SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA
HÌNH THỨC SINH HOẠT CÂU LẠC BỘ TẠI TRƯỜNG THCS BA
CỤM BẮC"
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo công văn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT tỉnh Khánh Hoà về vấn đề
đưa KNS vào chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông, yêu cầu lồng ghép
chương trình kỹ năng sống ở các môn học như: GDCD, Sinh học, Ngữ văn,… và đặc biệt
là nội dung môn học GDCD và HĐGDNGLL, nhưng khi áp dụng giáo viên còn nhiều
lúng túng, chưa biết lồng ghép như thế nào, bằng cách nào? Bởi vì nội dung giảng dạy
của các môn học trên trong phân phối chương trình đã quá nhiều. Một bài học mà phải
lồng ghép rất nhiều nội dung như giáo dục KNS, giáo dục môi trường, sức khỏe sinh
sản… làm cho giáo viên gặp không ít khó khăn khi soạn giáo án và hạn chế về thời gian
khi dạy trên lớp.
Theo các chuyên gia tâm lý, học kỹ năng sống cũng giống như học bơi, phải nhảy
xuống nước chứ không thể đứng trên bờ nhìn mà biết bơi được. Bồi đắp kỹ năng sống
cho học sinh phải được thực hiện thường xuyên, phải gắn liền với hoạt động hàng ngày
của các em như giao tiếp, rèn luyện bản lĩnh cá nhân, bảo vệ bản thân, có tinh thần đồng
đội và biết chia sẻ…
Kỹ năng sống không nên quá cao siêu mà vô cùng đơn giản, gần gũi với HS. Đây là
những kiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập: các em được dạy những điều cơ bản
nhất như giới thiệu bản thân, kỹ năng giao tiếp ứng xử, làm việc theo nhóm, kỹ năng
khám phá, thay đổi bản thân… Mục đích của các buổi sinh hoạt này là giúp các em tự tin
hơn, tự lập hơn trong cuộc sống.
Giáo dục nghĩa là đón bắt. Điều này càng thể hiện rõ trong việc rèn kỹ năng sống cho học
sinh. Tôi không chỉ dạy cho các em cách phản ứng, ứng xử với những tình huống mà các
em đã và đang gặp phải, mà với tư cách là người đi trước, dù ít hay nhiều, khi này hay
khi khác đã có lúc tôi và một số người lớn chúng ta phải trả giá cho những hành động và
2
* Chỉ thị 40/2008/ CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT về phát động phong
trào “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” (Trích):
“Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh:
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ
năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm.
- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao
thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ
nạn xã hội.”
2. Thực trạng của vấn đề
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giáo dục đạo đức cho các em học sinh đang thể
hiện nhiều vấn đề gây nhức nhối trong dư luận xã hội. Sự thiếu hụt trong nhận thức đạo
đức của học sinh vừa là hậu quả, vừa là thể hiện vấn đề lớn: “Học sinh hiện nay không
được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để ứng phó thích đáng với các biến
4
cố đến từ các yếu tố ngoại cảnh cũng như các biến động xuất phát từ chính tâm sinh lý
của các em”. Tức là các em thiếu Kỹ năng sống (KNS).
Biểu hiện của vấn đề thiếu kỹ năng sống của học sinh THCS nói chung và học sinh
THCS Ba Cụm Bắc thể hiện rất đa dạng ở nhiều vấn đề, có thể kể đến như sau:
+ Vấn đề trẻ vị thành niên nói chung và học sinh cấp THCS nói riêng thiếu kỹ năng
sống, thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản
thân.
+ Trẻ em thiếu tự tin, không biết cách xử lí các tình huống đơn giản trong cuộc
sống như: không biết phản ứng thế nào khi bị trêu chọc, bắt nạt; không dám hỏi (yêu cầu)
sự giúp đỡ khi gặp khó khăn…
+ Tình trạng bạo lực học đường ngày một đáng báo động. Học sinh vi phạm pháp
luật, học sinh đánh nhau, học sinh đánh giáo viên, các clip học sinh, nữ sinh đánh nhau
xuất hiện ngày càng nhiều như một bệnh dịch.
