PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng luôn là
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Từ các văn kiện đại hội Đảng
khóa VIII, IX, X của Đảng đều khẳng định: Con người là vốn quý nhất,
chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta
…mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều nhằm
quán triệt tư tưởng chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người,
hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam…
Điều 9 luật Giáo dục 2005 cũng đã nêu: “Phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến
bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa,
hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành
nghề , cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và
hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng”
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, phát triển nguồn lực để đáp ứng
nền kinh tế tri thức đang được nhiều quốc gia ưu tiên. Trong đó lao động tri
thức được coi là vốn nhân lực hàng đầu. Gia nhập WTO tức là đã trực tiếp
tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó có ý
nghĩa tích cực tác động đến nền kinh tế, xã hội cũng như thị trường lao động
của Việt Nam đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi
mang tính đột phá, tăng tốc. Song song với những cơ hội lớn thì những thách
thức như tụt hậu, đói nghèo, rào cản về văn hóa, trong đó cạnh tranh được
xem như một cuộc chiến gay gắt mà chỉ có những thị trường có sức cạnh
tranh cao mới có khả năng phát triển và ngược lại sẽ bị đào thải.
Chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạng lưới các trường
Đại học - Cao đẳng giai đoạn 2002 - 2010 và giai đoạn tiếp theo đến 2020
1
cũng đã cụ thể hóa nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao,
chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ CNH - HĐH tạo cơ hội học
riêng còn nhiều bất cập, trong đó quy trình xây dựng và phát triển chương
trình đào tạo chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo tính liên thông, chưa đáp ứng so
với nền kinh tế tri thức đang phát triển mạnh mẽ và những thay đổi của thực
tiễn giáo dục. Vì vậy vấn đề đặt ra là phải tìm được giải pháp để vừa quản lý
được chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng, vừa đảm
bảo chương trình đào tạo không tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội,
phù hợp với nhu cầu của người học, vừa thể hiện được mục tiêu đào tạo, nội
dung đào tạo, phương pháp và quy trình đào tạo. Giải pháp ấy phải thực sự
đi trước đón đầu sự phát triển kinh tế - xã hội một bước và đây cũng là yêu
cầu cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, mở rộng các loại hình
đào tạo phù hợp với nhu cầu của người học và những đòi hỏi mới của xã hội,
của thị trường lao động, đồng thời thực hiện tốt đăng ký kiểm định chất
lượng giáo dục của các trường cao đẳng sư phạm cả nước trong giai đoạn
2007 - 2015.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo hệ vừa làm
vừa học phù hợp với điều kiện của nhà trường và địa phương, góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng sư phạm của trường Cao
đẳng sư phạm Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý phát triển chương trình đào tạo cao đẳng sư phạm
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học
của trường cao đẳng sư phạm Sóc Trăng
3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp quản lý quy trình phát triển chương trình đào tạo cao
đẳng sư phạm hệ vừa làm vừa học của trường cao đẳng sư phạm Sóc Trăng
cao chất lượng đào tạo để thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục của nhà
trường trong tương lai.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục. Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển chương trình đào tạo
Chương 2: Khảo sát thực trạng quản lý chương trình đào tạo hệ vừa
làm vừa học của trường CĐSP Sóc Trăng
Chương 3: Giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo hệ vừa
làm vừa học của trường CĐSP Sóc Trăng
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cùng với các lĩnh vực nghiên cứu quản lý giáo dục thì quản lý
chương trình đào tạo trong các trường Đại học - Cao đẳng sư phạm được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý
công tác đào tạo đã góp nhiều giá trị trong thực tiễn quản lý quá trình dạy
học. Bên cạnh những công trình nghiên cứu mang tính phổ quát thì những
năm gần đây đã có nhiều luận văn đề cập nghiên cứu nhiều khía cạnh về
quản lý đào tạo các chương trình tại chức, liên thông, liên kết… hầu hết các
tác giả đã đánh giá sâu sắc thực trạng và đề ra các giải pháp phù hợp nhằm
giải quyết những vướng mắc của từng cơ sở giáo dục - đào tạo cụ thể. Tuy
nhiên giải pháp quản lý phát triển chương trình đào tạo hệ vừa làm vừa học
tại trường cao đẳng sư phạm Sóc Trăng có những đặc điểm riêng:
- Vừa thực hiện công tác chuẩn hóa đội ngũ giáo viên phổ thông từ bậc
học mầm non, tiểu học đến trung học cơ sở cho Tỉnh, trong đó chuẩn
hóa với nhiều trình độ khác nhau: từ trình độ trung học sư phạm hệ
9+3 năm, 9+4 năm lên trình độ 12+2 năm; từ trình độ cao đẳng 12
ở trường CĐSP Sóc Trăng.
