TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ Đồng Nhân Dân Tệ: Sự lựa chọn giữa tỷ giá
hối đoái cố định và tỷ giá hối đoái thả nổi.
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
Thực hiện: Nhóm 9, lớp NH Đêm 5 - K18.
Nguyễn Châu Hà
Nguyễn Thị Bích Hạnh
Nguyễn Hoàng Lan Hương
Lê Thị Thanh Loan
Đoàn Viết Bửu Phương
Ngô Thị Phượng
Ôn Ngọc Minh Trí TPHCM, tháng 1 năm 2010
MỤC LỤC
tiền tệ, hiện nay mức dự trữ của T rung Quốc hầu như đã khá đầy đủ, và tín
phiếu kho bạc Mỹ không mang lại thu nhập cao.
Ngày càng khó khăn để hạn chế dòng tiền vào theo thời gian.
Cân bằng bên ngoài có thể đạt được bằng cách cắt giảm chi tiêu, tăng lãi suất,
duy trì chính sách hai mục tiêu (cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài), và
điều này thường đòi hỏi sử dụng hai công cụ tài chính độc lập (tỷ giá hối đoái
thực và lãi suất).
M ột nền kinh tế lớn như Trung Quốc có thể điều chỉnh tỷ giá hối đoái thực
thông qua tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái danh nghĩa bằng việc thả nổi giá cả.
Kinh nghiệm của các thị trường mới nổi khác chỉ ra hướng để thoát khỏi việc
neo đồng tiền vào thời điểm thuận lợi và đồng tiền đang mạnh, hơn là chờ đến
khi thời điểm xấu và đồng tiền đang bị tấn công.
Trong viễn cảnh dài hạn, giá cả hàng hoá và dịch vụ của Trung Quốc thấp –
không chỉ là thấp so với Mỹ (0.23), mà còn thấp theo tiêu chuẩn mà hiệu ứng
Samuelson-Balassa đã đo lường qua nhiều quốc gia (ước khoảng 0.36). Trong
trường hợp cụ thể này, vào năm 2000 đồng Yuan đã được đánh giá thấp hơn
35%, và hiện nay thì ở mức thấp nhất có thể. N ghiên cứu cho thấy rằng, sự cách
biệt này đã được điều chỉnh nhưng không triệt để qua các thập kỷ sau đó.
Sáu lập luận trên đây đối với tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái không hàm ý một sự thả
nổi tự do. Trung Quốc là một ví dụ điển hình về việc ngăn cấm “lý thuyết góc” nổi
tiếng đối với cơ chế tỷ giá hối đoái trung gian. Tuy nhiên, vào tháng 7/2005 Trung
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 2
Quốc đã ban hành chính sách mới nhưng vẫn chưa dẫn đến kết quả cuối cùng trong
việc hủy bỏ cơ chế đồng tiền neo đô la.
Đồng Nhân dân tệ
“Tôi đã nghe cả hai phía của cuộc tranh luận này. Tôi cho rằng: Những người ủng
hộ tỷ giá hối đoái cố định thì đúng trong ngắn hạn. Và những ai đồng thuận tỷ giá hối
đoái thả nổi thì đúng trong dài hạn. Bạn sẽ hỏi ngắn hạn là bao lâu? Bạn cần biết
Trung Quốc đã 8000 năm tuổi. Do đó khi tôi nói ngắn hạn thì nó cũng có thể là 100
của “Lý thuyết góc” nổi tiếng.
Lời khuyến nghị đối với việc định giá cao của tác giả trùng khớp với sự thôi thúc của
các chính khách Mỹ là hoàn toàn trùng hợp ngẫu nhiên. Những sự thôi thúc này
thường là sự phản ứng mang tính chính trị đến sự thiếu hiểu biết trong nước (ill-
informed domestic) (mặc dù có thể hiểu được) về nguyên nhân thâm hụt thương mại
và thất nghiệp tại Mỹ. Bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể tự do lựa chọn neo đồng
tiền nếu họ muốn. Do đó, luận điệu “lôi kéo tỷ giá hối đoái bất hợp pháp” là không
thích hợp. Điều này thậm chí không đúng khi đánh giá cao đồng Nhân dân tệ so với
đồng Đô la sẽ t ạo ra một tác động đáng chú ý ngay tức thời đến thâm hụt tài chính và
thất nghiệp toàn nước Mỹ, mặc dù tác động lên cán cân t hương mại Mỹ rốt cuộc chỉ ở
mức độ vừa phải nếu những nước châu Á khác cũng đáp trả bằng sự định giá cao đồng
tiền của họ so với đồng Đô la Mỹ. Nhưng trong mọi trường hợp, luật lệ thương mại
đầu tiên của Trung Quốc sẽ được đặt ra để xác định chính sách nào phù hợp với lãi
suất của họ. Dựa trên những nền tảng đó, bài viết này ủng hộ gia tăng tính linh hoạt
của tỷ giá đối đoái.