+ Nhiều học sinh sống khép kín, bị lôi cuốn vào thế giới ảo trên mạng Internet,
nghiện game online.
huống khó khăn trong giao tiếp hàng ngày.
6
- Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân , gia đình, cộng đồng.
- Mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin, tự quyết định và lựa chọn đúng
đắn
Vì sao phải giáo dục kĩ năng sống?
Những thay đổi nhanh chóng trong xã hội và thay đổi tâm sinh lí của chính bản
thân trẻ cha thành niên đang có tác động lớn đối với các em
Những thay đổi về mặt kinh tế xã hội cũng ảnh hởng đối với gia đình các em.
Việc giáo dục KNS nhằm giáo dục sống khoẻ mạnh là hết sức quan trọng giúp các
em : Rèn hành vi có trách nhiệm, ứng phó với sức ép trong cuộc sống, biết lựa chon cách
ứng xử phù hợp, ứng phó với thách thức trong cuộc sống.
Lợi ích của giáo dục kĩ năng sống
Lợi ích về mặt sức khoẻ:
- Xây dựng hành vi lành manh tạo khả năng bảo vệ sức khoẻ cho mình và cho mọi
người trong cộng đồng.
Lợi ích về mặt giáo dục
Mối quan hệ giữa thầy và trò, sự hứng thú học tập của hs, sự sáng tạo của giáo
viên, sự chủ động học tập của HS, tăng cờng sự tham gia của HS.
Lợi ích về mặt chính trị
- Giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền của trẻ em.
- Các em xác định đợc bổn phận và nghĩa vụ cao cả của mình đối với bản thân, gia
đình và xã hội.
Lợi ích về mặt văn hoá - xã hội:
7
Thúc đẩy hành vi mang tính xã hội tích cực, giảm bớt tỷ lệ phạm pháp trong thanh
thiếu niên, giảm tỷ lệ có thai và lạm dụng tình dục, nghiện ma tuý ở tuổi vị thành niên.
* Một số điểm cần lưu ý:
- KNS không thể tự nhiên có được mà do cá nhân hình thành qua quá trình học tập,
lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Vì vậy, giáo viên, cần tạo nhiều cơ hội và tình
12. KN hợp tác
13. KN tư duy phê phán
14. KN tư duy sáng tạo
15. KN ra quyết định
16. KN giải quyết vấn đề
17. KN kiên định
18. KN đảm nhận trách nhiệm
19. KN đặt mục tiêu
9
20. KN quản lí thời gian
21. KN tìm kiếm và xử lí thông tin
* Vì phải cân nhắc giữa thời lượng và khối lượng công việc của cả cô và trò trường
THCS BCB nên tôi chú trọng tập trung vào một số kĩ năng thiết yếu trước mắt, cụ thể
như sau: KN 1, 2, 4, 7.
3.2. Các biện pháp tiến hành cụ thể
3.2.1. Kỹ năng tự nhận thức (KN 1):
* Cung cấp kiến thức tại CLB:
a. Khái niệm:
Kĩ năng tự nhận thức bản thân là khả năng một người nhận biết đúng đắn rằng: mình là
ai, sống trong hoàn cảnh nào, yêu thích điều gì, ghét điều gì, điểm mạnh và điểm yếu của
mình ra sao, mình có thể thành công ở những lĩnh vực nào…
b. Nội dung.
Em là ai, là cái gì?
Em tự nhận thấy bản thân mình ra sao?
Em có những điểm mạnh, điểm yếu nào?
Em thường thành công trong những lĩnh vực, hoạt động, môn học,… nào?
Em thường chưa thành công trong những lĩnh vực, hoạt động, môn học,… nào?
Mục tiêu cuộc sống của em là gì?
Em có những yếu tố thuận lợi nào để hoàn thành mục tiêu?
Những trở ngại và thách thức đối với việc đạt mục tiêu của em là gì?
ban đầu và đặc điểm của HS sở tại là rất nhút nhát, trả lời vô giấy sẽ giúp GV nắm bắt rõ
hơn câu trả lời để biết được nhận thức của các em về bản thân mình).
