SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"HẠN CHẾ LỖI CHÍNH TẢ TRONG BỘ MÔN NGỮ VĂN CỦA
HỌC SINH LỚP 7A QUA VIỆC SỬ DỤNG BẢNG PHỤ VÀ THAY
ĐỔI THƯ KÍ TRONG QUÁ TRÌNH THẢO LUẬN NHÓM"
1
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Trước xu thế phát triển và hội nhập trong khu vực và trên phạm vi toàn cầu đã đòi hỏi
ngành giáo dục phải đổi mới một cách mạnh mẽ, đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, phương
pháp và phương tiện dạy học cũng như phương pháp đánh giá kiểm tra học sinh để có thể
đào tạo ra lớp người lao động mới mà xã hội đang cần. Trong đó việc đổi mới phương
pháp và phương tiện dạy học phải hết sức chú ý.
Đối với bộ môn Ngữ văn, đòi hỏi ở các em không những nắm vững kiến thức của văn bản
mà hình thức trình bày một bài văn cũng vô cùng quan trọng như câu văn phải đúng câu
trúc ngữ pháp, cách dùng từ đúng nghĩa, đúng hoàn cảnh giao tiếp đặc biệt là viết phải
đúng chính tả .
Như vậy, để hạn chế lỗi chính tả trong bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 7A , để các em
có thể đạt được điểm cao và hứng thú hơn đối với bộ môn này tôi đã đưa ra giải pháp là
sử dụng bảng phụ và thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm khi học bộ môn Ngữ
văn. Nghiên cứu được tiến hành trên học sinh lớp 7A Trường THCS Sơn Bình. Kết quả
cho thấy tác động đã hạn chế rõ rệt lỗi chính tả của học sinh. Điều đó chứng minh rằng
việc sử dụng bảng phụ và thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm hạn chế được lỗi
chính tả trong bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 7A Trường THCS Sơn Bình.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương: hai lớp 7 Trường THCS Sơn
Bình: lớp 7A (32 học sinh) làm lớp thực nghiệm, lớp 7B ( 32 học sinh) làm lớp đối
chứng. Lớp thực nghiệm được hướng dẫn cho học sinh thay đổi thư kí trong quá trình
thảo luận nhóm. Kết quả cho thấy tác động đã hạn chế rõ rệt lỗi chính của học sinh. Điểm
trung bình (giá trị trung bình) bài kiểm tra của lớp thực nghiệm là 5,813; của lớp đối
chứng là 5,094. Kết quả kiểm chứng T-Test cho thấy p =0,0001 < 0,05 có nghĩa là có sự
2
khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Điều đó chứng
- Do ít đọc sách báo, tạp chí .
- Do giáo viên không chú trọng sửa lỗi chính tả trong nhà trường. Thông thường, chỉ có
bộ môn Ngữ văn có yêu cầu về viết đúng chính tả và trong đáp án bài kiểm tra luôn có
yêu cầu này. Nhưng còn lại các môn học khác, giáo viên hầu như bỏ qua, thậm chí chỉ
yêu cầu học sinh tính toán đúng, không lưu tâm chính tả đúng hay không. Hơn nữa, bài
vở thì nhiều, thời gian hạn hẹp, áp lực công việc khá lớn nên giáo viên chưa quan tâm
đúng mức nên việc sửa lỗi chính tả cũng chưa toàn tâm toàn ý , chưa có hiệu quả.
- Mặt khác, một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, không chịu suy nghĩ, tư duy
trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
- Các em chưa nắm được quy tắc viết đúng chính tả.
Như vậy, để hạn chế những lỗi chính tả mà học sinh thường mắc phải tôi chọn nguyên
nhân: “Các em chưa nắm được quy tắc viết đúng chính tả”.
2. Giải pháp thay thế:
Để khắc phục nguyên nhân trên, tôi có rất nhiều giải pháp như:
- Luyện phát âm đúng vì như trên đã nói, tiếng Việt phát âm thế nào thì viết như thế ấy.
Tuy nhiên, khi phát âm có thể theo phương ngữ (vì theo thói quen, phong tục, tập
quán) nhưng khi viết vẫn đúng chính tả. Trong những trường hợp này, người viết luôn
4
hiểu nghĩa của từ và nắm được các dấu thanh (hỏi, ngã). Ở đây, đòi hỏi người viết phải
nắm chắc nghĩa của từ ngữ qua quá trình học tập, khảo cứu, đọc sách báo nhiều, …
- Sử dụng các mẹo luật chính tả, vận dụng linh hoạt vào thực tế để viết đúng chính tả.
