ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ XUÂN CHI
MỨC SẴN LÒNG TRẢ
ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC
SÔNG CÀ TY, PHAN THIẾT
Chuyên ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường
LUẬN VĂN THẠC SỸ MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 4/2012
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gởi những dòng tri ân đến Ba Má và cả gia đình, những
người đã sinh thành, nuôi nấng, khích lệ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và
thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tác giả xin cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi nền tảng kiến thức vững
chắc về chuyên ngành Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Phan Thị Giác Tâm – Khoa Kinh tế, Trường
Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh – đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài “Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty, Phan
Thiết”.
Xin cảm ơn sự hỗ trợ của Chính quyền địa phương ở Phan Thiết, đặc biệt là sự
giúp đỡ nhiệt tình từ Ông Lê Nam Quốc – Chi cục Thủy lợi Bình Thuận; Phòng Tài
nguyên và Môi trường thành phố Phan Thiết; Ủy ban Nhân dân Phường Phú Thủy,
Đức Nghĩa và Xã Tiến Lợi trong việc tạo điều kiện cho tôi thu thập tài liệu và tổ chức
khảo sát tại địa bàn.
Ngoài ra, tác giả cũng rất cảm ơn nhóm sinh viên K26 của Trường Đại học
Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ trong giai đoạn phỏng vấn hộ dân ở
thành phố Phan Thiết vào tháng 7/2011.
With the main objective is to estimate the mean willingness to pay (WTP) of
people in Phan Thiet City for improved water quality in Ca Ty River, the contingent
valuation method (CVM) is used to ask people about the money they want to pay to
carry out some parts of the two environmental projects of Ca Ty River. This thesis is
the first study which research on total economic value of water resources in Phan Thiet
City, do promote a new way of environmental searching at this site.
The result is that each household in Phan Thiet will agree to pay the everage
money is 399,434 VNĐ, so total economic value of Ca Ty River is 21,432,738,810
VNĐ. This money might be supplementary budget of the projects. Besides, we also put
forward a great many ideas to solve the pollution and improve sustainability
management effect on Ca Ty River forwards community participation.
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN II
MỤC LỤC V
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VII
DANH MỤC CÁC BẢNG VIII
DANH MỤC CÁC HÌNH X
PHỤ LỤC XI
CHƯƠNG 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chính 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 2 5
TỔNG QUAN 5
2.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 5
4.1 Mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu điều tra 41
4.2 Nhận thức của người dân về các giá trị của sông Cà Ty 42
4.3 Nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty 44
4.2.1 Nhận thức về hiện trạng ô nhiễm và các nguyên nhân gây ô nhiễm 44
4.2.2 Nhận thức về những vấn đề do sự ô nhiễm sông Cà Ty gây ra 47
4.2.3 Nhận thức về mức độ ảnh hưởng trực tiếp đối với người được phỏng vấn 49
4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty 51
4.5 Ước lượng mức sẵn lòng trả trung bình 55
4.5.1 Kết quả ước lượng 55
4.5.2 Kiểm định tính hiệu lực của mô hình 57
4.5.2.1 Hệ số tương quan 57
4.5.2.2 Dựa vào hệ số Sig 57
4.5.2.3 Dựa vào R2 57
4.5.2.4 Dựa vào khả năng dự đoán của mô hình 57
4.5.3 Mức sẵn lòng trả trung bình 58
4.6 Giải pháp đề xuất 59
CHƯƠNG 5 62
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BT : Tham khảo giá trị
CBA : Phân tích chi phí – lợi ích
CVM : Phương pháp định giá ngẫu nhiên
CTCQ&VSMT : Cải tạo cảnh quan và Vệ sinh môi trường
ĐTM : Báo cáo đánh giá tác động môi trường
GDP : Tổng sản phẩm nội địa
HST : Hệ sinh thái
THEO MỨC ĐỀ XUẤT 54