Ở đây không phải cho rằng các quốc gia thặng dư không có quyền lợi gì trong hệ
thống tiền t ệ quốc t ế, hoặc là không một quốc gia nào được yêu cầu tính vào lãi suất
của quốc gia khác, như một bộ phận của hệ thống tương hỗ mang lại lợi ích cho tất cả.
Nhưng trong quan điểm của tác giả, không thích hợp để sử dụng ngôn ngữ của sự vi
phạm WTO cho câu hỏi cân bằng giữa những ý kiến thuận và chống về tỷ giá hối đoái
cố định, cái mà vốn đã không rõ ràng bằng câu hỏi cân bằng giữa thuận và chống về tự
do thương mại.
Nên thừa nhận ngay từ đầu rằng một cơ chế tỷ giá hối đoái cố định có một số lợi thế.
Có lẽ hai lợi thế của việc cố định tỷ giá trong trường hợp một đồng tiền lớn cụ thể như
Đô la Mỹ là rất quan trọng. Đầu tiên là sự cung cấp một đồng neo danh nghĩa để ngăn
chặn các chính sách tiền tệ có thể gây ra lạm phát sau đó. Nhưng cũng có những ứng
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 4
viên khác có thể thay thế cho đồng tiền neo danh nghĩa, bao gồm GDP danh nghĩa,
CPI và chỉ số giá xuất khẩu. Thứ hai là tạo thuận lợi thương mại với các nước sử dụng
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 5
mại. Quan điểm ngược lại thì cho rằng độ co giãn của thương mại là rất cao – cao đến
mức mà các doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh toàn bộ giá cả ngay lập tức để phản
ứng lại sự dao động của t ỉ giá hối đoái hoặc nếu không sẽ phải đối mặt với việc mất
toàn bộ khách hàng. Trên thực tế, lập luận này dựa trên hai thái cực. M ức giá cả sẽ
điều chỉnh một phần đến sự thay đổi trong tỉ giá hối đoái, đặc biệt là trong ngắn hạn.
Bài viết này sẽ tiếp tục dựa trên những giả định đó. Một mô hình đơn giản và chuẩn
mực tập trung vào sự khác biệt giữa những hàng hóa được trao đổi trên bình diện quốc
tế và những hàng hóa không được trao đổi trên bình diện quốc tế. Giả định rằng sự
điều chỉnh giá cả trong ngắn hạn sẽ ảnh hưởng tới sự thay đổi của tỉ giá hối đoái là
hoàn toàn nằm trong phạm vi khu vực hàng hóa thương mại quốc tế, vì vậy tính biến
đổi trong tỉ giá hối đoái thực hoàn toàn bắt nguồn từ khu vực hàng hóa phi thương mại
quốc tế. Tôi mong rằng tất cả các quan điểm trong bài viết này có thể đem ứng dụng
vào các mô hình khác một cách dễ dàng, miễn là độ co giãn phải lớn hơn không nhưng
ít hơn vô cực, và mức giá trong ngắn hạn chỉ điều chỉnh một phần đến sự thay đổi
trong tỉ giá hối đoái.
Quan điểm chung là khuôn khổ các mục tiêu và công cụ chính sách cổ điển
1
Khuôn khổ đó có thể lạc hậu và không phù hợp đối với một nền kinh tế năng động như
Trung Quốc; nhưng đây chỉ là một giả định. Điểm giao nhau của hai đường, tức điểm
biểu diễn cân bằng giữa tỷ giá hối đoái thực và sản lượng tiềm năng, sẽ được quan sát
khi nó dịch chuyển dần dần theo thời gian. Trong một quốc gia có tốc độ tăng trưởng
nhanh chóng như Trung Quốc điểm giao nhau sẽ dần dần dịch chuyển về bên phải, khi
mà sản lượng đầu ra tiềm năng tăng lên, và dịch chuyển dần dần đi xuống khi mà hiệu
ứng Balassa - Samuelson tác động dẫn đến việc nâng giá trị thực. Đáng tiếc là hầu hết
các phân tích hoặc chỉ xem xét đến sự thay đổi của điểm cân bằng liên quan đến mối
quan hệ Balassa - Samuelson hoặc chỉ xem xét độ lệch trong ngắn hạn của nền kinh tế
từ điểm cân bằng – biểu đồ Swam. Bài viết này cố gắng để xem xét trên cả hai khía
cạnh, bởi cả hai đều quan trọng. Chúng ta bắt đầu với độ lệch trong ngắn hạn. Chính
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 7
đó một sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái cũng đồng nghĩa với sự định giá thấp đồng
tiền trong nước). Để thấy rằng đường EB dốc xuống, hãy xem xét một sự thâm hụt
quốc gia tại điểm D, ví dụ những nạn nhân của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á
năm 1997 như Thái Lan hoặc Hàn Quốc (hay như Mỹ hôm nay!). Tại điểm D, các
quốc gia có thể loại bỏ thâm hụt thương mại bằng cách hoặc là nâng giá trị thực, một
sự dịch chuyển lên trên - hoặc là bằng cách cắt giảm chi tiêu, một sự dịch chuyển về
bên phải.