Các mẹo luật này dựa trên cơ sở quy luật của từ ngữ tiếng Việt, từ Hán Việt và nêu ra
những quy tắc chung trong việc viết đúng chính tả.
- Rèn luyện thói quen đọc sách, lòng say mê đọc sách. Cần xác định sách là người bạn
đường của mỗi chúng ta. Sách là nguồn tri thức vô tận của nhân loại lưu truyền lại tới bây
giờ và mãi mãi về sau. Trong quá trình đọc, tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm văn học, vốn từ
ngữ sẽ không ngừng được tích lũy, nâng cao. Từ đó, khi cần viết, biểu đạt một vấn đề thì
chúng ta luôn có vốn từ ngữ để sử dụng.
- Có thói quen sử dụng các loại sách công cụ như Từ điển tiếng Việt, Từ điển từ và ngữ
Hán Việt ( tiếng Việt có hơn 70% từ Hán Việt). Khi gặp từ khó, chưa xác định được rõ
chính tả.
+ Sau khi học sinh giữa các nhóm nhận xét xong, tôi tiến hành nhận xét lại nội dung thảo
luận và sửa những lỗi chính tả mà các em không phát hiện ra.
+ Đối với những em viết sai tôi cho các em về nhà chép đi chép lại 10 lần lỗi bị sai đó.
1. Một số đề tài gần đây:
6
- Sáng kiến kinh nghiệm: “Cách chữa lỗi chính tả thông thường” của giáo viên
Nguyễn Thị Thủy Trường THCS Hòa Phú, TP Buôn Mê Thuật.
- Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp hữu hiệu giúp học sinh lớp 4 viết
đúng chính tả” của giáo viên Nguyễn Khoa Dũng Trường tiểu học Nguyễn Tri Phương,
Đắk Lắk.
- Sáng kiến kinh nghiệm: “ Sửa lỗi chính tả cho học sinh trong giảng dạy Ngữ văn
7” của giáo viên Nguyễn Thị Hương Trường THCS Hồng Thủy.
Các đề tài này đều đề cập đến những giải pháp cụ thể nhưng không thường xuyên liên tục
trong bộ môn Ngữ văn THCS.
Bản thân tôi muốn có một nghiên cứu có thể áp dụng thường xuyên trong các tiết dạy của
bộ môn Ngữ văn THCS và hạn chế hiệu quả lỗi chính tả của học sinh đặc biệt là các em
học tại địa bàn huyện Khánh Sơn.
4. Vấn đề nghiên cứu:
Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có làm hạn chế lỗi chính tả cho học
sinh không?
5. Giả thuyết nghiên cứu:
Có. Việc thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm có làm hạn chế lỗi chính tả cho
học sinh.
III. Phương pháp :
1. Khách thể nghiên cứu:
1.1. Khách thể nghiên cứu :
Hạn chế lỗi chính tả của học sinh đối với môn Ngữ văn.
7
1.2. Đối tượng nghiên cứu:
KT
trước
TĐ
Tác động
KT
sau TĐ
Thực nghiệm
(7A)
O1
Thay đổi thư kí trong quá trình thảo
luận nhóm
O3
Đối chứng
(7B)
O2 Không O4
3. Quy trình nghiên cứu:
3.1. Trong quá trình thảo luận nhóm giáo viên nhắc cho các em một số quy định về
chuẩn chính tả:
3.1.1. Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt:
- Tên người và tên gọi nơi chốn : Viết hoa tất cả các chữ cái đầu mà không
dùng gạch nối. Ví dụ: Trần Quốc Toản, Quảng Bình,
9
- Tên tổ chức, cơ quan: Viết hoa chữ cái đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên. Ví
dụ : Đảng cộng sản Việt Nam, Trường Trung học cơ sở Sơn Bình,
3.1.2. Việc dùng dấu nối:
- Dùng dấu nối trong các liên doanh như: khoa học – kĩ thuật, Quảng Nam –
Đà Nẵng,
- Dùng dấu nối khi chỉ giới hạn về không gian, thời gian, số lượng.
Ví dụ: Chuyến tàu Hà Nội – Huế, thời kì 1945 – 1954, sản lượng 5 – 7 tấn,
- Khi phân biệt ngày, tháng, năm. Ví dụ : 30 - 4 - 1975,
+ Xét về nguồn gốc không có từ Hán Việt đi với r. Trong Hán Việt, d đi với thanh ngã và
nặng, gi đi với thanh hỏi và sắc.
+ Trong từ láy bộ phận vần: r láy với b và c, còn gi và d không láy: bứt rứt, bủn rủn, …và
r và d láy với l, còn gi không láy: liu diu, lim dim,…
11
3.2.2.2. Lỗi sai phần vần:
Lỗi viết sai phần vần ( Viết sai âm cuối hoặc âm chính)
Ví dụ: yêu/ iêu; ơu/ iêu,
. 3.2.2.2. Lỗi viết sai thanh điệu:
Lỗi viết sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã.
Để khắc phục lỗi này có thể giúp học sinh nhớ hai quy tắc:
- Các chữ khởi đầu bằng nguyên âm chỉ mang dấu hỏi, không mang dấu ngã: ả, ỷ
lại, ảnh,…( Trừ 5 ngoại lệ: ẵm, ễ mình, ễnh bụng, ễnh ương, ỡn ngực,…
- Các chữ Hán Việt bắt đầu bằng các phụ âm: m, n, nh, l, v, d, ng chỉ mang dấu ngã
không mang dấu hỏi: mã lực, lãnh tụ, vĩ nhân, …( chỉ có một trường hợp ngoại lệ: cây
ngải)
Phần lớn từ láy điệp vần mang thanh hỏi.
3.3. Chọn đối tượng thực hiện:
Chọn nhóm: Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng thuộc khối lớp 7 Trường
THCS Sơn Bình, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình thực nghiệm đã được tổ
chức ở hai nhóm của hai lớp 7A và 7B.
Nhóm của lớp 7B là nhóm đối chứng, gồm 32 học sinh. Đối với nhóm này tôi
không hướng dẫn học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.
Nhóm 7A là nhóm thực nghiệm: gồm 32 học sinh. Tôi chia nhóm này thành 4
nhóm nhỏ: nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 và nhóm 4, mỗi nhóm là 8 học sinh . Đối với nhóm
này tôi hướng dẫn học sinh thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận nhóm.
3.4. Tiến hành thực nghiệm :
12
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và
theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan.
n
5
14 Doãn Trọng Khánh
5
15 Bo Bo Thị Nhanh 5 15 Cao Thanh Kiệt 5
16 Bo Bo Thị Nhíp 4 16 Bo Bo Lâm 5
17 Bo Bo Thị
Quỳnh
Như
5
17 Nguyễn Nhật Lâm
4
18 Tro Mấu Thị
Ngọc
Sen
5
18 Cao Thị Lệ
6
19 Lê Thị Thu Thảo 6 19 Bo Bo Thị Linh 4
20 Bo Bo Thị Thể
5
20 Nguyễn
T.Thùy
Linh
5
21 Cao văn Thìn
6
21 Nguyễn
T.Bích
Ngà
Ghi chú: - Học sinh ghi đầy đủ họ và tên, lớp, trường, nơi thường trú.
- Thời gian 10 - 15 phút.
Kết quả khảo sát:
LỚP 7A LỚP 7B
Stt Họ và tên Điểm Stt Họ và tên Điểm
01 Cao Thị Mĩ Châu 4 01 Bo Bo Thị An 5
15
02 Bo Bo Thị Diệu 6 02 Mấu Binh 5
03 Cao Văn Dũ 6 03 Mấu Văn Chí 5
04 Cao Hồng Dũng
5
04 Bo Bo Thị
Kim
Chuyên
5
05 Cao Thị Mỹ Duyên 4 05 Bo Bo Chương 5
06 Bo Bo Thị Huyết 6 06 Cao Thị Tiền Diễm 5
07 Cao Hưng 6 07 Tro Thị Đình Diễm 5
08 Cao Văn Khải 6 08 Bo Bo Duẩn 5
09 Mấu Thị Minh Khang 7 09 Bo Bo Thị Kỳ Duyên 6
10 Bo Bo Thị
Bích
Loang
6
10 Cao Đàn
5
11 Bo Bo Thị Lý 5 11 Cao Thị Điềm 5
12 Tro Thị Ly 5 12 Mấu Hà Đông 6
13 Cao Văn Mạnh 6 13 Bo Bo Huân 5
14 Trần Thanh Nguyên 6 14 Doãn Trọng Khánh 5
24 Mấu Thị Kim Thu 6 24 Cao Nhượng 6
25 Trần Anh Thư 7 25 Cao Thị Nở 5
26 Tro Thị Mỹ Trinh 8 26 Cao Thị Phương 5
27 Phan Thị
Quỳnh
Trúc
7
27 Cao Xuân Quyển
6
28 Mấu Thị Kim Tuệ 7 28 Cao Ánh Tầng 6
29 Bo Bo Tuyền 6 29 Bao Bo Thị Thảo 5
30 Cao Thị Uyển 6 30 Mấu Thị Hồng Thấm 5
31 Mấu Thị Xoàn
5
31 Cao Thị
Thanh
Thùy
5
32 Bo Bo Thị Yến 6 32 Mấu Thị Kim Duyên 5
Để kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, tôi tiến hành kiểm tra nhiều lần trên cùng một nhóm
vào các thời điểm gần nhau. Kết quả cho thấy, sự chênh lệch về điểm số không cao, điều
đó chứng tỏ dữ liệu thu thập được là đáng tin cậy.