BẢNG 4.10: GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CỦA CÁC BIẾN 56
BẢNG 4.11: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH 57
BẢNG 4.12: KHẢ NĂNG DỰ ĐOÁN CỦA MÔ HÌNH 57
BẢNG 4.13: CÁC GIẢI PHÁP ĐƯỢC SẮP XẾP THEO MA TRẬN CHÍNH SÁCH .59
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
HÌNH 2.1: BIỂU ĐỒ SO SÁNH KẾT QUẢ PHÂN TÍCH MẪU NƯỚC MẶT VÀ QCVN
08:2008/BTNMT TẠI VỊ TRÍ KÈ CHẮN SÓNG C2 20
HÌNH 3.1: SƠ ĐỒ TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA TÀI NGUYÊN NƯỚC 24
HÌNH 3.2: CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TIỀN TỆ CỦA MÔI TRƯỜNG
25
HÌNH 3.3: SƠ ĐỒ KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH CHỌN MẪU 36
HÌNH 4.1: CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY 47
HÌNH 4.2: NHỮNG VẤN ĐỀ DO SỰ Ô NHIỄM SÔNG CÀ TY GÂY RA CHO CON
NGƯỜI 48
HÌNH 4.3: TỶ LỆ HỘ DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP VÀ KHÔNG TRỰC TIẾP
BỞI SÔNG CÀ TY 49
HÌNH 4.4: SỐ NGƯỜI TRẢ LỜI “ĐỒNG Ý” TRONG MỖI MỨC GIÁ 51
HÌNH 4.5: TỶ LỆ ĐỒNG Ý GÓP NGÀY CÔNG LAO ĐỘNG CHO DỰ ÁN 55
XI
x
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN I
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH SỬ DỤNG MINH HỌA CHO BẢNG HỎI X
PHỤ LỤC 3: SỐ LIỆU ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG Ở PHAN THIẾT XII
PHỤ LỤC 4: BẢN ĐỒ VỊ TRÍ SÔNG CÀ TY XII
PHỤ LỤC 5: ĐẶC TRƯNG DÒNG CHẢY NĂM TẠI MỘT SỐ VỊ TRÍ CHỦ YẾU TRÊN
SÔNG CÀ TY XIII
PHỤ LỤC 6: SỐ LIỆU MỰC NƯỚC ĐẶC TRƯNG CỦA SÔNG CÀ TY (CM) XIV
dịch vụ này không được mua bán trên thị trường. Phương pháp định giá ngẫu nhiên
(CVM) được sử dụng phổ biến nhất để lượng giá giá trị kinh tế của hàng hóa môi
trường, như cải thiện chất lượng nguồn nước, bằng cách tạo ra thị trường giả định để
xác định mức sẵn lòng trả (WTP) hoặc sẵn lòng nhận đền bù (WTA). Vì thế, các
1
nghiên cứu xác định giá trị kinh tế tài nguyên nước mặt đang được thực hiện ngày càng
phổ biến và đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam, nơi mà
nguồn nước mặt, đặc biệt là các con sông, đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm
nghiêm trọng về diện tích lưu vực, lưu lượng dòng chảy, cũng như chất lượng nguồn
nước.
Sông Cà Ty từ lâu vẫn được nhớ đến như một điểm nhấn ấn tượng và duyên
dáng góp phần tạo nên nét đẹp của Thành phố Phan Thiết. Con sông chảy qua thành
phố như dòng ký ức khắc sâu trong tâm hồn và là niềm tự hào của người dân nơi đây.
Mặt khác, sông Cà Ty còn là nguồn mưu sinh của một bộ phận lớn dân cư.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, sông Cà Ty đang hàng ngày bị ô
nhiễm bởi nước thải chưa qua xử lý của cả thành phố, hàng chục tấn vỏ sò đổ trộm
xuống sông mỗi ngày, người dân lấn chiếm lòng sông để xây cất nhà ở, chất thải của
hàng trăm ghe thuyền neo đậu ở khu vực cửa sông… Ngày nay người ta chỉ còn thấy
tại nhiều nơi ven sông là các dãy nhà tạm bợ, sông cạn trơ đáy khi nước rút và kèm
theo đó là mùi hôi thối rất phản cảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và chất
lượng cuộc sống của người dân địa phương.
Đây chính là hậu quả của việc các cấp quản lý và người dân địa phương đã
không thật sự hiểu và đánh giá đúng những giá trị mà sông Cà Ty có thể mang lại. Mặc
dù Chính quyền địa phương đã hoạch định các dự án cải thiện chất lượng môi trường
sông Cà Ty và dự kiến sẽ hoàn thanh vào cuối năm 2012. Tuy nhiên, đến nay các dự án
này chỉ đang được triển khai một cách ì ạch và thiếu kiên quyết, một phần khó khăn vì
thiếu kinh phí. Ngoài ra, chưa có một công trình nghiên cứu nào về những khía cạnh
khác của vấn đề sông Cà Ty như: thái độ và hành vi của người dân, những giải pháp xã
hội học, chính sách khai thác và quản lý con sông theo hướng bền vững… Xuất phát từ
quan điểm ấy, đề tài “Mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước sông Cà Ty,
Chương 3: trình bày cơ sở lý thuyết và các phương pháp được sử dụng trong đề
tài.
