CHUYÊN ĐỀ: TÂM LÝ HỌC TRÍ TUỆ
Giảng viên: GS.TS Phan Trọng Ngọ
NHIỆM VỤ 1: Khái quát về trí tuệ
1. Định nghĩa về trí tuệ
Trí tuệ cũng như các hiện tượng tâm lý khác, có bao nhiêu trường phái
nghiên cứu sẽ có bấy nhiêu cách hiểu, bấy nhiêu định nghĩa về trí tuệ. Có thể nói
đến một số quan điểm, định nghĩa như sau:
- Trong tiếng Latinh, trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ.
- Theo từ điển Tiếng Việt, trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình
độ nhất định.
- Theo Nguyễn Khắc Viện (1991) trí tuệ là khả năng thích nghi nhưng thiên
về tư duy trừu tượng.
- Theo Phạm Hoàng Gia (1979), Nguyễn Kế Hào (1985) coi trí thông minh
là một phẩm chất cao của trí tuệ, mà cốt lõi là tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo
của tư duy để giải quyết tối ưu vấn đề nào đó trong những tình huống mới, phức
tạp.
- Trí tuệ là khả năng hiểu các mối quan hệ sẵn có giữa các yếu tố của tình
huống và thích nghi để thực hiện cho lợi ích bản thân (N. Sillamy-1997).
- Các nhà tâm lí học Ghestan quan tâm nhiều đến thành phần sáng tạo trong
các thao tác trí tuệ của cá nhân.
- Các nhà trắc nghiệm học định nghĩa đơn giản, trí tuệ là cái mà trắc nghiệm
đo được
Khó có thể áp đặt một định nghĩa chung về trí tuệ.Tuy nhiên, có thể khái
quát một cách tương đối các quan niệm đã có về trí tuệ thành 3 nhóm chính:
Thứ nhất: coi trí tuệ là khả năng hoạt động lao động và học tập của cá nhân;
Quan niệm này đã có từ lâu và khá phổ biến. Chẳng hạn, theo nhà tâm lí học
Nga B.G. Ananhev, trí tuệ là đặc điểm tâm lí phức tạp của con người mà kết quả
của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó. Thực ra, mối quan hệ giữa
học tập (đặc biệt là kết quả học tập) với khả năng trí tuệ của cá nhân đã được các
nhà sư phạm quan tâm từ lâu.Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy giữa hai yếu tố
này có quan hệ nhân quả với nhau.Tuy nhiên, đây không phải là quan hệ tương ứng
chịu sự chế ước của các yếu tố văn hoá - xã hội.
Theo em khi xây dựng định nghĩa trí tuệ nên dựa theo các đặc trưng trên
2. Cấu trúc của trí tuệ
Có nhiều quan điểm về cấu trúc trí tuệ:
2.1. Mô hình cấu trúc đa nhân tố của L.L.Thurstone
L.L Thurstone (1887-1955) là nhà tâm lí học Mỹ. Ông rất ủng hộ việc sử
dụng các trắc nghiệm (Test) để đo đạc trí tuệ. Tuy nhiên, ông không tán thành quy
kết trí tuệ thành một khối.
Theo ông, có nhiều yếu tố trong trí tuệ cá nhân tham gia vào sự thành công
của mọi trắc nghiệm, như tri giác, trí nhớ, ngôn ngữ,v.v. Nếu tách ra được các yếu
tố đó sẽ dễ dàng soạn thảo được các trắc nghiệm khách quan.Thurstone đã sử dụng
phương pháp thống kê để làm rõ các yếu tố đặc trưng trong trí tuệ cá nhân và gọi
đó là các yếu tố trí tuệ nguyên thuỷ.Theo ông, có 7 yếu tố.