Bây giờ hãy tưởng tượng rằng một quốc gia nhận thấy rằng nó đang có thặng dư
thương mại rất lớn. Sau đó nó được xác định ở vị trí phía trên hoặc bên phải của đường
cân bằng bên ngoài (đường EB), tức tại điểm C. Nó có thể quay trở lại điểm cân bằng
bằng cách giảm tỷ giá hối đoái thực (E) hoặc là bằng cách giảm lãi suất (i). Lãi suất
thấp sẽ kích thích gia t ăng tiêu dùng nội địa, một số sẽ tăng tiêu dùng hàng hóa nước
ngoài vì vậy nhập khẩu gia tăng (hoặc là tăng tiêu thụ cả những hàng hoá lẻ ra phải
được xuất khẩu), do đó làm giảm cán cân thương mại.
Giảm tỷ giá hối đoái thực có thể đạt được hoặc là bằng việc định giá cao đồng tiền
hoặc là cho phép giá cả hàng hóa gia tăng do đó hàng hoá trong nước mất khả năng
cạnh tranh trên thị trường thế giới và mục t iêu giảm cán cân thương mại lại tiếp tục đạt
được. Như vậy, Chính phủ có thể hoặc là hạ thấp lãi suất(i) hoặc là hạ thấp E; tức là
tăng cái này thì phải giảm cái kia. M ột sự thỏa hiệp đảo ngược giữa i và E đặc trưng
cho sự kết hợp của các điểm mà mang lại sự cân bằng trong cán cân thương mại. Đó
là mối quan hệ cân bằng bên ngoài.
Cách nào để đạt được sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực thì được ưu thích hơn,
giảm trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa hay là gia tăng trong mức giá? Lựa chọn giữa tỷ
giá hối đoái thả nổi và cố định phụ thuộc vào một số nhân tố khác, mà các nhân tố này
biến đổi theo từng trường hợp. Nhiều tiêu chuẩn này thất bại trong phạm vi quyền sở
hữu chung của lý thuyết đồng tiền khu vực tối ưu. Một thứ rất nhỏ, rất mở rộng, nền
kinh tế - đặc khu Hồng Kông – sẽ tìm thấy nó có mối quan hệ với việc t ốn rất nhiều
tiền của để từ bỏ cái nút điều chỉnh tỉ giá hối đoái, và có thể tìm thấy nó dễ dàng hơn
để cùng điều chỉnh mức giá thật sự. Trung Quốc là một quốc gia có thị trường nội địa
tiền tệ tốt nhất” t ự bản thân nó đã có thừ thời Mundell (1961), ông đã tập trung vào tính di động của
lao động qua biên giới bởi vì ti êuchuẩn của ông từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập. Đánh giá bài báo
này đã có quan điểm cho r ằng nguyên nhân để nghĩ rằng tiền l ương và giá cả ở Trung Quốc là thả
nổi, mặc dù đất nước rộng
lớn và con đường lịch s ử cộng sản: bởi vì nền kinh t ế quá năng động, tiền
lương hay
thay đổi, đứng trên quan điểm này cho thấy nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh trong điều
kiện bình thường, bất chấp lạm phát trong giá cả, bởi vì sản xuất tăng tr ưởng, cho nên ít có lý do để lo
ngại cho những khó khăn không đáng kể
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 9
bên trái đường Y=Ῡ, nó có thể quay trở lại điểm cân bằng bên trong bằng việc dịch
chuyển về bên phải của hình 1, hoặc là dịch chuyển xuống dưới.