- Trao đổi về thế mạnh và khiếm khuyết của một đối tượng cụ thể, VD: bản thân
GV, hoặc một số HS mạnh dạn nhất CLB.
Thực hành:
Trong mỗi ngày (trong tuần thực hành), mỗi em hãy liệt kê cho cô 3 việc làm có kết
quả mà em ưng ý nhất (dựa trên điểm mạnh, sở thích, mục tiêu em muốn đạt, những lời
khen từ người khác đã dành cho em…); Song song, liệt kê 3 việc làm, hành động mà em
cho là thất vọng nhất, sau đó cho cô hướng khắc phục ngay liền đó, có thể tham khảo ý
cô, ý ba mẹ,… để có hướng khắc phục.
GV phân tích 2 câu danh ngôn:
“Ai không tự tôn trọng bản thân mình thì cũng sẽ không được người khác tôn
trọng” (N. Caramdin).
GV lấy VD về việc tự tôn trọng bản thân, giữ gìn hình ảnh của mình trong trang
phục, tác phong, kiến thức,… đó là các em đang tự tôn trọng các em, và ngược lại, khi
GV bước vô lớp, em uể oải đứng dậy, quần áo xộc xệch, không chịu học bài,… thì đó
chính là các em đã tự làm xấu mình, người khác sẽ nghĩ em là người như nào, các em tự
12
biết, đúng không? Không cần phải là nhũng lời trách móc, kỉ luật,… khi các em đã biết tự
yêu quý bản thân.
Đặc biệt, GV kể câu chuyện: HS cá biệt, sau khi gây chuyện với bạn bè, cha mẹ, bỏ
nhà đi bụi 5 ngày, do đói và lạc lõng, nên quay trở về nhà lại, nhưng tỏ thái độ bất cần đời
và đe doạ người khác “Nếu ai đụng đến tui, tui sẽ treo cổ tự tử”, các em thử suy nghĩ và
trả lời:
- Đối với chính bản thân bạn HS đó đã tự yêu quý, tôn trọng bản thân mình chưa?
- Làm cho những người xung quanh có yêu quý và tôn trọng bạn đó không?
- Giả sử trường hợp bạn đó tự tử thiệt, các em nghĩ những giọt nước mắt của ai sẽ
rơi nhiều nhất? (Chỉ có cha và mẹ bạn đó thôi). Các em và người khác sẽ thương ai nhiều
hơn?(Cha mẹ của bạn đó hay bản thân bạn đó?)
- Nếu em là bạn của nhân vật trên, em sẽ làm gì? (Nói chuyện nhiều hơn với bạn;
sẽ nhận ra nếu mình như vậy mình cũng sẽ gây khó chịu cho người khác. Đó cũng là
điểm về việc các em tự nhận thức cho chính mình.
3.2.2. Kĩ năng xác định giá trị (KN 2)
* Cung cấp kiến thức tại CLB
14
Có nhiều quan niệm khác nhau về giá trị sống:
- Một thứ gì đó có giá trị khi nó được nhận thức như là sự cần thiết, là tốt, được
mong đợi và có ảnh hưởng chi phối đến tình cảm, thái độ, hành vi của một cá nhân.
- Giá trị sống là những thứ được cá nhân nhận thức là rất quan trọng, rất cần thiết,
rất có ý nghĩa, luôn mong đợi, chúng có khả năng chi phối thái độ, xúc cảm, tình cảm,
hành vi của một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày.
- Không chỉ tài sản mà cả tri thức, sức khoẻ, tình yêu thương, sự trung thực, danh
dự được coi là giá trị sống của một cá nhân.
* Một số câu hỏi thường gặp:
Giá trị sống là gì?
Giá trị sống của mỗi người có sự khác nhau?
Giá trị sống được hình thành như thế nào?
Giáo dục giá trị sống có gì khác với giáo dục kiến thức môn học?
Giá trị sống của lứa tuổi thanh thiếu niên hiện nay có những điểm gì khác biệt với
các thế hệ đi trước?
