần thiết của kỹ năng sống
STT Mức độ của sự cần thiết Số lượng 100 Tỉ lệ
1 Rất cần 75 75%
2 Cần 22 22%
3 Có cũng được, không cũng được 3 3 %
4 Không cần thiết 0 0
Kết quả bảng 1 cho thấy đa số học sinh đều nhận thức được sự cần thiết của kỹ
nhận thức về bản thân và đảm nhận trách nhiệm của các em còn hạn chế. Dựa vào kết
quả khảo sát cũng như xem xét thực tế kỹ năng sống của các em học sinh trong
trường , tôi tiếp tục điều tra nhận thức của các em về kỹ năng các em biết cao nhất(
kỹ năng giao tiếp một nhu cầu hết sức quan trọng trong đời sống của các em) và một
vài kỹ năng khác dưới góc độ nhà quản lý tôi thấy cần có biên pháp tác động
Bảng 3. Nhận thức của em về kỹ năng giao tiếp qua các cách ứng xử
STT Kỹ năng giao tiếp Số lượng Tỉ lệ
1
Ứng xử với đối tượng giao tiếp tôn trọng và
ngang hàng
100 100%
2 Dùng lời nói và điệu bộ 100 100%
3 Nhìn thẳng vào mặt 51 51%
4 Nghe họ nói bằng cả trái tim và đôi tai 40 40%
5 Nói nhiều hơn nghe 50 50%
6 Ngắt lời khi họ đang nói 15 15%
7 Không chú ý lắng nghe 70 70%
8
Sử dụng từ ngữ chưa đúng mực khi giao
tiếp.
20 20%
Kết quả bảng 3 cho thấy các cách ứng xử của các em khi thưc hiện kỹ năng
giao tiếp còn hạn chế ở chỗ: không dám nhìn thẳng vào mặt đối tượng giao tiếp
chứng tỏ các em thiếu tự tin. Đặc biệt những cách ứng xử nói nhiều hơn nghe, ngắt
lời khi người khác nói hay chưa chú ý lắng nghe người khác nói, chưa đặt trái tim
mình vào nội dung giao tiếp dễ tạo sự khó chịu, mất lịch sự, thiếu thiện cảm trong
giao tiếp.
Bảng 4: Kỹ năng tự nhận thức về bản thân
Không biết Biết không rõ Biết rõ
6 Bỏ đi để tránh đụng độ 55 55%
7 Kìm nén bực tức của bản thân 50 50%
8 Tìm hiểu nguyên nhân 45 45%
9 Lắng nghe giải thích của người kia 53 53%
10 Sau vài ngày rồi mới giải quyết mâu thuẫn 67 67%
Kết quả bảng 5 cho thấy các em có nhiều cách lựa chọn hành động khi giải
quyết mâu thuẫn. Tuy nhiên những cách chọn cãi nhau và đánh nhau hoặc cãi nhau
không nhìn mặt nhau tuy tỉ lệ ít nhưng hậu quả cách giải quyết đó thật khó lường dễ
gây tổn thương thể xác, gây bạo lực học đường, tổn thương quan hệ bạn bè.
Bảng 6: Kỹ năng ứng phó với tình huống căng thẳng
Hãy xác định cách mà em thường thể hiện khi gặp căng thẳng.
STT
Cách thể hiện
Số lượng
Tỉ lệ
1 Khóc 56 56%
2 Tâm sự với bạn thân 67 67%
3 Cố găng giải thích 23 23%
4 Uống rượu 45 45%
5 Hút thuốc lá 53 53%
6 Bỏ đi khỏi nhà 24 24%
7
Nh
ờ thầy cô giúp đỡ 15 15%
8 Đập phá đồ đạc 22 22%
9 Tự hành hạ mình 43 43%
18
19
CHƯƠNG 3
MỘT SÓ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Dựa trên kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn tổ chức hoạt động NGLL của
trường THPT Ngô Gia Tự trong những năm qua đặc biệt năm học 2013-2014, tôi
trình bày một số biện pháp giáo dục KNS cho học sinh trường chúng tôi thông quan
hoạt động giáo dục NGLL dưới đây:
3.1. Biện pháp 1: Đổi mới quan niệm về giáo dục KNS; nâng cao nhận
thức về quan điểm tích hợp trong giáo dục KNS cho học sinh THPT thông qua
hoạt động NGLL
Ngay từ đầu năm học Hiệu trưởng nhà trường xác định giáo dục KNS cho học
sinh là nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường. Từ đó, có kế hoạch chỉ đạo thực
hiện giáo dục KNS cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục NGLL.Giao trách
nhiệm cho Tổ Ngữ văn phối hợp Đoàn trường và các tổ chuyên môn xây dựng Kế
hoạchHĐNGLL( phụ lục 3).