Năm 2002, có một sự tranh cãi cho rằng Trung Quốc ở trạng thái Y = Ῡ, tại điểm
C
2002
, trong vùng thặng dư cung hàng hóa, một số chính sách tiền tệ để giảm bớt sự
thặng dư được đặt ra, nhằm gia t ăng tiêu dùng và trở lại lại điểm cân bằng bên trong.
Tuy nhiên, vào năm 2004, Trung Quốc đã có sự dịch chuyển đến phía khác của đường
thẳng, đến tại điểm C
2004
. Kết quả là một sự kết hợp nhằm gia t ăng lãi suất hoặc nâng
giá trị thực được đưa ra. Vào năm 2006, hiểm họa do tăng trưởng nóng đã dịu bớt, và
Trung Quốc đã quay trở lại sát với đường cân bằng bên trong. Điều này phụ thuộc sự
gia tăng trong lãi suất của M ỹ và trong giá trị của đồng đô la năm 2004-05 hơn là do
chính sách thắt chặt tiền tệ của Trung Quốc vượt quá và cao hơn mức của thế giới.
Chỉ có một điểm duy nhất trên đồ thị tại đó đạt được cả hai mục tiêu đòi hỏi, đó là
thanh toán tổng thể, tổng của tài khoản vãng lai và tài khoản vốn.
Thứ hai, các nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là đáng kể. Trong một thời gian dài,
đây là sự thành công trong chiến lược phát triển của Trung Quốc, điều này thường
được giải thích bởi nhu cầu nhập khẩu những bí quyết công nghệ & quản lý và sự hợp
tác tốt để bù đắp cho lực lượng lao động sản xuất giá rẻ.
Thứ ba, dù các dòng vốn đầu tư vào vẫn bị hạn chế bởi chính phủ Trung Quốc, nhưng
các dòng vốn này vẫn đang tìm cách vào bằng đường này hay đường khác. (Phần lớn,
người dân Trung Quốc tích trữ đôla kiếm được ở hải ngoại trước đây và bây giờ đang
mang chúng trở về nước, đề phòng việc định giá lại tiền tệ). Thước đo cán cân bên
ngoài nào là đúng? Không thể xác định chính xác cái nào đúng để có một mục tiêu cho
tài khoản vãn lai, chứ không phải cho cán cân thanh toán tổng thể, hoặc ngược lại. Cả
hai thước đo đều là mối quan tâm của những nhà hoạch định chính sách.
Tại sao lại đo lường cán cân thanh toán? Đối với bất kỳ quốc gia nào, sự bất lợi của
thâm hụt cán cân thanh toán là ngân hàng Trung ương phải tiến hành giảm lượng tiền
dự trữ. Nếu quy trình này cứ tiếp tục diễn ra, rốt cuộc ngân hàng Trung ương sẽ phải
điểu chỉnh hướng đi. Dưới điều kiện thị trường vốn mở, nếu dự trữ t iến đến mức tới
hạn (không được bằng 0), việc tăng dự trữ đột ngột có thể tác động làm cho việc điều
chỉnh diễn ra nhanh chóng, và dưới điều kiện không mấy dễ chịu. Ví dụ như trong cơn
khủng hoảng tại Đông Á năm 1997-1998, các nền kinh tế thực hiện giảm dự trữ đã
phải chịu khủng hoảng rõ rệt (Thái Lan, Hàn Quốc, v.v…), trong khi các nền kinh tế
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 11
đang duy trì mức dự trữ cao là các nước có khả năng vượt qua cơn khủng hoảng
(Trung Quốc, Hồng Kông và Đài Loan).
M ặt khác, điểm bất lợi của thặng dư cán cân thanh toán là việc dự trữ, mà điển hình là
hình thức công trái và trái phiếu kho bạc Mỹ và các chứng khoán đôla khác, thường
được chi trả một tỉ suất lợi nhuận thấp. Lãi suất trái phiếu kho bạc M ỹ thấp là do thị
trường bất ổn và sự vỡ nợ trong suốt những năm 2001 - 2004, bởi Cục dự trữ liên bang
đã đưa ra lãi suất ngắn hạn ở dưới mức thông thường trước đây. Các nhà chức trách
Trung Quốc đã đa dạng hóa từ các công trái kho bạc sang các trái phiếu trung gian và
cùng chiều lên cán cân thương mại (thông qua sự cạnh tranh và chi tiêu, một cách
tương ứng) vì vậy nếu một cái tăng lên, cái kia phải giảm xuống để duy trì sự cân
bằng. Nhưng thêm vào đó, chúng hầu như cũng có tác động cùng chiều lên tài khoản
vốn: một sự tăng trong lãi suất sẽ tác động lên dòng vốn vào, những cái khác không
thay đổi, trong khi một sự tăng trong tỷ giá hối đoái cũng làm cho tài sản trong nước
hấp dẫn hơn (rẻ hơn) đối với người nước ngoài. M ột lần nữa, nếu một thứ tăng lên thứ
khác phải giảm xuống, nếu tài khoản vốn vẫn giữ nguyên ở một con số cụ thể nào đó.