+ Khả năng hiểu và vận dụng số, bao gồm các thao tác với những con số - yếu tố N
(Number)
+ Hiểu (lĩnh hội) được ngôn ngữ (nói và viết)-yếu tố V (Verbal comprehension)
+ Sự hoạt bát ngôn ngữ, biểu hiện qua khả năng dùng từ ngữ chính xác và linh hoạt
- yếu tốW (Word fluency)
+ Khả năng về không gian, bao hàm khả năng biểu tượng về vật thể trong không
gian - yếu tố S (Space)
+ Trí nhớ - yếu tố M (Memory)
+ Khả năng tri giác - yếu tố P (Perceptual)
+ Khả năng suy luận - yếu tố R (Reasoning)
Mô hình trí tuệ đa nhân tố của L.L.Thurstone là một đóng góp lớn cho
hướng phân tích nhân tố trong nghiên cứu trí tuệ. Tuy nhiên, ngày nay, dễ dàng
nhận ra mô hình trên chỉ là trường
hợp cụ thể trong nhiều mô hình loại này.
2.2. Mô hình cấu trúc 3 chiều của J.P.Guilford
Có lẽ cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu trí tuệ theo hướng
phân tích nhân tố vượt được mô hình của Guilford về số lượng và mức độ chi tiết
Tư tưởng phân định trí tuệ lôgic và trí tuệ sáng tạo cũng như các phương pháp đo
đạc trí tuệ sáng tạo của J.C.Guilford có sức thuyết phục lớn đối với các nhà tâm lý
học ở Mỹ và thế giới. Một mặt, nó mở ra triển vọng nghiên cứu khả năng sáng tạo
của con người trong các lĩnh vực khoa học- kỹ thuật, văn học - nghệ thuật cũng
như các lĩnh vực khác của đời sống; mặt khác, đặt các nhà nghiên cứu trí tuệ theo
xu hướng trắc nghiệm truyền thống trước vấn đề có tính phương pháp luận: trí tuệ
con người không chỉ bao gồm các thành phần lôgic được biểu hiện qua các bài trắc
nghiệm có tính khuôn mẫu tương ứng, mà còn có cả các thành phần sáng tạo,
nhưng đã không được phản ánh vào trong các trắc nghiệm hiện hành.
2.3. Mô hình cấu trúc trí tuệ của R.J.Sternberg
Robert J.Sternberg là giáo sư trường đại học Yale (Mỹ).Ông là nhà tâm lí
học nhận thức đương đại và là chuyên gia hàng đầu của Mỹ về nghiên cứu tư duy,
trí tuệ. R.Sternberg không tán thành quan niệm đơn giản hoá việc nghiên cứu trí
tuệ thông qua các trắc nghiệm và huấn luyện trẻem đạt kết quả cao các trắc nghiệm
đó, mà phải hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện các kỹ năng trí tuệ cho trẻ em.
Ông cho rằng bất cứ sự giải thích nào về trí tuệ cũng phải giải quyết được 3 vấn đề:
- Thứ nhất, phải có khả năng liên kết trí tuệ với thế giới bên trong của con
người và giải thích được cái gì xảy ra khi con người suy nghĩ một cách thông
minh.
- Thứ hai, có khả năng giải thích mối quan hệ giữa thế giới bên ngoài với trí
tuệ con người và giải thích được trí tuệ vận hành trong thế giới hiện thực như thế
nào.
- Thứ ba, phải liên kết giữa thao tác trí tuệ với kinh nghiệm cá nhân.
Theo R.Sternberg (1986), năng lực trí tuệ và năng lực tư duy không thể tách rời
nhau, mặc dù năng lực trí tuệ rộng hơn năng lực tư duy.
Trên cơ sở đó, ông xây dựng thuyết 3 thành phần của trí tuệ để giải thích các
quan điểm của mình. Ông gọi tên 3 thành phần đó là: Cấu trúc, kinh nghiệm và
điều kiện.