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý phát triển chương trình đào tạo
1.2.1 Những khái niệm công cụ
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Trong cuốn “Tâm lý học trong quản lý nhà nước” - Học viện hành
chính quốc gia 1993, tác giả Mai Hữu Khuê nêu rõ “Hoạt động quản lý là
một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp của các
dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành một chỉnh thể thống nhất, điều
7
hoà, phối hợp các khâu quản lý và các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa
đến hiệu quả cao”.
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Một số vấn đề cơ bản về khoa học
quản lý” 2000 - NXB chính trị quốc gia Hà Nội thì “Quản lý là sự tác động
có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống
các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống
tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ mục đích của con người”
Tác giả Nguyễn Văn Lê “Khoa học quản lý nhà trường” 1997 NXB
Giáo dục cho rằng: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ
thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu
quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”.
Như vậy, khi bàn về quản lý, các tác giả đều có quan điểm thống nhất
chung là: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối
với khách thể (đối tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế xã hội…
bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp
và các biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát
triển của đối tượng.
Có thể khái quát khái niệm quản lý theo hai góc độ [30,7]:
- Góc độ chính trị - xã hội: Quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức và
sức lao động. Vận hành này cần có một cơ chế quản lý cho phù hợp
- Góc độ hành động: Quản lý chính là chỉ huy, điều khiển, điều hành
Tác giả Bùi Văn Quân: “Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã
hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa
chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý
theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực
hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì
9
sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã
hội đặt ra đối với giáo dục”. [28, 13]
Năm 1973 cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nói bản chất của
quản lý giáo dục là “Quản lý thế nào để thầy dạy tốt, trò học tốt, tất cả để
phục vụ cho hai tốt đó”.
Từ những khái niệm của các tác giả trên xét về nội hàm của quản lý
giáo dục có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là một hoạt động chuyên
biệt của chủ thể quản lý, gồm các tác động có chủ đích nhằm đảm bảo sự vận
hành tối ưu của một hệ thống/tổ chức/cơ quan giáo dục - đào tạo nhờ đó đạt
được các mục tiêu phát triển theo yêu cầu xã hội.
1.2.1.3 Khái niệm nhà trường
Trong Từ điển Tiếng Việt thông dụng 1998: Nhà trường là cơ sở để
tiến hành dạy học và các hoạt động giáo dục khác nhằm thực hiện nhiệm vụ
và mục tiêu giáo dục - đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trường
được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước với các loại hình
công lập, bán công, dân lập, tư thục. Nhà trường chịu sự quản lý nhà nước
của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính
phủ. Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ
thống giáo dục quốc dân; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân mở
trường dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Mỗi Nhà trường
được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của cấp có thẩm quyền
và theo điều lệ Nhà trường, trong đó xác định rõ: nhiệm vụ, quyền hạn của
Nhà trường, quan hệ giữa Nhà trường, gia đình và xã hội. Cấp nào có thẩm
quyền quyết định thành lập Nhà trường thì cấp đó có thẩm quyền quyết định
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh.
11
Quản lý nhà trường bao gồm: “Tập hợp những tác động tối ưu (công
tác, tham gia hỗ trợ, phối hợp, huy động can thiệp ) của chủ thể quản lý đến
tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác.
- Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có.
- Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội
tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ.
- Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo đưa nhà trường
tiến lên trạng thái mới” [26]
Phó giáo sư Phạm Viết Vượng trường Đại học sư phạm Hà Nội thì cho
rằng quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và
tổ chức các lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác,
cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo trong nhà trường.
Chức năng chủ yếu của nhà trường là dạy học và giáo dục. Chức năng
đó cần được thể chế hóa một cách chặt chẽ thông qua kế hoạch đào tạo. Việc
xây dựng nề nếp dạy và học nhằm mục đích đảm bảo các kế hoạch, quy chế
đào tạo, trên cơ sở các kế hoạch, quy chế đó mà xây dựng môi trường sư
phạm lành mạnh, hấp dẫn với kỷ luật tự giác và tình cảm trách nhiệm cao,
xây dựng mối quan hệ cộng tác, giúp đỡ, học hỏi lẫn nhau của giáo viên và
học sinh, cũng như khơi dậy và khuyến khích tính tự giác, tích cực, chủ
động, sáng tạo trong học tập của học sinh, sinh viên. Mục đích cuối cùng của
hoạt động này là nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục –
đào tạo trong nhà trường.
Để mô hình hóa “nhà trường”, người ta để ý đến 10 yếu tố hạt nhân
hình thành và phát triển quá trình đào tạo bao gồm:
13
- Nhờ gần gũi người học, cộng đồng, nắm được chính xác nhu cầu và đáp
ứng tối ưu cho người học bằng các nguồn lực có sẵn nên lãnh đạo nhà trường
có thể tối ưu hóa hiệu quả giáo dục.
Đến năm 1996, người ta bắt đầu bàn tới việc xây dựng nhà trường hiệu
quả mà theo Thomas và Martin: Nhà trường hiệu quả là nhà trường mà
trong đó học sinh có tất cả các năng lực thực hiện được đầy đủ mọi tiềm
năng của mình.
Nhà trường hiệu quả được UNESCO [20] khuyến cáo có những đặc
điểm sau:
- Áp dụng tiếp cận: Lấy học sinh làm trung tâm
- Các chương trình giảng dạy giàu tính học thuật
- Dạy là để khuyến học
- Có không khí sư phạm tích cực
- Khuyến khích hoạt động tương tác đồng đẳng
- Quan tâm phát triển giáo viên
- Chú ý chia sẻ quyền lãnh đạo
- Khuyến khích giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
- Huy động được sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng.
Dù nhà trường ở một loại hình nào đi nữa thì hoạt động quản lý nhà
trường phải bao gồm tất cả các tác động của chủ thể quản lý đến các hoạt
động trong cấu trúc của nhà trường nhằm vận hành hệ thống tổ chức của nhà
trường đạt tới các mục tiêu của chính nhà trường đó đề ra cùng với các mục
tiêu của Nhà nước và xã hội đòi hỏi. Xu hướng mà các nhà trường hiện nay
đều kỳ vọng có được đó là nhà trường chất lượng theo 5 tiêu chí được mô tả
theo sơ đồ 1.2.1.4
14
Sơ đồ 1.2.1.4 Nhà trường chất lượng
1.2.2. Chương trình đào tạo và phát triển chương trình đào tạo
1.2.2.1 Thuật ngữ chương trình đào tạo/chương trình giáo dục và các
chính
Money
Tài
chính
Money
Cơ sở
vật
chất
Material
Cơ sở
vật
chất
Material
Quản
lý
Manage
-ment
Quản
lý
Manage
-ment
Nhà trường chất lượng
5M
Nhà trường chất lượng
5M
15
gồm một vài môn học; Giảng dạy bằng phương pháp thuyết trình; Mục tiêu
là chuyển tải hết nội dung môn học.
Sang thời đại cách mạng giáo dục với trào lưu cải cách chương trình
(1920 - 1940) ở châu Âu và các nước Bắc Mỹ thì chương trình đào tạo được
+ Chương trình = Nội dung
- Cách tiếp cận mục tiêu:
+ Quan niệm: Giáo dục là công cụ để đào tạo nên các sản phẩm với
các tiêu chuẩn đã được xác định sẵn.