Do đó, mối quan hệ chủ yếu (relationship governing) trong cán cân thanh toán tổng thể
cũng có chiều dốc như mối quan hệ chủ yếu trong cán cân thương mại.
Nếu chúng t a thay thế mục tiêu cán cân thanh toán cho mục tiêu cán cân thương mại,
thì một lần nữa chúng ta nhận ra Trung Quốc hiện nay đang nằm nửa trên bên phải của
biểu đồ, tại một trong các điểm của C. Một lần nữa, sự nâng giá tiền tệ được nhắc đến.
2.4. Vô hiệu hóa bằng chính sách tiền tệ (Sterilization)
Chúng ta vừa đề cập đến thặng dư cán cân thanh toán hàm ý rằng yếu tố dự trữ đồng
tiền cơ sở đang tăng lên. Một số chính sách tiền tệ mở rộng hoàn toàn thích hợp, đặc
biệt là trong một nền kinh tế tăng trưởng mạnh trong dài hạn đến 10%. Nhưng trong
một nền kinh tế đang gặp nguy cơ vì nới lỏng tiền tệ quá mức, ngân hàng trung ương
có thể cắt giảm những dòng tiền vào, để làm chậm lại sự tăng nguồn cung tiền. Sự cắt
giảm có thể được xác định rõ ràng, như ngân hàng trung ương giảm tài sản nội địa
ròng, bằng cách bán trái phiếu, để giữ cho đồng tiền cơ sở không tăng lên. Hoặc sự cắt
giảm có thể được xác định một cách chung chung, như hệ thống ngân hàng giảm lượng
tiền gửi trong nước, chẳng hạn như tăng dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, để giữ
cho M1 không tăng.
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 13
Sự vô hiệu hóa có thể là một phản ứng tốt đối với dòng vốn vào, trong một giai đoạn
nhất định. Nó có thể giúp đất nước duy trì mục tiêu tỉ giá hối đoái mà không từ bỏ mục
tiêu về cung tiền hoặc lãi suất. Nhưng nó có thể trở nên khó khăn hơn sau đó, đặc biệt
là nếu rào cản truyền thống đối với dòng vốn dần dần bị xóa bỏ. Vấn đề là nó chỉ kéo
dài sự mất cân bằng trong cán cân thanh toán, vì nó bỏ qua cơ chế điều chỉnh tự động
chung nào đó.
Việc xác định sự ngang giá theo rổ tiền tệ có khuynh hướng ít minh bạch và kém tin
cậy hơn xác định theo 1 loại tền tệ duy nhất. Châu Á hiện đang thiếu 1 loại tiền tệ
đóng vai trò chuẩn mực cho tất cả các quốc gia trong khu vực. Trung quốc hiện vẫn
chưa có thị trường tài chính mở và phát triển đủ mức cần thiết để biến đồng Nhân dân
tệ thành đồng tiền tiêu chuẩn trong khu vực; trong khi đó, đồng Yên của Nhật bản thì
không ổn định so với đồng Đô la hoặc Euro. Tôi cho rằng theo lộ trình có thể thực
hiện việc hợp nhất hệ t hống tiền tệ Châu Á, Singapore có thể đảm đương vai trò vày.
Và như vậy, những quốc gia trong khu vực có thể sử dụng đồng đô la Singapore làm
chuẩn đối với tỷ giá hối đoái của mình.
M ột số người cho rằng, nếu Trung Quốc muốn giảm thiểu khả năng xảy ra khủng
hoảng thì Trung quốc cần tránh việc định giá cao đồng Nhân dân tệ, Trung quốc cần
giữ tài khoản vãng lai càng nhiều càng tốt. Sự thật là, hệ thống tiền tệ được định giá
quá cao cũng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997, mặc dù trước
đây, các nước phương Tây đã khuyến khích việc định giá cao đối với các quốc gia
thặng dư. Việc định giá cao hầu như sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại và vay nợ ròng
từ nước ngoài, và những quốc gia vay nợ nước ngoài thì hầu như sẽ rơi vào khủng
hoảng. Nhưng có 1 quan điểm khác mà theo đó chuyển sang cơ chế tỷ giá linh hoạt có
thể làm giảm khả năng xảy ra khủng hoảng hơn là làm tăng khả năng xảy ra khủng
hoảng.