Chương 4: phân tích, thảo luận các kết quả đạt được và các giải pháp cải thiện
tình trạng ô nhiễm sông Cà Ty.
Chương 5: tóm tắt kết quả của đề tài và kiến nghị đối với các nghiên cứu sau.
4
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu.
2.1.1 Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá trong lĩnh vực tài nguyên
nước
Cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người ngày càng có nhiều mối
quan tâm về các vấn đề môi trường. Cho đến nay, các nghiên cứu về xác định giá trị
các loại tài nguyên, các dịch vụ môi trường được thực hiện ngày càng nhiều trên thế
giới và ở Việt Nam. Riêng về tài nguyên nước, đã có nhiều kỹ thuật định giá kinh tế
được áp dụng trong những nghiên cứu thuộc lĩnh vực này, như là phương pháp chi phí
du hành (TCM – Travel Cost Method), định giá ngẫu nhiên (CVM – Contingent
Valuation Method), phân tích lợi ích-chi phí (CBA – Cost Benefit Analyses), phương
pháp tham khảo giá trị (BT – Benefit Transfer)…
CVM đã được áp dụng trong các nghiên cứu về tài nguyên nước từ rất sớm ở
nhiều quốc gia trên thế giới. Trong số đó có thể kể đến công trình của Desvousges,
Smith và Fisher xuất bản năm 1987. Tác giả đã sử dụng CVM để dự đoán giá trị nhiệm
ý (giá trị lựa chọn sử dụng trong tương lai) cho việc gia tăng chất lượng nước sông
Monogahela ở Mỹ. Các hộ dân được đưa ba tình huống chất lượng nước sông và họ
sẵn lòng trả thêm bao nhiêu cho mỗi trường hợp. Tình huống 1: Giữ nguyên chất lượng
nước sông ở mức có thể bơi thuyền được như hiện tại (thay vì nó có thể bị suy giảm tới
mức không thể bơi thuyền được). Tình huống 2: Nâng cao chất lượng nước từ mức có
thể bơi thuyền lên mức có thể câu cá được. Tình huống 3: Nâng cao chất lượng nước từ
mức có thể bơi thuyền lên mức có thể tắm được. Kết quả khảo sát cho thấy người dân
đồng ý trả một khoản tiền khá cao (24.5$) cho tình huống 3. Tiếp đến họ lại sẵn lòng
dụng trong đề tài là:
6
(1) Lợi ích kinh tế của việc cải thiện chất lượng nước mặt ở các nước đang phát
triển – trường hợp ở Davao, Philippines của Choe, Whittington, và Lauria (1996). Một
cuộc khảo sát CVM đưa ra mức sẵn lòng trả cho việc cải thiện chất lượng nước nhưng
không có sự khác biệt trong các mức chất lượng.
(2) Nghiên cứu của Carson và Mitchell (1993), đăng trên tạp chí Nghiên Cứu
Tài Nguyên Nước (Mỹ) khảo sát mức sẵn lòng trả để cải thiện chất lượng nước của
những con sông ở Mỹ bằng CVM.
(3) Công trình của Desvousges, Smith, và Fisher xuất bản năm 1987 đã được
trình bày ở phần 2.1.1.1.
Phương pháp tham khảo được khuyến khích như một cách đánh giá nhanh, ít tốn
kém áp dụng cho các sản phẩm môi trường. Nghiên cứu cũng đã chứng minh được
giữa giá trị tham khảo và giá trị “thực tế” (trong nghiên cứu của cô Du.) có thể khác
nhau trong khoảng dao động từ rất ít cho đến gấp tám lần. Tác giả cho rằng việc mô tả
các đặc điểm của hàng hóa môi trường trong phương pháp CVM càng cụ thể thì các giá
trị tham khảo sẽ càng đáng tin cậy.
Churai Tapvong và Jittapatr Kruavan (2003) thực hiện nghiên cứu định giá ngẫu
nhiên sông Chao Phraya. Với quan điểm cho rằng chính phủ sẽ đóng vai trò chủ đạo
trong việc đầu tư kinh phí cho dự án xây dựng hệ thống cống thoát nước nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nước sông Chao Phraya, nhưng tất cả người dân thành phố
Bangkok – Thái Lan cũng cần có trách nhiệm trong việc đóng góp vào chi phí xây
dựng, chi phí vận hành và duy trì hệ thống; mục tiêu của đề tài là ước lượng mức sẵn
lòng trả để cải thiện chất lượng nước ở sông Chao và đề xuất một số công cụ kinh tế
như: phí sử dụng nước, thuế tài sản và các công cụ đo lường khác. Phương pháp chính
được sử dụng để đạt được các mục tiêu trên là phương pháp định giá ngẫu nhiên. Tác
giả đã xây dựng hai tình huống giả định (cải thiện chất lượng nước từ mức đi thuyền
được đến mức cá có thể sống được và mức có thể bơi lội được) để khảo sát mức sẵn
lòng trả trong từng tình huống cụ thể, hình thức đóng góp, quản lý và sử dụng nguồn
vốn… để có cơ sở đề xuất các phương án triển khai phù hợp tình hình thực tế. Ngoài
lượng nước sông Cà Ty.
8
2.1.2 Tài liệu nghiên cứu về sông Cà Ty và một số dự án đầu tư
Là một dòng sông biểu tượng của thành phố, là đường giao thông thủy quan
trọng nối trực tiếp với cảng biển Cồn Chà, có thể nói sông Cà Ty giữ vai trò rất lớn
trong việc phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội của thành phố Phan Thiết. Từ trước
năm 1975 đã có nhiều chuyên gia và tổ chức nước ngoài (Nam Triều Tiên, Đài Loan,
Niponkoei, Ủy ban Quốc gia sông Mekong) thực hiện các nghiên cứu sử dụng nguồn
nước ở Việt Nam và tỉnh Bình Thuận, trong đó có nhiều thông tin liên quan đến sông
Cà Ty. Từ sau năm 1975 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu và xây dựng các công
trình thủy lợi lưu vực sông Cà Ty đã được các cơ quan trong nước thực hiện. Trong đó
có một số công trình cung cấp thông tin tham khảo cho đề tài:
- Tháng 10/2004, Trung tâm Quản lý dự án và Tư vấn xây dựng công trình
NN&PTNT phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu động lực-công trình sông nghiên cứu
Dự án quy hoạch sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông Cà Ty.
Căn cứ vào các kết quả tính toán, công trình đã đề nghị phương án chống lũ, ngập úng
cho lưu vực sông Cà Ty và thành phố Phan Thiết bao gồm các hạng mục: xây dựng hai
hồ chứa nước Ka Bét và Sông Móng, nạo vét lòng dẫn sông Cà Ty, xây dựng đê bao
hai bờ.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình Phát triển đô thị vừa và nhỏ Miền
Trung – Khoản vay ADB số VIE-2272 (SF) – Tiểu dự án Bình Thuận do công ty Cổ
phần cấp thoát nước Bình Thuận là chủ đầu tư đã được UBND tỉnh Bình Thuận ký
quyết định phê duyệt số 2597/QĐ-UBND ngày 10/9/2009. Với các hạng mục như: hệ
thống cống thoát nước toàn thành phố Phan Thiết, trạm bơm nước thải, nhà máy xử lý
nước thải tập trung, hồ điều hòa sinh học, hồ kỵ khí và các công trình phụ trợ khác; đây
được xem là giải pháp cho vấn đề ô nhiễm sông Cà Ty nói riêng và toàn thành phố
Phan Thiết nói chung. Dự án dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng năm 2012 với
tổng vốn đầu tư khoản 16 triệu USD (Nguồn: Binh Thuan Provincial People’s
Committee, 2011).
- Gần đây nhất, năm 2010, Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Vina Mekong
Nhìn chung, Phan Thiết có ba dạng địa hình chính:
- Vùng đồng bằng ven sông Cà Ty: diện tích chiếm 11,7% tổng diện tích tự
nhiên, độ dốc nhỏ (0-3°).
- Vùng cồn cát, bãi cát ven biển: chiếm 85,6% tổng diện tích tự nhiên. Có địa
hình tương đối cao, độ dốc 80 - 150, một số nơi dốc 250 - 300.