+ Định nghĩa: Chương trình đào tạo là một kế hoạch đào tạo phản
ánh các mục tiêu đào tạo mà nhà trường giáo dục là một bản thiết kế tổng
thể cho một hoạt động giáo dục (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một
tuần hoặc vài năm).
+ Chương trình = Nội dung + Mục tiêu + Phương pháp
- Cách tiếp cận phát triển:
+ Quan niệm: Chương trình giáo dục là quá trình, còn giáo dục là sự
phát triển.
+ Định nghĩa: Chương trình giáo dục là một bản thiết kế tổng thể cho
một hoạt động giáo dục (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc
vài năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung giáo dục, chỉ rõ
những gì có thể trông đợi ở người học sau khoá học, nó phác hoạ ra quy trình
cần thiết để thực hiện nội dung giáo dục, nó cũng cho biết các phương pháp
giáo dục và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những
cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ (Tim Wentling, 1993)
+ Các bộ phận cấu thành của một chương trình đào tạo theo tiếp cận
phát triển gồm có: mục tiêu; nội dung; phương pháp và qui trình; đánh giá
kết quả
+ Một số định nghĩa theo quan niệm tiếp cận phát triển:
17
Chương trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng
thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên
các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ
phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức
tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập…, nhằm đạt được các mục
tiêu học tập đề ra. [14,14 ]
phương thức đào tạo; các hình thức tổ chức hoạt động đào tạo; các hình thức
kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo.
1.2.2.2 Phát triển chương trình đào tạo
Phát triển chương trình đào tạo là một quá trình liên tục nhằm hoàn
thiện không ngừng chương trình đào tạo. Phát triển chương trình là một
chuỗi các hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều bước nhỏ, nhiều thao tác để kết
hợp các phần công việc thành một chương trình. Về cơ bản, việc tạo ra một
chương trình bao gồm nhiều yếu tố tạo thành một quy trình, các yếu tố này
luôn gắn kết, ảnh hưởng lẫn nhau và không thể tách rời:
- Phân tích bối cảnh điều kiện,
- Xác định mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể,
- Thiết kế chương trình,
- Thực thi chương trình,
- Đánh giá chương trình. (sơ đồ 1.2.2.2)
19
Sơ đồ 1.2.2.2 Quy trình phát triển chương trình [24]
Theo quan điểm phát triển thì chương trình đào tạo là một thực thể
không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi, mà được phát triển,
bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế - xã
hội, của thành tựu khoa học kỹ thuật - công nghệ, và cũng là yêu cầu của thị
trường sử dụng lao động. Nói cách khác, một khi mục tiêu của nền giáo dục
quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì chương trình đào tạo cũng
phải thay đổi theo, mà đây là quá trình diễn ra liên tục nên chương trình cũng
phải không ngừng phát triển và hoàn thiện, gồm 3 giai đoạn cơ bản:
Giai đoạn 1: Thiết kế CTĐT
- Những nguyên tắc và thủ tục được tiến hành để tạo ra một CTĐT
trước khi áp dụng.
- Những hoạt động lập kế hoạch xây dựng một khoá đào tạo hoặc
một CTĐT.
Giai đoạn 2: Thực hiện CTĐT
- Nghiên cứu cần phải gắn liền với các nhu cầu của xã hội.
- Cơ sở đào tạo cần khẳng định sứ mệnh của mình, những định hướng
toàn bộ bao quát gắn với các CTĐT quốc gia và dựa trên phân tích các nhu cầu.
- Chương trình đào tạo cần chỉ rõ kết quả đầu ra mong muốn và
không đơn giản chỉ là những nội dung được chuyển tải và tái tạo lại hoặc chỉ
đơn thuần là tên gọi các môn học.
- Chương trình đào tạo đại học cần được tổ chức với sự tham gia đầy
đủ của các giảng viên, nhà khoa học có trình độ và làm việc với nhau trong
môi trường thuận lợi đảm bảo nội dung thích hợp với sự phát triển. [31,44]
Khởi đầu cho một quy trình xây dựng hay phát triển một chương trình
đào tạo là xác định nhu cầu xã hội, cần tập trung vào việc phân tích sự thích
hợp về phương diện gắn với thế giới việc làm. Nguyên tắc được thiết lập như
21
sau: “Trong một thị trường lao động năng động và không đồng nhất, các cơ
sở giáo dục đại học không nên chỉ dựa vào những định hướng lâu dài về thị
trường lao động hoặc kế hoạch nguồn nhân lực mà cần dựa vào nhu cầu xã
hội”. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có được những kỹ năng mới.“Giáo dục
đại học cần thực hiện phương pháp giáo dục dựa trên tri thức, đào tạo ra
những người biết cách học và có trách nhiệm với việc học tập như thế nào,
bằng cách đó sinh viên sẽ được chuẩn bị tốt hơn để tạo ra việc làm cho chính
bản thân họ”. “Sự phối hợp hài hoà lẫn nhau với thế giới việc làm và khẳng
định rằng giáo dục đại học cần nhận lấy vai trò dẫn đầu trong sự phát triển
thế giới việc làm để thoả mãn tốt hơn những yêu cầu về phát triển bền
vững”. [31,43]
Hiện nay chúng ta đang liên tục đề cập đến việc phát triển chương
trình cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Nhu cầu của xã hội (nhà nước,
doanh nghiệp, người học) luôn biến động và thay đổi theo sự phát triển của
kinh tế - xã hội, vì vậy CTĐT cũng phải liên tục được cập nhật, điều chỉnh,
thay đổi để đáp ứng được nhu cầu phát triển đó.
Tuy vậy vẫn còn 2 yếu tố quan trọng khác mà chúng ta phải đề cập
rất ít hay không tham gia vào quá trình phát triển chương trình. Các nhà
nghiên cứu gọi cách tiếp cận với việc xây dựng chương trình này là tiếp cận
mục tiêu, giả định về mục tiêu chung của người học. Chương trình như vậy
sẽ thành công thông qua quá trình phân tích nhu cầu và tình huống, đặt ra
những mục tiêu chung, quyết định nội dung và phương pháp giảng dạy và
thiết lập hệ thống đánh giá.[24]
Cho dù có nhiều xu hướng hay nhiều mô hình phát triển CTĐT, đặc
biệt trong điều kiện phát triển nhiều trường ĐH - CĐ, nhiều cơ sở đào tạo
nghề, thì việc chọn lựa một mô hình phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế
- xã hội và giáo dục của trường/cơ sở đó thường đòi hỏi có sự cân nhắc về:
23
điều kiện con người, vật chất, tài chính, nhu cầu của xã hội, của người học
và những tác động khác từ môi trường
Trong phạm vi của đề tài xin giới thiệu 3 mô hình phát triển chương
trình đào tạo sau:
1.2.2.3a Mô hình phát triển CTĐT có hệ thống của Robert M. Diamond 1998
Đây là một mô hình được các nhà quản lý đánh giá cao bởi những ưu
điểm của nó:
- Quan tâm đến xu hướng lấy người học làm trung tâm: xu hướng chung
của chương trình hiện đại là lựa chọn một số lượng hợp lý những nội
dung cần học tập trên lớp, tránh quá tải tri thức và dành lượng thời gian
cần thiết, hợp lý cho hoạt động tự học của người học.
- Không chỉ tập trung vào nội dung kiến thức mà xem xét quá trình dạy
học trong sự vận động, tác động qua lại của nhiều thành tố.
- Mô hình này là một thiết kế đồng bộ xem xét quá trình dạy học ở khâu vận
hành, trong đó mục tiêu, nội dung, phương pháp phương tiện, hình thức tổ
chức dạy học , hình thức kiểm tra đánh giá đều được chú trọng.
- Mô hình này được thực hiện theo 5 bước sau:
+ Bước 1: Xác định nhu cầu của sinh viên, của cộng đồng và xác
định kiến thức chuyên ngành.
+ Đánh giá nhu cầu đào tạo TNA (Training Need Assessment).
- Bước 2: Phát triển chương trình khung đào tạo của ngành.
Xác định
nhu cầu
Xác định
mục đích
Biên soạn Thực
hiện
và đánh
giá
Hiệu
chỉnh khi
cần thiết
25