Nếu dòng vốn đầu tư đổ vào trở thành dòng vốn rút ra như là một phần trong chu kỳ
mà các nước đang phát triển đã trải qua trước đây, thì điều quan trọng là không nên
neo đồng tiền quá lâu. Nhiều quốc gia còn chần chừ, trì hoãn việc điều chỉnh tỷ giá,
hoặc phá giá đồng tiền, hoặc cắt giảm chi tiêu. Khủng hoảng thường bắt đầu khi nguồn
dự trữ ngoại tệ bị sụt giảm. Lúc này, bảng cân đối quốc gia quá yếu (có nhiều khoản
nợ ngắn hạn bằng đồng Đô la) nên các lựa chọn để điều chỉnh không còn phù hợp nữa:
kết quả thường dẫn đến sự suy thoái mạnh bất kể sự phá giá đồng tiền và cắt giảm chi
tiêu. Bài học ở đây là đừng chần chừ.
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 15
nào để phân xử cho việc không ngang giá của hàng hóa phi mậu dịch. Rõ ràng là, theo
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 16
2 khía cạnh phân tích chéo và phân tích chuỗi thời gian, thì giá của hàng hóa phi mậu
dịch và cũng là mức giá chung sẽ cùng tăng lên với việc t ăng năng suất sản suất, tiền
lương thực tế và thu nhập thực tế. Tính đều đặn cùng tăng lên này được gọi là hiệu ứng
Balassa-Samuelson, và thường được giải thích là việc tăng năng suất đối với hàng hóa
mậu dịch thì nhanh hơn so với hàng hóa phi mậu dịch.
3.1. Ước lượng cho năm 1990
Giá cả tại Trung quốc không thấp, nhưng vẫn dưới mức dự đoán khi so sánh với các
quốc gia khác, căn cứ trên quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực tế và thu nhập nhập thực
tế. Vào năm 1990, thu nhập bình quân trên mỗi dân Trung quốc bằng 0,125 so với M ỹ.
Giáo sư Kenneth Rogoff đã thực hiện phép hồi qui Rogoff (dữ liệu 1996) ước tính là,
cứ 1% gia tăng thu nhập trên mỗi người (thu nhập thực) thì tỷ giá thực tăng 0,366%
(hệ số tương quan là 0,42), như vậy sẽ có nhiều trường hợp ngoại lệ. Trung quốc là
một trong số các trường hợp ngoại lệ.
Thực hiện lại phép hồi quy cho năm 1990 (bảng dữ liệu năm 2000 của Penn World),
kết quả là cứ mỗi 1% gia tăng trong thu nhập thực thì tỷ giá thực t ăng 0,317. Như vậy,
có thể xác nhận rằng, Trung quốc là một ngoại lệ: hình như Trung quốc được đánh giá
thấp hơn 42% (tính theo logarit) hoặc 34% (tính theo giá trị tuy ệt đối).
Vài nhà kinh tế nhấn mạnh về việc đánh giá lại đồng nhân dân tệ theo công thức
Balassa-Samuelson, một là: đồng nhân dân tệ sẽ có 1 cách nhìn nhận mới; hai là: công
thức Balassa-Samuelson có cân nhắc đến các vấn đề khác, ví dụ như hiện trạng tài
chính; ba là: kiểm tra lại độ tin cậy về dữ liệu về giá cả tại Trung quốc. Rất có thể, dữ
liệu của Penn World đã được tổng hợp từ các nguồn ít tin cậy. Có khả năng xảy ra sai
sót trong khi đo lường về mức độ và tăng trưởng của GDP thực. Nếu Trung quốc thật
sự tụt hậu so với các nước khác thì Trung quốc đã cho phép hoặc khuyến khích thu
thập dữ liệu về giá cả hàng hóa một cách chi tiết, để từ đó, thực hiện các so sánh về
mức giá, thu nhập thực của Trung quốc đối với quốc tế, nhờ vậy, nhìn nhận về Trung
quốc được chuẩn xác hơn.