17
Để kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu, tôi dùng phương pháp kiểm tra độ giá trị hình
thức. Bài tập tôi đưa ra kiểm chứng khái quát được vấn đề tôi nghiên cứu. Bài tập phản
ảnh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiên cứu.
Sau hơn một tháng áp dụng các giải pháp đã nêu tôi thấy kết quả là: đã hạn chế được
những lỗi chính tả cơ bản cho học sinh lớp 7A.
Đa số các em học sinh nắm được những quy tắc cơ bản khi viết chính tả. Hầu như các em
đều cảm thấy thích thú hơn khi học môn Ngữ văn.
25 6 7 5 5
26 6 8 5 5
27 6 7 5 6
28 6 7 6 6
29 6 6 5 5
30 5 6 5 5
19
31 5 5 4 5
32 5 6 6 5
Mốt 5 6 5 5
Trung vị 5 6 5 5
Giá trị trung
bình 5,156 5,813 5,063 5,094
Độ lệch
chuẩn 0,723 0,896 0,619 0,530
Giá trị p 0,2897 0,0001
Trước tác động Sau tác động
Nhóm thực
nghiệm 5,156 5,813
Nhóm đối
chứng 5,063 5,049
Giá trị chênh
lệch 0,093 0,764
Giá trị p 0,2897 0,0001
Có ý nghĩa
p<=0,05 Không có ý nghĩa Có ý nghĩa
20
Giá trị SMS 0,150242 1,3566038
Mức độ ảnh
hưởng Nhỏ Rất lớn
- Thường xuyên nhắc nhở các em viết sai nhiều lỗi chính tả; động viên, biểu dương
các em viết đúng chính tả, cập nhật vào sổ theo dõi và kết hợp với giáo viên chủ nhiệm
để có biện pháp giúp đỡ kịp thời, kiểm tra thường xuyên vở viết của các em trong mỗi tiết
học, làm như vậy để cho các em có một thái độ đúng đắn, một nề nếp tốt trong học tập.
- Đối với một số học sinh chậm tiến bộ thì phải thông qua giáo viên chủ nhiệm kết
hợp với gia đình để giúp các em học tốt hơn, hoặc qua giáo viên bộ môn Ngữ văn để giúp
đỡ một số học sinh yếu môn Ngữ văn có thể hạn chế được những lỗi chính tả cơ bản. Từ
đó gây sự đam mê, hứng thú với bộ môn Ngữ văn.
- Qua thời gian áp dụng phương pháp“ Thay đổi thư kí trong quá trình thảo luận
nhóm” ở trên tôi nhận thấy học sinh say mê, hứng thú và hạn chế được những lỗi chính tả
cần thiết. Học sinh chủ động, tự tin hơn khi viết văn.
22
VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
1.1. Những mặt làm được:
- Nêu ra được sự cần thiết của giải pháp phù hợp với quan điểm, chủ trương của ngành và
thực tế địa phương nơi công tác.
- Nêu ra được cơ sở lí luận, đưa ra được giải pháp cụ thể rõ ràng áp dụng cho việc giúp
học sinh hạn chế lỗi chính tả.
- Kết quả khi vận dụng giải pháp: làm chuyển biến phần lớn và giải quyết được phần yêu
cầu thực tiễn.
- Qua giải pháp, phát huy được vai trò chủ động, tích cực của học sinh, học sinh hứng thú
hơn với môn học. Đây là vấn đề quan trọng nhất của giải pháp, phù hợp với chủ trương
của phương pháp dạy học mới.
1.2. Những mặt hạn chế:
Đa số các em học sinh là người sở tại nên hay thụ động, nhút nhát. Một số em viết quá
yếu nên quá trình làm thư kí trong thảo luận nhóm mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến
tiết dạy.
Từ những mặt làm được cũng như hạn chế nêu trên, là cơ sở, là bài học kinh nghiệm quý
báu cho bản thân trong quá trình giảng dạy.
Hiện trạng