Phương pháp giáo dục giá trị sống ở lứa tuổi học sinh cần đổi mới thế nào để đem
lại hiệu quả thiết thực?
Giá trị sống có tính ổn định tương đối nhưng không bất biến:
Giá trị sống được hình thành trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân, nhưng giai
đoạn vị thành niên (9-10 tuổi đến 17-18 tuổi) là giai đoạn có ý nghĩa nhất.
Giá trị sống tuỳ thuộc vào sự trải nghiệm, sự nhận thức của mỗi cá nhân, có sự
khác nhau về giá trị sống giữa cá nhân này đối với một cá nhân khác.
15
Giá trị sống không phải là tri thức được chuyển tải theo cách thông thường.
Giáo dục giá trị sống bằng lời khuyên, sự thuyết giảng thường không đem lại kết
Sau đó, hỏi HS nghĩ gì nếu ở trong hoàn cảnh đó? Có khó khăn trong sinh hoạt, học
tập hay không? Từ đó các em sẽ nhận ra giá trị của sự lành lặn cơ thể là như thế nào? Sự
may mắn của mình ra sao? GV liên hệ tới cuộc sống của những người tàn tật thiếu may
mắn khác, họ hàng ngày, hàng giờ vẫn phải sống chung với những khiếm khuyết về cơ
thể nhưng với tinh thần lạc quan, yêu đời và phấn đấu rất nhiều để tự nuôi sống bản thân,
để học tập, để lao động và cống hiến cho xã hội.
(Xem video “Điệu múa”).
- Trao đổi về giá trị của tình cảm gia đình, trước tiên GV phải tìm hiểu về hoàn
cảnh gia đình của đa số HS trong CLB, thăm hỏi và khơi gợi cho HS tìm về những kỉ
niệm đẹp, những gắn bó của các thành viên thông qua một biến cố hoặc một sự việc nào
đó mà các thành viên đã từng cùng nhau tham gia, những tính cách hoặc nét nổi bật theo
hướng tích cực của mỗi thành viên trong gia đình (sự cương nghị, lao động chăm chỉ của
ba, sự yêu thương chăm sóc ân cần của mẹ, sự chia sẻ, vui đùa của anh, chị, em, sự lo
17
lắng cho nhau khi trải qua biến cố, những kỉ niệm vui khi cả nhà bước vào mùa thu
hoạch, ).
- Bên cạnh đó, với những gia đình có nhiều lục đục hoặc tình cảm giữa các thành
viên chưa được thuận hoà, GV cũng nêu ra một số trường hợp chung chung để HS trong
CLB cùng nhau tìm ra những giá trị dù ít ỏi hơn so với các gia đình khác nhưng hãy nhấn
mạnh rằng đó thực sự là điều quý giá, và rằng rất cần duy trì và phát huy những điều quý
giá đó, đặc biệt, vai trò của các em lại trở nên quan trọng hơn, khi các em nhận ra sự quan
trọng của bản thân mình sẽ được thể hiện qua những việc làm, hành động tích cực, chân
thành và có hiệu quả: trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, trong việc hoàn thành công
việc cá nhân, việc nhà, việc học tập, việc quan tâm tới các thành viên khác, dù sự quan
tâm đó cần có thời gian, kiên trì, và lòng bao dung. (Xem video “Người cha”).
- Giá trị của ngôn ngữ: (Xem video The Power of Words: “Change your words.
Change your world” … Và rồi, ông nghe thấy tiếng bước chân người qua lại nhiều hơn,
họ dừng lại bên ông, ân cần đặt những đồng xu vào đúng vị trí của nó. Khi ấy, người đàn
ông già biết được rằng cô gái kia đã mang đến cho ông một kết cục hoàn toàn khác. Một
ngày, ông gặp lại cô gái, ông hỏi cô: “Cô đã làm gì với tấm biển của tôi thế?”, cô này trả
19
Cha mẹ ly thân, ly dị
Bị thầy cô giáo hiểu lầm hoặc khiển trách oan
Được giao quá nhiều nhiệm vụ ở lớp, trường
Những dấu hiệu cảnh báo tình trạng căng thẳng
Về nhận thức
Có vấn đề về trí nhớ (nhớ lộn xộn, không nhớ nổi việc gì…)
Khó tập trung làm việc gì
Suy giảm khả năng nhận định, suy xét mọi việc
Chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực
Có nhiều ý nghĩ lo lắng, dồn dập
Tư duy chậm chạp, trì trệ
Ý nghĩ quanh quẩn, không rõ ràng
Hay nghi ngờ, hoang tưởng
Hồi tưởng lại những điều buồn phiền
Cảm thấy mất lòng tin
Về tình cảm
Buồn phiền
Dễ cáu kỉnh, giận dữ
Bị kích động, khó giữ bình tĩnh
Cảm giác quá tải
20
Cảm thấy cô đơn, xa lạ
Trầm cảm, buồn rầu
Nhiều cảm xúc lẫn lộn, thay đổi nhanh
Lo lắng, sợ hãi
Có mặc cảm tội lỗi
Cảm thấy vô vọng, mất phương hướng
Cảm giác bị dồn nén, uất ức
Tự đổ lỗi cho bản thân
Hay tranh luận
Phóng đại sự việc
Dùng rượu, thuốc lá hoặc ma túy để giải tỏa
22
Uống thuốc an thần
Kém năng động
Không quan tâm đến vẻ bề ngoài
Phương pháp 4 bước (4T) ứng phó với căng thẳng
1. TRÁNH để sự căng thẳng xuất hiện
2. THAY ĐỔI tình huống gây nên sự căng thẳng; thay đổi cảm xúc bản thân
3. TẠM CHẤP NHẬN tình trạng căng thẳng; xem nó như một phần tất yêu của đời
sống
4. THÍCH NGHI với sự căng thẳng, dần biến nó thành một động lực tích cực
* Các cách ứng phó với căng thẳng.
Những cách ứng phó tiêu cực với sự căng thẳng
Hút thuốc Tránh tham gia các hoạt động tập
thể
Uống nhiều rượu Dùng ma túy
Ăn quá nhiều hoặc nhịn ăn Trì hoãn những việc cần làm
Ngồi hàng giờ trước TV hoặc máy
tính
Cố lấp đầy mọi khoảng thời gian
trong ngày để tránh phải đối mặt
với vấn đề
Tránh gặp gỡ bạn bè, gia đình Trút gánh nặng lên người khác (chỉ
trích, cáu giận, bực bội, có hành vi
bạo lực với mọi người…)
Khóc lóc triền miên, than thân Tự hủy hoại bản thân (tự gây vết
23
trách phận. thương, tự tử)
Tìm những mặt mạnh, phẩm chất
tốt của bản thân để lấy lại tự tin.
Nghĩ về những thành quả mình đã
đạt được.
Nói chuyện với những người hài
hước, lạc quan.
Dễ tính và nương nhẹ hơn với bản
thân mình.
Cầu nguyện Luyện tập kỹ năng thư giãn bằng
đọc truyện cười,… để kể cho mọi
người nghe.
Cuối cùng, nếu bạn đã cố gắng nhưng sự căng thẳng vẫn cứ đến: hít
một hơi thật dài và tự nghĩ: đó chính là cuộc sống! Ta cần phải học
cách sống chung với căng thẳng, giữ cho nó ở giới hạn cho phép hoặc
biến nó thành một động lực tích cực.
Những ai dễ bị căng thẳng hơn người khác?
Người nóng tính, thiếu khả năng kiềm chế
Người sống thu mình, cô độc
Người có cuộc sống riêng nhiều trắc trở
Người nhút nhát, hay e sợ mọi việc
Người kém khả năng giao tiếp, ít bạn bè
Người quá bận rộn
Người thiếu kiên nhẫn
Người vừa trải qua một cú sốc về tình cảm hoặc công việc (ly dị, người thân qua
đời, mất việc làm )
Người thiếu tự tin ở bản thân
25