+ Thành phần cấu trúc. Đây là thành phần mở đầu của cấu trúc trí tuệ và nó
chính là cấu trúc của kĩ năng tư duy. Trong cấu trúc này có 3 thành phần: siêu cấu
nhân
Tóm lại, mô hình của Sternberg đã cung cấp một quan điểm khá phong phú
về bản chất của trí tuệ. Nó gợi ý muốn biết một cá nhân thông minh như thế nào
cần xem xét:
1. Các kỹ năng xử lý thông tin của họ;
2. Kinh nghiệm của họ về những thông tin (những tình huống, bài tập) đó;
3. Ngữ cảnh trong đó họ đang thực hiện các bài tập được giao (văn hoá, thời
đại, tuổi tác ).
2.4. Cấu trúc trí tuệ theo Vưgoxki
L.X.Vưgôtxki đã tách ra hai mức trí tuệ với hai cấu trúc khác nhau: trí tuệ
bậc thấp và trí tuệ bậc cao
+ Trí tuệ bậc thấp: L.X.Vưgôtxki cho rằng hành vi trí tuệ là các phản ứng
trực tiếp và không có sự tham gia của kí hiệu ngôn ngữ là hành vi trí tuệ bậc thấp.
Loại hành vi nàycó cả ở động vật và ở trẻ em.
Như vậy, hành vi trí tuệ bậc thấp có cấu trúc hai thànhphần: thứ nhất, các
kích thích của môi trường (các bàitoán tư duy của chuột, chim bồ câu, khỉ trong
các thínghiệm của Tooođai, Skinnơ, Kơlơ). Thứ hai, cácphản ứng của cơ
thể.Những phản ứng này rất đadạng (có thể là các phản ứng mò mẫm, thử - sai,
đến"suy nghĩ- bừng hiểu của con vật). Cấu trúc của loạitrí tuệ này phù hợp sơ đồ
S -R mà ta thường gặp trongcác công trình nghiên cứu của tâm lí học liên tưởng và
tâm lí học hành vi.
+ Cấu trúc trí tuệ bậc cao. Theo L.X.Vưgôtxki trí tuệ cảu con người khác
con vật ở chỗ con người sử dụng ngôn ngữ và công cụ tâm lí. Đó chính là trí tuệ
bậc cao, chỉ có ở con người.
L.X.Vưgôtxki cho rằng công cụ tâm lí là các cấu thành nhân tạo (các
thích ứng nhân tạo) có bản chất xã hội. Chúng được hướng vào làm chủ các quá
trình của người khác hay của bản thân. Về hình thức, chúng rất đa dạng, có thể
là ngôn ngữ, sơ đồ, thủ thuật ghi nhớ, kí hiệu đại số.v.v, nói chung là mọi quy ước
có thể có… công cụ tâm lí khônglàm thay đổi đối tượng. Nó là phương tiện tác
độngtâm lí, hành vi của bản thân, làm thay đổi diễn biến vàcấu trúc của các chức
H.Gardner đã xác định được 7 loại trí tuệ tương đốiđộc lập của con người.
1. Trí tuệ ngôn ngữ, là khả năng làm chủđược ngôn ngữ và diễn đạt bằng lời hay
bằng chữ viết. Đây là khả năng trí tuệ có đầy đủ các biểu hiện trên.Chúng ta có thể
phát hiện ra ảnh hưởng của tổn thương vùng ngôn ngữ trên não trái. Có hai vùng
quan trọng nhất: thuỳ trán kiểm soát các khả năng nói, còn thuỳ thái dương điều
khiển sự hiểu biết ngôn ngữ. Các thao tác cơ bản của trí tuệ ngôn ngữ là: ngữ âm,
cú pháp, ngữ nghĩa và thực hành ngôn ngữ. Lịch sử phát triển ngôn ngữ được
nghiên cứu bằng thực nghiệm.H.Gardner coi trí tuệ ngôn ngữ là trí tuệ nổi bật của
con người.