sánh với Mỹ
1990 4.7832
0.2351
1786.5474
26457.82
0.0675
1991 5.3234
0.2112
1975.3807
25897.92
0.0763
1992 5.5146
0.2154
2202.6613
26488.70
0.0832
1993 5.7620
29193.91
0.1017
1997 8.2898
0.2454
3109.6103
30190.34
0.1030
1998 8.2790
0.2396
3275.9917
31090.66
0.1054
1999 8.2782
0.2351
3414.9809
32127.90
người làm tăng 0.38% trong việc định giá thực. Mức giá P (so sánh với Mỹ) được dự
đoán cho Trung Quốc bởi mô hình này là 0.362. Mức giá thực tế của Trung Quốc là
0.231 so với Mỹ. Nói cách khác, mô hình hồi quy cho thấy đồng Nhân dân tệ bị định
giá thấp khoảng 44.8% trong năm 2000.
Dựa trên sự tính toán này, chúng ta nên chấp nhận sự dao động trong tỷ giá hối đoái
thực mà nó đã xảy ra từ năm 2000, năm cuối cùng của bảng Penn World. Thay đổi tích
lũy qua 4 năm tiếp theo cho thấy mối tương quan rất nhỏ, được minh họa trong bảng 2
và 4. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hoàn toàn không thay đổi theo đồng Đôla, vì nó đã
được cố định và mức giá của Trung Quốc cũng không vượt quá xa so với năm 2000
bởi vì giảm phát năm 2002 đã bù lại với sự lạm phát trong năm 2000, 2001 và 2003.
Vì vậy, thật ngạc nhiên về mức độ thay đổi vượt trội trong tỷ giá hối đoái thực: lạm
phát ở M ỹ , từ năm 2000 đến 2002 tăng lên khoảng gần 5%. Thật là sai lầm nếu hoàn
toàn tin tưởng vào con số này. M ột mặt, số liệu thống kê chính thức cho thấy lạm phát
ở Trung Quốc kéo theo lạm phát ở Mỹ tăng lên gần 5% (trong quý 4 năm 2003 và quý
1 năm 2004). Mặt khác, tốc độ tăng trưởng thực của Trung Quốc lại t ăng vọt lên, và
mục t iêu tăng trưởng thậm chí còn xa hơn nữa. M ục tiêu quan trọng và phải đánh giá
lại cân bằng Balassa – Samuelson, mở rộng từ dữ liệu năm 2000.
3.3. Dùng phép hồi quy để tìm ra giá trị trung bình
Để minh họa hiệu ứng Balassa – Samuelson, mối quan hệ chặt chẽ giữa tỷ giá hối đoái
thực và thu nhập thực phải dựa trên các nước khác, nhưng dựa trên khoảng t hời gian
nào đó thì tốt hơn, khảo sát trong khoảng thời gian 10 năm cũng được.
Các nhà kinh tế học cho rằng tỷ giá hối đoái thực, trong dài hạn, bị ảnh hưởng bởi hiệu
ứng Balassa – Samuelson, nhưng trong ngắn hạn, bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 19
chính sách tiền tệ và sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa, hoặc của cả hai. Sự
giải thích hợp lý, cho rằng ảnh hưởng bởi mô hình Balassa – Samuelson trong dài hạn
chiếm ưu thế, nhưng trong ngắn hạn là do các y ếu t ố tiền tệ có thể đã kéo tỷ giá hối
đoái thực ra xa khỏi cân bằng Balassa – Samuelson. Điều này chứa đựng dự báo chắc
chắn cho rằng một quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào mô hình hồi quy Balassa –
1991 - 1.5547
7.5885 - 2.5734
1992 - 1.5354
7.6974 - 2.4871
1993 - 1.4354
7.8061 - 2.3959
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 20
1994 - 1.6475
7.8804 - 2.3552
1995 - 1.4774
7.9438 - 2.3106
1996 - 1.4134
7.9958 - 2.2859
1997 - 1.4051
8.0423 - 2.2730
1998 - 1.4290
8.0944 - 2.2503
1999 - 1.4478
8.1359 - 2.2416
2000 - 1.4637
2.114
0.027
- 1.437
2003 4.811
4.858
2.113
0.027
- 1.437Chúng ta kiểm tra lại trên mô hình hồi quy từ năm 1990 đến năm 2000. Khảo sát dữ
liệu của nhiều nước qua nhiều năm, chúng ta quay ngược lại tỷ giá hối đoái thực năm
2000 so với giá trị mà chúng ta có được trong mô hình hồi quy trong năm 2000 (có sự
tương đương với thu nhập năm 2000) cùng với phân tích từ năm 1990. Hệ số dự báo
trong thu nhập năm 2000 là 0.98. Hệ số năm 1990 là 0.48, đặc biệt nó > 0 và < 1. Điều
này đưa ra được thông tin cho giả thuyết, nó cũng đưa ra được những dự báo hữu ích,
và giá trị được mong đợi, độ lệch ước chừng từ mô hình hồi quy của Balassa –
Samuelson trong suốt thập kỷ sau. Đối với trường hợp của Trung Quốc, thậm chí nếu
Đồng Nhân dân t ệ: sự lựa chọn giữa tỷ giá cố định và t ỷ giá thả nổi
Nhóm 9 – NH đêm 5 - K18 Trang 21
không có sự khác biệt lớn trong trong tốc độ t ăng trưởng giữa Trung Quốc và những
nước láng giềng khác, Balassa – Samuelson dự báo năm 2010, đồng nhân dân tệ được
năm 1990. Nói cách khác, nếu sự cách biệt này là thực, tốt hơn nên quan tâm tới nó
thông qua sự nâng giá trị hơn là lạm phát.