- Vùng đất mặn: ở Thanh Hải, Phú Thủy, Phú Trinh và Phong Nẫm, chiếm 2,7%
tổng diện tích tự nhiên.
c) Địa chất
Thành phố Phan Thiết nằm trên đới Đà Lạt, phía trên là tầng phủ gồm lớp cuội
sỏi lòng suối lòng sông, chiều dày khoảng 0.5 – 1m, các thành tạo Đệ Tứ chủ yếu là
Aluvi, Deluvi không phân chia, cuối cùng là miền nền có các loại đá khác nhau (bazan,
trầm tích, granit, mozonit, thạch anh, trầm tích )
d) Đặc điểm khí tượng
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình các tháng ở thành phố Phan Thiết
Tháng Một Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười M.một M.hai
T
o
cao nhất
(°C)
29 30 31 32 33 32 31 31 31 31 31 30
T
o
thấp
nhất (°C)
22 22 24 26 26 26 25 25 25 25 24 24
( www.msnweather.com)
Thành phố Phan Thiết nằm trong vùng khô hạn, khí hậu nhiệt đới điển hình,
nhiều gió, nhiều nắng, ít bão, không có sương muối, có nhiệt độ trung bình hàng năm
từ 26 °C đến 27 °C. Tháng 1, tháng 2 và tháng 12 (nhiệt độ trung bình 25,5 °C) mát
hơn so với các tháng khác. Tháng 4, 5 là những tháng nóng nhất ở Phan Thiết, nhiệt độ
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, diện tích 350 ha (1,82% diện tích tự nhiên).
• Khoáng sản: Phan Thiết có mỏ Imenít-Zircon ven biển Hàm Tiến - Mũi
Né có trữ lượng 523,5 ngàn tấn. Mỏ đá Mico-granít ở Lầu Ông Hoàng với trữ lượng
12
200.000 tấn có thể sản xuất men sứ. Mỏ cát thủy tinh dọc theo các đồi cát ven biển
Nam Phan Thiết có trữ lượng khoảng 18 triệu tấn. Tại vùng biển ngoài khơi thành phố
Phan Thiết đã phát hiện ra mỏ dầu và đang được tiến hành khai thác thử nghiệm.
2.2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
a) Các ngành kinh tế
Trong 10 năm trở lại đây, thành phố đã có bước phát triển tương đối toàn diện
trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2004 đến nay luôn
ổn định ở mức cao trên 15%. Theo số liệu năm 2008 của UBND thành phố, GDP bình
quân đầu người đạt 1.588 USD.
Phan Thiết hiện có 1.042 cơ sở sản suất công nghiệp với 16.069 lao động. Năm
2009 giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố đạt trên 601,520 tỷ đồng, trong công
nghiệp nổi bật có cảng Phan Thiết và khu công nghiệp Phan Thiết đã thu hút được
nhiều dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh. Cảng Phan Thiết được đầu tư bài
bản tạo bệ phóng cho ngư dân đầu tư tàu có công suất lớn với trang thiết bị hiện đại để
vươn ra biển lớn đánh bắt xa bờ. Phan Thiết đang có trên 2.800 tàu đánh bắt với tổng
công suất 179.861CV và 13.180 lao động, sản lượng khai thác gần 52.000 tấn với tổng
giá trị hàng năm trên 1.000 tỷ đồng. Ngoài ra, thành phố có 7.560 cơ sở kinh doanh
thương mại, dịch vụ, du lịch. Riêng lĩnh vực du lịch phát triển rất nhanh, doanh thu du
lịch Năm 2010 đạt 2.539 tỷ đồng.
Song song với phát triển kinh tế, sự nghiệp y tế, giáo dục cũng được thành phố
quan tâm đầu tư. Hiện nay Phan Thiết đã có trường đại học, trường cao đẳng y tế, cao
đẳng cộng đồng và một số trường trung cấp, trung tâm dạy nghề giúp đào tạo nguồn trí
thức trẻ trong và ngoài tỉnh, để đáp ứng nguồn nhân lực cho thành phố tăng tốc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa…
b) Hệ thống cấp thoát nước
• Hệ thống cấp nước
lưu vực sông Cà Ty có một số đặc trưng được mô tả như bảng 2.3.
14