2. Trí tuệ âm nhạc. Yếu tố chính trong trí tuệâm nhạc là khả năng nhạy cảm với
các hệ thống dấu hiệu âm thanh, có khả năng cảm nhận các nốt nhạc, giai điệu,
nhịp điệu của chúng, khả năng sáng tạo ra các tác phẩm có tính âm nhạc. Theo
Gardner, có thểbán cầu não phải đóng vai trò quan trọng đối với năngkhiếu này.
Tuy nhiên, mức độ khu trú của nó không tập trung như trí tuệ ngôn ngữ và có thể
biến mất khi não bị tổn thương.
3. Trí tuệ 1ôgic-toán. Loại trí tuệ này cho ta khả năng tính toán phức tạp và lí luận
sâu sắc. Các nhà khoa học là những người tiêu biểu sử dụng loại trí tuệ
này.Họthường có tài nhìn thấu suốt các vấn đềphức tạp và cảm nhận được giải
pháp trước khi đưa ra được những bằng chứng.Trí tuệ này thường nổi bật ởnhững
năm trai trẻ.Cơ sở khu trú của nó có thể ở bán cầu não trái, nhưng không chuyên
biệt tại một vùng nào. Sự suy giảm trí tuệ này liên quan tới sự thái hoá (lão hoá)
toàn bộ của não hơn là do tổn thương hay taibiến cục bộ.
4. Trí tuệ thị giác - không gian (khả năng tưởng tượng không gian). Khả năng tri
giác và làm thấy rõ về không gian của các vật.Các nghiên cứu vềnão đã phát hiện
khả năng này gắn với bán cầu nào phải. Sự tổn thương ở vùng não này có thể dẫn
đến cá nhân không nhận ra người thân và những nơi chốn rất quen thuộc trước kia
5. Trí tuệ vận động (năng lực điều khiển cơthể). Khả năng tạo hay tái tạo một điệu
bộ phù hợp vớihoàn cảnh. H.Garclner cho rằng khả năng kiểm soát cơ thể và khả
năng điều khiển các đồ vật bằng tay là các thao tác cơ bản của trí tuệ vận động. Ở
đây, cơ thểtham gia trực tiếp giải quyết vấn đề, thường nhanh hơn cả trí tuệ.Diễn
nhân và được truyền từ cha mẹ sang con cái, thì chắc chắn đó là một kết luận phi
khoa học.
* Các quan niệm nhấn mạnh yếu tố tư chất, bẩm sinh
Quan niệm này cho rằng yếu tố bẩm sinh, tư chất quyết định hoàn toàn trí
tuệ của con người.
4.1.2. Quan niệm nhấn mạnh yếu tố môi trường.
Về phương diện triết học, các quan niệmnhấn mạnh yếu tố môi trường đều
bắt nguồn từ triết học duy cảm Anh thế kỉ XVII – XVIII, đặc biệt là của
G.Lôccơ.Theo đó, tâm hồn trẻ em là một tờ giấy trắng, xã hội có thể viết lên đó
những gì mong muốn.
Quan niệm nhấn mạnh yếu tố môi trường dễnhận thấy nhất là của các nhà hành vi
chủ nghĩa, với công thức cố hữu S -> R [kích thích (Stimulant) -> phản
ứng (Reaction)]. Có thể dẫn ra hai ví dụ điển hình: niềm tin sâu sắc của J.Watson -
người sáng lập ra thuyết hành vi, về khả năng tạo ra hệ thống hành vi của cá nhân
bằng cách trước đó hình thành hệ thống kích thích tương ứng; về khả năng nhào
nặn của xã hội tạo ra những con người mong muốn từ bất kì đứa trẻ bình thường
nào, không kể đến nguồn gốc xuất thân của chúng.
Quan điểm lí luận trên của J.Watson đã được hiện thực hoá bằng hệ thống
dạy học chương trình hoá - dạy học bằng người máy, mà tác giả là nhà tâmlí học
hành vi kiệt xuất B.Ph.Skinnơ.