Nhà trường đặt ra yêu cầu cấp thiết và đòi hỏi sự đổi mới đa dạng về nội dung,
hình thức cũng như sự kết hơp hài hòa giữa hoạt động NGLL với giáo dục KNS. Gắn
- Thiết kế hình thức tổ chức các ngày kỉ niệm trong năm
Các ngày kỷ niệm trong năm là dạng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo
biên chế năm học. Theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo ngay từ đầu năm học
nhà trường đã lên kế hoạch tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn như: 3/2; 8/3; 26/3; 30/4;
1/5; 19/5; 27/7; 20/11; 1/12; 22/12. Tuỳ theo điều kiện cụ thể, việc tổ chức các hoạt
động này chúng tôi áp dụng các biện pháp và hình thức tổ chức linh hoạt khác nhau.
-Kỉ niệm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 3/2
Hình thức 1:
+/Trong giờ chào cờ đầu tuần, chi bộ mời người nói chuyện cho học sinh về
vai trò Đảng cộng sản Việt nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây
dựng đất nước theo con đường chủ nghĩa xã hội.
+/Văn nghệ mừng Đảng, mừng xuân.
Hình thức 2:
+/Chung kết cuộc thi hùng biện “Thanh niên với lý tưởng cách mạng”.
+/Văn nghệ mừng Đảng, mừng xuân.
-Kỉ niệm ngày quốc tế phụ nữ 8/3
Hình thức 1:
+/Ban nữ công nói chuyện về chủ đề: lịch sử ngày 8/3, truyền thống anh
hùng bất khuất, trung hậu, đảm đang của phụ nữ Việt Nam.
+/Hội thi “Đôi tay khéo léo” dành cho nam học sinh. Đây là cuộc thi về ứng xử
trong gia đình và kỹ năng nấu ăn.
Hình thức 2:
+/Toạ đàm về “Công - Dung - Ngôn - Hạnh” trong cuộc sống hiện đại.
+/Tổ chức thi cắm hoa, thiết kế thời trang học sinh
-Kỉ niệm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3
Hình thức 1: Hội trại: Tổ chức cho các chi đoàn học sinh cắm trại với các hoạt
động phong phú như: hoạt động thể dục thể thao, văn hóa, văn nghệ; khai
thác các trò chơi dân gian theo nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Hình thức 2:
+/Các lớp thi viết báo tường, nội san với chủ đề “Thầy cô và mái trường”.
+/Giao lưu với học sinh cũ về kỷ niệm, truyền thống của nhà trường, trao đổi
với học sinh về phương pháp học tập.
- Hưởng ứng ngày phòng chống HIV - AIDS 1/12
Hình thức 1:
Chiếc nón kỳ diệu: thi giải ô chữ với chủ đề “Ma tuý - HIV/AIDS thảm hoạ
của loài người”.
Hình thức 2:
22
+/Cuộc thi “HIV/AIDS và thái độ của chúng ta” giúp học sinh có kiến thức và
kỹ năng tự bảo vệ bản thân trước căn bệnh thế kỷ.
+/Hái hoa dân chủ.
-Kỉ niệm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22/12.
Hình thức 1:
+/Thi đua giữ gìn kỷ luật, hành quân bằng điểm số “Noi gương anh bộ đội cụ
Hồ”.
+/Mời thầy cô đã ở trong quân ngũ nói chuyện.
Hình thức 2: Mít tinh kỷ niệm ngày Quốc phòng toàn dân.
Hình thức 3: Tuyên truyền ca khúc cách mạng với chủ đề truyền thống quân
đội nhân dân Việt Nam.
Hình thức 4: Tham quan Vùng 4 Hải quân, học sinh nghe nói chuyện truyền
thống, chương trình “Chúng em tập làm chiến sỹ”
*) Thiết kế hình thức tổ chức diễn đàn thanh niên, nói chuyện thời sự
Việc tổ chức diễn đàn và nói chuyện thời sự gắn với các chủ đề của chương
trình hoạt động giáo dục NGLL. Trong một năm học, chương trình hoạt động giáo
dục NGLL của một khối lớp ở trườngTHPT Ngô Gia Tự thường tổ chức 3 đến 4 diễn
đàn thanh niên hoặc tổ chức nói chuyện thời sự theo chủ đề. Các hình thức tổ chức
diễn đàn được thiết kế linh hoạt nhằm tránh nhàm chán cho học sinh. Chúng tôi thay
đoàn mang đến hội thi các chậu cây cảnh do chi đoàn mình chăm sóc trong suốt năm
học; tổ chức trình diễn thời trang với chủ đề môi trường; hình thức thi viết, thi vẽ
tranh với chủ đề môi trường; ngày chủ nhật xanh,học sinhtình nguyện lao động vệ
sinh môi trường nhằm hưởng ứng “Tuần lễ quốc gia nước sạch và vệ sinh môi
trường”.