4 Kết luận
Chính sách tỷ giá hối đoái Trung Quốc đã bỏ quên điều này ở đâu?
4.1. Bản thông báo vào tháng 7 năm 2005
Vào ngày 21/07/2005, cuối cùng nhà nước Trung Quốc đã nâng giá trị đồng
nhân dân tệ để chống lại đồng đôla – mặc dù chỉ bằng 2.1% và thông báo việc thi hành
một “hệ thống thả nổi có quản lý” mới, nơi tỷ giá hối đoái được xác định một cách linh
hoạt hơn “với sự tham khảo từ một rổ ngoại tệ”
3
. Cách thức duy trì giới hạn +- 0.3%
thay đổi hàng ngày nhằm chống lại đồng đôla, và còn chấp nhận phạm vi 1.5% để
chống lại đồng Yen và Euro
4
. Nhìn chung, trọng lượng của rổ tiền tệ không được
thông báo, mà được đề cập tới với hình ảnh 4 loại ngoại tệ nổi trội – đồng đôla, yen,
euro và won – và còn bao gồm trọng lượng của những loại tiền tệ yếu hơn như đồng
đôla Úc, Canada, Malaysia, N ga, Singapore, Thái lan và bảng Anh.
Bản thông báo là sách lược đúng lúc nhằm chặn tránh sự gia tăng cuộc vận
động những người ủng hộ chế độ bảo vệ nền công nghiệp trong nước trong quốc hội
Mỹ, đó là sự thành công làm chệch hướng cuộc sửa đổi Schumer (thượng nghị sĩ,
Charles Schumer của đảng D ân chủ (bang New York)), trong thời gian nó đang diễn
ra, trong khi chưa tối thiểu hóa sự mất thể diện của các nhà lãnh đạo Trung Quốc nội
địa. Tin tức đưa ra công khai từng ngày, bằng việc đưa ra những thông báo lớn có giá
trị bề mặt, làm phá sản dự báo trước mà những sự thay đổi rất nhỏ vẫn chưa xảy ra.
Trung Quốc không chính thức thông qua rổ tiền t ệ, với cách thức mềm dẻo và thoái lui
như nhiều nước giả định, cũng không thông báo cách thức của họ. Ở điểm đầu tiên,
3
chống lại đồng Euro và Yên. Tuy nhiên, liệu Trung Quốc đã từng đưa cho các chính
khách M ỹ những gì họ nói họ muốn, và đặc biệt nếu điều này bao gồm một sự dịch
chuyển trong dự trữ để phù hợp với trọng lượng rổ tiền tệ nhằm thoát khỏi đồng đôla,
Mỹ sẽ có lẽ thấy hối tiếc nó. Điều này không chỉ sẽ tác động nhỏ không đáng kể vào
cán cân thương mại và việc làm của Mỹ, mà lãi suất của Mỹ có lẽ sẽ tăng.
4.2. Kết luận tóm tắt
Kết luận của tựa đề này được tóm tắt một cách đơn giản như sau:
(i) Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi đều có những điểm thuận lợi riêng của nó
(ii) M ột đất nước nên có quyền lựa chọn cách thức phù hợp nhất với hoàn cảnh
của mình.
(iii) Tuy nhiên, sự ổn định đồng đô la phi chính thức bây giờ có thể tồn tại sự
hữu ích của nó đối với Trung Quốc.
(iv) M ột lý do cho phép việc nâng giá trị và do đó giảm thặng dư cán cân thanh
toán đó là, mặc dù dự trữ ngoại hối là tấm chắn hữu ích chống lại khủng