4.1.3. Thuyết kiến tạo trí tuệ của G.Piagie
Trong lí thuyết kiến tạo trí tuệ cá nhân,G.Piagie quan niệm sự phát sinh và
phát triển trí tuệcá nhân chịu sự chi phối bởi 1 số yếu tố.
Thứ nhất : sự tăng trưởng cơ thể, đặc biệt là sự chín muồi của phức hợp được tạo
thành bởi hệthần kinh và nội tiết tạo điều kiện cần thiết cho sự xuất hiện một số
hành vi nào đó.
Thứ hai: vai trò của sự luyện tập và kinh nghiệm thu được thông qua hoạt động
với đối tượng (G.Piagie ám chỉ đây là những kinh nghiệm vật lí- thu được thông
qua các hoạt động vật lí. Chúng đối lập với những kinh nghiệm xã hội).Những yếu
tố này vừa làcần thiết vừa là chủ yếu cho đến khi trẻ em hình thành được các cấu
qua hoạt động cá nhân.Những người giải quyết mối quan hệ giữa yếu tố sinh học
với trí tuệ theo con đường trực tiếp đã không tính đến vai trò của chủ thể trong mối
quan hệnày.
4.2.2. Quan hệ giữa chủ thể với môi trường xã hội của sự phát triển
Môi trường xã hội vừa quy định nội dung vàphương thức phát triển trí tuệ cá
nhân vừa là sản phẩm của nó. Chữ "vừa" ở đây không có nghĩa lŕ sau nŕy lŕ cái kia,
mà là do cái này có cái kia, cái này quy định cái kia và ngược lại. Vì vậy, về cả
phương diện phát triển tâm lí của loài người lẫn phương diện pháttriển trí tuệ cá
nhân, luận điểm của Các Mác: "con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn
cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy,” phải được coi là định lý của sự phát triển.
4.2.3. Ảnh hưởng của cảm xúc tới trí tuệ
Trong thực tiễn, cảm xúc tham gia vào hoạtđộng trí tuệ trên hai phương
diện: là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm một hành động trí tuệ nào đó và là người
hướng đạo cho hành động đó. Vai trò hướng đạo của cảm xúc được biểu hiện ít
nhất trên 3 phương diện sau:
- Thứ nhất: Cảm xúc như là yếu tố bên trong xâm nhập vào toàn bộ quá trình
hành động trí tuệ từ trí giác sự vật đến các quá trình tư duy trừu tượng. Toàn bộ
quá trình hành động trí tuệ này bị nhuốm màu và bịchi phối bởi cảm xúc của cá
nhân, trong từng tình huống cụ thể hoặc gắn liền với đặc trưng tình cảm của cá
nhân đó.
- Thứ hai: trong suốt quá trình hành động trí tuệ, ngay từ những thao tác đầu
tiên cho tới thao tác cuối cùng, mỗi khi xuất hiện một thao tác, thì liền ngay đó
xuất hiện một cảm xúc tương ứng và cảm xúc này trở thành tâm thế, dẫn chuỗi
thao tác tiếp theo đi theohướng phù hợp với tâm thế đó.
- Thứ ba: kết quả củamỗi thao tác, mỗi hành động trí tuệ sẽ mang đến cho
chủ thể một cảm xúc mới. Đến lượt nó, cảm xúc này sẽchi phối các quyết định tiếp
theo của chủ thể, đặc biệt là trong việc lựa chọn các phương án, các kế hoạch
hành động trí tuệ.