*) Thiết kế hình thức tổ chức hoạt động cắm trại, tham quan du lịch
Hoạt động cắm trại chúng tôi tổ chức mỗi năm một lần, đây là một hoạt động
được học sinh và phụ huynh rất hoan nghênh. Trong hội trại có rất nhiều hoạt động
bổ ích: chương trình “nối nhịp trái tim”, chương trình “sân chơi âm nhạc”, chương
trình thể thao, thi nấu cơm, hát dân ca dân vũ, chương trình lửa trại, múa sạp Qua
hội trại các em vừa được vui chơi, vừa có cơ hội thể hiện năng khiếu, phát huy được
tính năng động, sáng tạo của bản thân và trí tuệ tập thể, tinh thần đoàn kết tương trợ
giữa các bạn trong lớp, các bạn khác lớp được thể hiện rất rõ qua các hoạt động
chung.
Chúng tôi tổ chức cho học sinh tham quan Hòn Ngọc Việt Nha Trang, thăm
Vùng 4 Hải Quân, học làm chiến sĩ. Qua hoạt động, học sinh rèn được tính kỷ luật,
phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong hoạt động, cách làm việc
độc lập, cách làm việc theo nhóm. Đặc biệt qua hoạt động tham quan du lịch những
kiến thức các em được học ở trường trong giờ chính khoá được khắc sâu, củng cố và
mở rộng, ngoài ra các em còn thu lượm được các kiến thức xã hội, ý thức chủ quyền
biển đảo, định hướng nghề nghiệp trong tương lai, kinh nghiệm sống, kỹ năng ứng xử
trong các tình huống phát sinh, vốn ngoại ngữ của các em được phát huy.
*) Thiết kế hình thức tổ chức câu lạc bộ bộ môn, sân chơi trí tuệ
Các tổ chuyên môn căn cứ kế hoạch tổng thể của trường, xây dựng kế hoạch
hoạt động các câu lạc bộ của bộ môn ngay từ đầu năm cho các khối lớp. Chẳng hạn
qua câu lạc bộ “Nhà ảo thuật tài ba” học sinh được hướng dẫn làm các thí nghiệm hoá
học và phát triển khả năng tư duy, củng cố kiến thức.
Đặc biệt chúng tôi quan tâm tổ chức các câu lạc bộ theo môn học:
+ Môn Toán: Sinh hoạt dưới hình thức báo dán và ra nội san theo tháng, đề
cập chủ yếu đến phương pháp học bộ môn, các bài toán tiêu biểu - các cách giải hay,
- Căn cứ vào phân phối chương trình hoạt động giáo dục NGLL của từng khối
lớp, người thiết kế phân tích các nội dung và hình thức hoạt động của từng chủ đề
thuộc chương trình để xác định có thể thiết kế được các chủ đề giáo dục KNS nào
làm cơ sở cho việc tích hợp vào nội dung hình thức hoạt động của chủ đề hoạt động
giáo dục NGLL đó (Phụ lục 2 bảng 1).
Căn cứ vào nội dung và các hoạt động để thực hiện chủ đề trong phân phối
chương trình hoạt động giáo dục NGLL, chúng tôi xác định các nội dung và hoạt
động nào có thể thiết kế được các chủ đề giáo dục kĩ năng sống tương ứng. Chủ đề
giáo dục KNS phục vụ mục tiêu của giáo dục KNS, vì thế, phải có sự phân tích khoa
học và lôgic để tìm ra các nội dung và hoạt động của hoạt động giáo dục NGLL phù
hợp để thiết kế các chủ đề này. Cũng cần lưu ý rằng, có sự trùng lặp về các nội dung
và hoạt động để thực hiện các chủ đề của hoạt động giáo dục NGLL. Vì thế không
nhất thiết phải thiết kế chủ đề giáo dục KNS với tất cả các nội dung và hoạt động này.
Từ bảng 1 nêu trên, qua phân tích sẽ tìm được các nội dung và hoạt động thực hiện
chủ đề của hoạt động giáo dục NGLL (Phụ lục 2 bảng 2).
Sau khi đã xác định được các KNS có thể được tích hợp trong nội dung, hoạt
động để thực hiện chủ đề của hoạt động giáo dục NGLL, bước tiếp theo là thiết kế
chủ đề để giáo dục kĩ năng đó cho học sinh. Nội dung thiết kế chủ đề giáo dục
25
KNS để tích hợp vào nội dung hoạt động thực hiện chủ đề của hoạt động giáo
dục NGLL là:
-
Xác định mục tiêu của chủ đề giáo dục KNS.
-
Xác định thông điệp chính của chủ đề.
- Xác định các tài liệu và phương tiện cần thực hiện.
-
Hướng dẫn tổ chức hoạt động thực hiện chủ đề.
lại ấn tượng sâu sắc trong học sinh có tác dụng giáo dục đạo đức, đồng thời mở
mang kiến thức.
Chẳng hạn hoạt động phòng chống HIV/AIDS trước đây nội dung thường
hướng tới tác hại của ma tuý, hậu quả của người nhiễm HIV/AIDS, nay nội dung cần