Nói tóm lại, suy cho cùng mọi hành động trí tuệ đều cósự tham gia của cảm
xúc.Nó thâm nhập vào ngay từcác hoạt động tri giác đến việc lựa chọn các thao tác
hệ thống dấu hiệu âm thanh,
có khả năng cảm nhận các nốt
nhạc, giai điệu, nhịp điệu của
chúng, khả năng sáng tạo ra
các tác phẩm có tính âm nhạc.
thể bán cầu não
phải đóng vai trò
quan trọng đối với
năngkhiếu
Nhạc sĩ, ca sĩ
3 Trí tuệ
1ôgic-toán.
khả năng nhìn thấu suốt các
vấn đề tính toán phức tạp và lí
luận sâu sắc
Cơ sở khu trú của
nó có thể ở bán cầu
não trái
Các nhà khoa
học là những
người tiêu biểu
sử dụng loại trí
tuệ này
4 Trí tuệ thị
giác -
không gian
Là khả năng tưởng tượng
không gian, khả năng tri giác
và làm thấy rõ về không gian
của các vật
các bậc cha mẹ
thành công trong
vai trò của mình
7 Trí tuệ nội
tâm.
Đây là khả năng cơ bản hiểu
biết những cảm xúc, tình cảm
của bản thân; khả năng phân
biệt, biểu hiện xúc cảm bằng
hệ thống kí hiệu.
Thuỳ trán là trung
tâm của trí tuệ
nội tâm
những người
thành công là
nhữngngười
hiểu rõ chính
mình, có thể
định hướng tốt
nhất cách cư xử
và sử dụng kiến
thức của mình
trong các
tình huống thích
hợp
CHUYÊN ĐỀ: TÂM LÝ HỌC TRÍ TUỆ
NHIỆM VỤ 3: TRẮC NGHIỆM CHẨN ĐOÁN TRÍ TUỆ
1. Trắc nghiệm chỉ số thông minh của Ph.D.Alfred W. Munzertdùng để đo chỉ số
IQ của những người từ 11 tuổi trở lên
2. Quan điểm lý luận của tác giả trắc nghiệm
4 C 19 C 34 D 49 E
5 C 20 D 35 A 50 B
6 B 21 E 36 D 51 A
7 A 22 E 37 E 52 M
8 E 23 E 38 A 53 B
9 B 24 C 39 B 54 B
10 A 25 E 40 C 55 C
11 15 26 A 41 B 56 D
12 C 27 C 42 C 57 B
13 D 28 C 43 E 58 C
14 C 29 D 44 12 59 D
15 D 30 C 45 D 60 E
Bảng tính điểm – chỉ số IQ:
Tuổi
Chỉ số thông
minh
11 12 13 14 15 16+
8 10 13 15 17 19 80
9 11 14 16 18 20 82
10 12 15 17 19 21 84
11 13 16 18 20 22 86
12 14 17 19 21 23 88
13 15 18 20 22 24 90
14 16 19 21 23 25 92
15 17 20 22 24 26 94
16 18 21 23 25 27 96
17 19 22 24 26 28 98
18 20 23 25 27 29 100
19 21 24 26 28 30 102
20 22 25 27 29 31 104
Từ 80- 88 Trí thông minh trung bình yếu
Từ 90- 98 Trí thông minh dưới trung bình
Từ 100- 108 Trí thông minh trung bình
Từ 110- 118 Trí thông minh trên trung bình
Từ 120- 138 Rất thông minh
Trên 140 Cực kì thông minh
6. Vùng sử dụng tối ưu và hạn chế
6.1. Vùng sử dụng tối ưu
- Sử dụng tối ưu khi chẩn đoán trí thông minh học đường trong những thời
điểm nhất định.
- Bao quát được nhiều mặt của trí tuệ: tư duy logic, tư duy sáng tạo, khả
năng tư duy hình ảnh, khoogn gian, ngôn ngữ, trí nhớ.
- Là phương tiện hữu hiệu để nhà nghiêncứu tường minh hoá, khách quan
hoá và lượng hoá khái niệm lí luận của mình về trí tuệ. Nó là một mô hình để qua
đó nhà nghiên cứu quan sát, phân tích được những yếu tố trong trí tuệ cá nhân.
- Do tính chất tiêu chuẩn của trắc nghiệm,nên nó trở thành công cụ đo lường
phổ biến, qua đócó thể so sánh, phát hiện sự khác biệt cá nhân về trítuệ.
- Do tính chất ngắn gọn; kỹ thuật tiến hành vàxử lý không phức tạp; các thiết
bị đơn giản, gọn, vì thếnhanh chóng cho kết quả sơ bộ về trí tuệ của số lượng lớn
nghiệm thể trong thời gian ngắn, nhất là những trắc nghiệm làm theo nhóm.
- Về lí luận, do trắc nghiệm được soạn thảo theo một quan niệm lí luận nhất
định, nên dựa vào độứng nghiệm và độ tin cậy của kết quả trắc nghiệm so với cái
có thực của trí tuệ, có thể kiểm tra độ chân thực của khái niệm lí luận cơ sở cũng
như tính đúng đắncủa quá trình soạn thảo và chuẩn hoá trắc nghiệm. Nhờ đó, nhà
nghiên cứu có thể điều chỉnh theo mục tiêu đã định. Như vậy trắc nghiệm không
chỉ là phương tiện của nhà nghiên cứu mà còn gián tiếp là công cụkiểm tra việc
nghiên cứu của họ.
6.1. Hạn chế
- Chỉ chú ý tới kết quả các bài tập do nghiệm thể độc lập thực hiện, không có
sự hợp tác của nhànghiên cứu và ít quan tâm đến quá trình nghiệm thểlàm các bài
giá trị lớn về mặt tinh thầnđối với bạn nhưng mãi mà vẫn chưa mang trả. Bạn sẽ
làm gì?
A. Bạn nói thẳng đây là món đồ rất quan trọng với bạn và bạn đề nghị trả lại.
B. Từ mặt mấy người này ra, từ giờ sẽ không cho mượn gì nữa.
C.Bỏ đi, tình bạn quan trọng hơn hết.
D. Làm mặt lạnh cho đến khi người kia mang đến trả.
Câu 2: Vì một số lí do, người bạn thân thiết của bạn bỗng dưng không muốn nhìn
mặt bạn nữa, bạn sẽ làm thế nào?
A. Ngồi tự kỉ một mình.
B. Tìm cách giải tỏa nỗi buồn bằng cách đi shopping, học nhảy… cho đến khi
người kia hết giận bạn.
C. Kiếm bạn mới để chơi, thiếu gì bạn, mất một người có gì đâu.
D. Lao vào công việc để không nghĩ linh tinh nữa.
Câu 3: Bạn phải ở chung phòng ngủ với em/chị/anh, nhưng khổ nỗi em/chị/anh của
bạn lại cực kì bừa bộn và chẳng chịu dọn dẹp gì cả, những lúc như thế bạn làm
sao?
A. Bạn hù doạ, dùng bạo lực để người đó phải dọn phòng.
B. Nói mãi mà nó không chịu thay đổi, bạn đành phải sống cùng sự bừa bãi này
thôi.
C. Bạn nói rõ ràng, giải thích tại sao ở bừa bãi lại không tốt, rằng…
D. Bạn cố tìm cách để làm bẽ mặt nó.
Câu 4: Bạn sẽ làm gì khi tìm được một học bổng rất lớn? Để có được học bổng,
bạn đã phải làm cho xong một bài luận dài ngoằng và cực kì khó khăn.
A. Bạn vô cùng lo lắng, đến mức chẳng làm được gì.
B. Bạn để bài luận sang một bên, phải xả stresss rồi làm gì thì làm.
C. Bạn dành cả tuần để làm bài luận, nhưng tuyệt đối không nói ra với ai.
D. Bạn bình tĩnh để làm tiểu luận, lên dàn bài và tham khảo ý kiến của một số
người.
Câu 5: Bạn đang ung dung trong sân trường, thì bỗng nhiên bạn bị ngã ngay trước
mặt một đám con trai. Và: