PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
PHẦN MỘT
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
- Nông nghiệp là ngành sản xuất hiện sớm của xã hội loài người, nông nghiệp
cổ đại Ai Cập đã phát triển từ 5.000 năm trước Công Nguyên và ngày nay, nông
nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu trên thế giới nhất là ở các nước đang phát triển
và các nước nghèo. Việt Nam là một nước đang phát triển và cũng nằm trong những
nước có nền công nghiệp là chủ yếu. Trong cơ cấu kinh tế nó chiếm 20% của cả
nước và lực lượng lao động hoạt động trong ngành công nghiệp chiếm gần 50%.
- Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 1 trong 7 vùng kinh tế trọng
điểm của đất nước ta. Mặc dù nền kinh tế của vùng phát triển chưa cao nhưng đã
góp phầnquan trọng vào sự phát triển chung của đất nước. Do là vùng cao nhất
của cả nước cho nên vùng chủ yếu phát triển về nông nghiệp là chủ yếu. Nền
nông nghiệp của vùng trung du và miền núi phía Bắc gắn bó với phong tục tập
quán và người dân ở trong vùng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Vùng kinh tế là một bộ phận kinh tế lãnh thổ đặc thù của nền kinh tế
quốc dân. Bộ phận phải có sản xuất chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng
hợp, có mối quan hệ nội và ngoại vùng. Vùng kinh tế được coi là cơ sở của việc
hoạch định các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế theo lãnh thổ. Nó là cơ
sở quản lý quá trình phát triển kinh tế xã hội theo vùng.
- Vùng công nghiệp được coi là một trong những hình thức của tổ chức
lãnh thổ nông nghiệp. Thực chất vùng nông nghiệp là những lãnh thổ sản xuất
nông nghiệp tương đối đồng nhất. Các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội được phân
chia sắp xếp phù hợp với sản xuất để đạt hiệu quả cao nhất. Dựa vào những điều
kiện đặc biệt của vùng để có kế hoạch phát triển cho vùng một có hiệu quả nhất.
Để có được những điều kiện trên thì chúng ta phải phân hoá điều kiện tự
nhiên, xã hội, điều kiện về kinh tế, dân cư, lao động để có một cái nhìn tổng quan
về vùng để có những kế hoạch chiến lược hợp lý để phát triển kinh tế, phát triển
xã hội một cách tốt nhất.
+ Vùng có một hệ thống giao thông tốt.
2
+ Vùng có cơ sở hạ tầng hiện đại
+ Vùng có đội ngũ lao động có trình độ cao
2.3. Vai trò của ngành nông nghiệp
Nông nghiệp ngày nay có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng có tính
chất quyết định đối với sự ổn định và phát triên kinh tế của mỗi quốc gia, phát
triển nông nghiệp là cơ sở dẫn đến thành công của chương trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và sự giàu có của đất nước. Nhất là các nước đang phát triển, các
nước đông dân, nơi mà 3/4 dân số sống ở nông thôn, lương thực luôn là vấn đề
hết sức quan trọng vì sản xuất thì có hạn mà dân số lại quá đông. Vai trò của
nông nghiệp rất to lớn được tập trung thể hiện qua các ý nghĩa chủ yếu sau:
2.3.1. Sản xuất nông nghiệp nó cung cấp và đảm bảo mọi nhu cầu về
lương thực, thực phẩm cho cả về chất lượng lẫn số lượng.
Nhu cầu về đời sống hàng ngày càng được nâng cao và thay đổi thường
xuyên dẫn đến sản xuất lương thực không những đảm bảo được hàm lượng dinh
dưỡng tối thiểu hàng ngày cho mỗi người, mà còn phải tạo nên cơ cấu đa dạng
của mỗi bữa ăn.
Do lương thực, thực phẩm làm ra từ sản xuất nông nghiệp là cơ sở cho sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nên từ cách đây khoảng 1.000 năm khi
mà con người phát triển trồng trọt, chăn nuôi tạo ra được cơ sở lương thực, thực
phẩm khá ổn định thì dân số trên thế giới mới bắt đầu phát triển ổn định.
2.3.2. Đối với vấn đề phát triển kinh tế, sản xuất nông nghiệp còn góp
phần thúc đẩy nhiều ngành kinh tế, nhiều lĩnh vực sản xuất:
- Trước hết, nông nghiệp thúc đẩy sự phát triển của sản xuất công nghiệp
bằng việc nó cung cấp nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp hoạt
động. Nó vừa là thị trường tiêu thụ rộng lớn các sản phẩm của ngành công
nghiệp như: Máy móc nông nghiệp, các loại phân bón và thuốc trừ sâu, tiêu thụ
sản phẩm hàng tiêu dùng. Đồng thời với dân số và lao động rấ đông hoạt động
trong ngành nông nghiệp thì một bộ phận sẽ tách ra cung cấp lao động cho ngành
hoà bớt dân cư từ vùng đông dân đến nhưng vùng có tiềm năng lớn về sản xuất
nông nghiệp, khi nông thôn phát triển sẽ hạn chế sự di cư dòng người từ nông
thôn ra thành thị (ở những nước đang phát triển), đồng thời tạo ra dòng người di
cư ngược lại từ thành thị về nông thôn ngày càng đông (ở các nước phát triển) vì
4
những nướcnày thì công nghiệp phát triển, môi trường bị ô nhiễm nặng, ồn ào
còn nông thôn lại có không khí trong lành mát mẻ phù hợp với người già, người
nghỉ hưu.
- Việc xây dựng một nền nông nghiệp sẽ góp phần đắc lực vào giải quyết
các mặt cơ bản những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay.
2.4. Đặc điểm của ngành nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp có rất
nhiều đặc điểm nhưng có một số đặc điểm nổi bật sau đây:
2.4.1. Sản xuất nông nghiệp là cơ sở cốt lõi để phân biệt nông nghiệp
với công nghiệp.
- Nông nghiệp coi đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu, còn các cây trồng
vật nuôi là đối tượng lao động. Vì thế quy mô sản xuất rộng, trình độ phát triển,
mức độ thâm canh, phương hướng sản xuất và việc tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
đều lệ thuộc rất nhiều vào số lượng và chất lượng đất đai.
+ Đất đai nói chung có 2 thuộc tính quan trọng: Xét về mặt kinh tế nó bao
gồm đất đai vật chất và đất đai tư bản. Xét về độ phì của đất thì có độ phì tự
nhiên và độ phì kinh tế.
- Vật chất là lãnh thổ với các thuộc tính tự nhiên, bất biến của nó, là sản
phẩm của tự nhiên, phát triển theo quy luật tự nhiên. Đất đai tư bản là sản phẩm
lao động của con người. Sự khác nhau giữa đất đai, vật chất với đất đai tư bản là
đất đai - vật chất không hề bị hao mòn, còn đất đai tư bản có thể suy giảm quá
trình sản xuất nếu phương thức canh tác không hợp lý.
- Từ đặc điểm trên nổi lên một số vấn đề:
+ Do đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu nên hoạt động nông nghiệp phân
bố trên phạm vi rộng lớn. Hoạt động sản xuất nông nghiệp thường tập trung ở
những vùng đất màu mỡ.
phát triển tổng hợp sản phẩm nông nghiệp.
Mặt khác, do sự không phù hợp về thời gian lao động và thời gian sản
xuất là nguyên nhân nảy sinh tính mùa vụ. Vì thế, khi phân bố sản xuất nên chọn
những cây con có thời gian sinh trưởng không trùng nhau, phát triển thêm ngành
nghề ở nông thôn và tạo ra nhiều hàng hoá cho xã hội.
- Hiện nay việc sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất
nông nghiệp cũng rút ngắn được thời gian sản xuất nhưng chỉ đạt ở mức độ hạn
chế nhất định. Bởi vì đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, có quá
6
trình sinh trưởng và phát triển riêng, tuân thủ theo tuần tự những giai đoạn mà
không thể bỏ qua được.
Như vậy, để xây dựng cơ cấu sản xuất hợp lý cần lựa cọn các loại cây
trồng, vật nuôi có thời gian lao động và thời gian sản xuất phù hợp với điều kiện
cụ thể của lãnh thổ trong quá trình phân bố sản xuất nông nghiệp.
2.4.3. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất chặt chẽ vào điều kiện tự
nhiên, nhất là đất đai, khí hậu và nguồn nước. Đó là 3 yếu tố tác động mạnh
và thường xuyên đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống (cây trồng, vật nuôi)
nên để tồn tại và phát triển chúng cần được đáp ứng đầy đủ 5 yếu tố cơ bản: nhiệt
độ, nước, ánh sáng, không khí và chất dinh dưỡng. Mỗi yếu tố có một vai trò
riêng, chúng kết hợp và tác động lẫn nhau trong một thể thống nhất. Một yếu tố
thay đổi sẽ làm thay đổi hàng loạt các kết hợp khác nhau gây ảnh hưởng tới sản
xuất nông nghiệp.
- Mỗi yếu tố trên và sự kết hợp giữa chúng phụ thuộc vào tính quy luật
theo lãnh thổvà tính quy luật thoe mùa (mỗi vùng lãnh thổ, mỗi mùa khác nhau, 5
yếu tố trên và sự kết hợp giữa chúng có thay đổi khác nhau). Mặt khác, sản phẩm
nông nghiệp là sản phẩm ngành trồng trọt, sản phẩm ngành chăn nuôi, trong quá
trình phát triển có khả năng tự thích ứng với điều kiện thay đổi, nhưng không
phải là vô hạn. Vì vậy, cần hiểu rõ điều kiện tự nhiên để phân bổ cây trồng và vật
nuôi thích hợp; có kế hoạch phòng chống, hạn chế những tác hại của tự nhiên đến
sản phẩm tăng, giảm hao phí sản phẩm và chi phí vận chuyển dẫn đến giảm giá,
đảm bảo sơ chế kịp thời tất cả những điều đó tạo điều kiện huy động hết tiềm
năng ưu thế của từng vùng và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
8
PHẦN BA
GIỚI THIỆU VÙNG
3.1. Điều kiện tự nhiên của vùng
3.1.1. Vị trí địa lý
Trung du và miền núi phía Bắc bao gồm17 tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn
La, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh phúc,
Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng
Ninh. Với diện tích rộng lớn 102.9 nghìn km
2
(chiếm 30.7% của cả nước) số dân
chiếm 14.4% dân số cả nước (2002). Vùng có một vị trí địa lý đặc biệt, giáp với
Thượng Lào và có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường ô tô với các
tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai, Móng Cái …
với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới, thông qua các
cảng Cửa Ông, Hồng Gai và cảng Cái Lân.
Trung du và miền núi phía Bắc kề liền với đồng bằng Sông Hồng, phía
Đông là vịnh Bắc Bộ, một vùng biển giàu tiềm năng. Với đường bờ biển kéo dài
từ Móng Cái đến Quảng Yên thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Trung du và miền
núi phía Bắc không chỉ có phần đất liền rộng lớn còn có cả vùng biển giàu tiềm
năng ở phía Đông Nam. Bên cạnh vị trí về kinh tế, vùng còn có ý nghĩa đặc biệt
về quốc phòng.
3.1.2. Tài nguyên của vùng
a. Đất đai, rừng:
* Đông Bắc:
Thổ nhưỡng của vùng chủ yếu là đất đỏ vùng và thẫm đen có nguồn gốc
từ đá mẹ Granit hoặc đá vôi phong hoá.
Mộc Châu (Sơn La).
Tài nguyên của vùng đã bị khai thác mạnh. Do đó, việc trồng và khôi phục
lại vốn rừng đã chặt mất là nhiệm vụ vô cùng cấp bách.
b. Khoáng sản
Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có khoáng sản lớn nhất nước ta.
Lòng đất ở đây giàu than, quặng sắt, mangan, đồng, chì, kẽm, đất hiếm, apatít.
10
Các mỏ than tập trung chủ yếu ở khu Đông Bắc (Quảng Ninh, Na Dương,
Thái Nguyên) vùng than Quảng Ninh (trữ lượng 3 tỷ tấn, chủ yếu là than
antraxit) là vùng than lớn bậc nhất và chất lượng than tốt nhất Đông Nam Á. Khu
vực Tây Bắc có một số mỏ khá lớn như mỏ quặng đồng - niken (Sơn La), đất
hiếm (Lai Châu). Khu Đông Bắc có nhiều mỏ kim loại đáng kể hơn cả là mỏ sắt
(Yên Bái), thiếc và bôxit (Cao Bằng), kẽm - chì ở Chợ Điền (Bắc Cạn), đồng -
vàng (Lào Cai). Mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) sản xuất khoảng 1.000 tấn thiếc
mỗi năm để tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Khoáng sản phi kim loại đáng kể
có apatit (Lào Cai) trữ lượng khoảng 500 triệu tấn, sản xuất khoảng 600 nghìn
tấn/năm, được sử dụng để sản xuất phân lân.
3.1.3. Khí hậu
- Trung du và miền núi phía Bắc có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, có mùa
đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa hình vùng núi. Vùng núi
và trugn du Đông Bắc địa hình tuy không cao, nhưng là nơi chịu ảnh hưởng
mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc, là khu vực mùa Đông lạnh nhất nước ta. Vùng
núi Tây Bắc tuy chịu ảnh hưởng yếu hơn của gió lạnh mùa đông, nhưng do nền
địa hình cao nên mùa đông cũng vẫn lạnh.
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của vùng.
3.2.1. Tình hình dân số - lao động
a. Đông Bắc
- Năm 1990 dân số của vùng Đông Bắc là 9.4 triệu người năm 1984 là
10.6 triệu người và đến năm 2002 là 9.05 triệu người mật độ dân số trung bình
142 người/km
… Trái lại ở các khu vực
núi cao thường chỉ có các dân tộc ít người sinh sống nên mật độ dân cư rất thấp:
Mường Té 7 người/km
2
, Mường Lay 13 người/km
2
, Sìn Hồ 25 người/km
2
…
- Bình quân mật độ dân cư của toàn vùng là 66 người/km
2
trong khi đó ở
Điện Biên 46 người/km
2
, Lai Châu 35 người/km
2
, Sơn La 67 người/km
2
.
Mật độ dân số tăng dần từ vùng cao xuống vùng thấp, từ những khu vực đi
lại khó khăn đến những nơi có nhiều đường giao thông đi lại thuận tiện.
Tổng số lao động trong độ tuổi ở Tây Bắc là 968 nghìn người, trong đó có
878 nghìn lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân (chiếm 90.7%
tổng số lao động).
Như vậy còn 9.3% số lao động chưa có việc làm. Lao động của khu vực
nông nghiệp chiếm ưu thế 76.6% công nghiệp chỉ có 23.4%.
- Số người trên và dưới độ tuổi có khả năng lao động ước khoảng 163.000
(chiếm 18.8% lực lượng lao động)
3.2.2. Văn hoá, y tế, giáo dục
a. Đông Bắc:
- Điểm nổi bật của Tây Bắc là một vùng dân tộc đặc thù trình độ dân trí
vào loại thấp nhất toàn quốc. Năm 2002 số người chưa biết chữ trong độ tuổi lao
động chiếm 18.09%, số lao động có trình độ sơ cấp trở lên chiếm 10.93%.
3.2.3. Tình hình phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế của vùng
Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn phát triển nhiều ngành công
nghiệp quan trọng như khai khoáng và thuỷ điện. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
13
đa dạng, đặc biệt là trồng cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt và ôn
đới. Các thành phố công nghiệp đang phát huy vai trò trung tâm kinh tế vùng.
. Nông nghiệp:
Lúa và ngô là cây lương thực chính, cây lúa chủ yếu được trồng ở một số
cánh đồng giữa núi như: Mường Thanh (Điện Biên), Bình Lư (Lai Châu), Văn
Chân (Yên Bái), Hoà An (Cao Bằng), Đại Từ (Thái Nguyên). Ngô được trồng
nhiều ở trên các nương rẫy.
Nhờ điều kiện sinh thái phong phú nên sản xuất nông nghiệp có tính đa
dạng về cơ cấu sản phẩm (nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới) và tương đối tập trung
về quy mô. Một số sản phẩm có giá trị trên thị trường như: chè, hồ, hoa quả (vải
thiều, mận, mơ, lê, đào …). Thương hiệu chè Mộc Châu (Sơn La), chè Sen (Hà
Giang), chè Tân Cương (Thái Nguyên) được nhiều người ưa chuộng.
Nhờ việc giao đất, giao rừng lâu dài cho hệ nông dân mà nghề rừng phát triển
mạnh theo hướng nông - lâm kết hợp, góp phần nâng cao đời sống các dân tôc và
bảo vệ môi trường sinh thái.
Đàn trâu ở trung du và miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cả
nước (57.3%). Chăn nuôi lợn cũng phát triển, đặc biệt ở các tỉnh trung du, chiếm
khoảng 22% đàn lợn của cả nước (năm 2002). Nghề nuôi cá, tôm ở ao, hồ, đầm
và vùng nước mặn, nước lợ ven biển tỉnh Quảng Ninh bắt đầu đem lại hiệu quả
kinh tế rõ rệt. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do thiếu
quy hoạch chưa chủ động được thị trường.
14
PHẦN BỐN
Đà, sông Mã, sông Bôi. Với địa thế lưu vực rất cao lòng sông chính và các chi
lưu rất dốc và có nhiều thác ghềnh đã tạo nên nền thuỷ năng lớn nhất Việt Nam
33tỉ Kw/hchiếm 30% tổng tiềm năng thuỷ điện của cả nước.
- Khoáng sản: Tây Bắc có nhiều khoáng sản với trữ lượng lớn như: than
khoảng 10 triệu tấn, Niken - Đồng - vàng khoảng 980 tấn đồng, 4,4 tấn vàng đât
hiếm ở Tây Bắc có tiềm năng rất lớn với quy moo vào loại lớn nhất của Việt
Nam đặc biẹt là các mỏ nước nóng và suối nước khoáng có 16 điểm có giá trị sử
dụng cao.
- Lịch sử văn hoá: Vùng Tây Bắc là vùng có nghề rèn, chế tạo công cụ
tinh sảo có tiếng từ lâu đời. Người Thái làm lương giỏi, dệt vải và những tấm thổ
cẩm hoa văn đẹp đẻ trang trí. Người HMông giỏi làm ruộng bậc thang, trồng lúa,
ngô, các cây thuốc.
4.1.2. Lợi thế cạnh tranh.
- Hệ thống kết cấu hạ tầng tuy phát triển hơn các vùng khác nhưng chất
lượng còn thấp.
- Trình độ trong thiết bị kỹ thuật của các cơ sở trong công nghiệp hiện nay
nhìn trung là lạc hậu( tỉ lệ thiết bị có trình độ tương đối như mới chiếm 1/3) sản
phẩm làm ra kém chất lượng, khó cạnh tranh trên thị trường.
- Vùng hiện đang còn ở điểm xuất phát chưa cao, sự phát triển của vùng
chưa tương xứng với khả năng hiện có. Vì thế tác dụng của nó đối với nền kinh
tế cả nước còn khiêm tốn.
- Vùng nằm gần khu vực phát triển nhanh của Trung Quốc do đó việc
cạnh tranh gặp nhiều khó khăn và hơn nữa còn bị ảnh hưởng trực tiếp những tình
huống phức tạp trên biển Đông và biên giới phía Bắc.
16
4.2. Thực trạng phát triển của nghành nông nghiệp của vùng trung
du và miền núi phía bắc.
4.2.1. Cơ cấu nghành nông nghiệp.
a. Đông Bắc: Về nông nghiệp Đông Bác có khả năng phát triển tập đoàn
giống cây trồng, vật nuôi khá đa dạng và phong phú vừa mang sác thái của nền
và khu vực xung quanh thị xã).
+ Vùng cam, quýt, bưởi, hồng ở Lục yên, Yên Bình, vùng vải thiều ở
huyện Lục Ngạn (Bắc Giang).
+ Vùng chăn nuôi lợn tập trung ở Bắc Ninh (xung quanh đô thị và khu
vực tập trung công nghiệp như ở Hạ Long, Cẩm Phủ, Đông Bí, Đông Triều, Yên
Hưng) ở Phú Thọ (Việt Trì, Phong Châu).
+ Ngành thuỷ sản Đông Bắc chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị sản xuất thuỷ
sản của cả nước (5% GDP toàn ngành) nhưng lại nằm trong vùng ngư trường
đánh bắt của vịnh Bắc Bộ, vùng Biển Đông Bắc với nhiều bãi cá và hàng ngàn
hòn đảo có nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng và là vùng có nhiều diện
tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt. Ngành đánh bắt cá thuỷ sản
nước lợ chủ yếu tập trung ở vùng ven biển Quảng Ninh.
- Về Lâm nghiệp trong những năm quá, vùng này có những nỗ lực nằm
trước mắt phủ xanh đất trống đồi núi trọc, dần dần khôi phục vốn rừng đã bị mất.
Đây là một trong những vùng vốn rừng bị giảm sút nghiêm trọng nhất ở nước ta.
Hình thức khai tác bừa bãi để lấy gỗ và phá rừng để làm nương, làm rẫy khai
thác khoáng sản gây nên tình trạng phá rừng đáng kể, có nhưũng mương sâu khai
tác than từ thời Pháp cho đến nay chưa hề có lại những thảm thực vật thứ sinh.
- Trong vùng đã xây dựng được một số nông trường cung cấp nguyên liệu
cho ngành giấy (Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái …) và gỗ trụ mỏ
(Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh.
- Được thiên nhiên ưu đãi vùng Đông Bắc có bãi biển Trà Cổ, có Vịnh Hạ
Long, một di sản thiên nhiên của thế giới với phong cảnh đựp, nhiều hang động ở
Lạng Sơn, Cao Bằng, vườn Quốc Gia ở Ba Bể và nguồn tài nguyên nhân văn
phong phú (các di tích lịch sử, đền, chùa …) nguồn tài nguyên đó là cơ sở để
phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan
18
thắng cảnh, du lịch văn hoá, du lịch sinh thái … ngành du lịch trong vùng đang
có xu hướng phát triển mạnh với sự phát triển và Hạ Long.
b. Tây Bắc:
phẩm động vật, cây ngô Tây Bắc gắn liền với đàn bò thịt, sữa trên quy mô lớn.
Trong tương lai Tây Bắc sẽ có nguồn thực phẩm động vật xuất khẩu, đóng góp
cho sự tăng trưởng kinh tế.
- Vùng Tây Bắc đã hình thành một số cây con gắn với công nghiệp chế
biến, tạo nguồn hàng hoá để xuất khẩu như chè Lương Sơn, bò sữa, chè và cây ăn
quả ở Mộc Châu, vùng cây ăn quả ở Hưng Châu, vùng ngô, bông ở Mai Sơn
(Sơn La) vùng chè tam đường (Phòng Thể, Lai Châu …). Sản lượng lương thực
và các loại cây trồng khác đều tăng khá, nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng
trong nền kinh tế.
- Về lâm nghiệp do có sự đổi mới về chính sách và nhờ có sự quan tâm
của các tổ chức quốc tế, phong trào trồng rừng, phủ xanh đất chống đồi núi chọc
đã được phát triển mạnh mẽ, diện tích rừng tự nhiên bước đầu được bảo vệ, diện
tích đất chống đồi núi chọc được thu hẹp dần. trong lâm nghiệp xuất hiện ngày
càng nhiều mô hình vươn rừng vườn đồi. Gắn việc phát triển cây lấy gỗ với cây
công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi thực hiện phương châm lấy ngăn nuôi dài,
canh tác đa tầng, gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, vì thế đất đai được sử dụng có
hiệu quả hơn.
- Tây Bắc chiếm 43.26% diện tích và 9.14% trữ lượng gỗ của rừng trồng
toàn quốc. Nếu sự trao đổi hàng hoá thuận lợi chắc chắn vùng này có điều kiện
phát triển các ngành chuyên môn hoá riêng của mình về nông nghiệp và lâm
nghiệp.
4.2.2. Thực trạng phát triển từng ngành
a. Đông Bắc:
- Vùng Đông Bắc được khai thác sớm, đặc biệt mạnh mẽ từ thời Pháp
thuộc. Do vậy tài nguyên đã suy giảm nhiều và môi trường bị xáo trộn.
- Thời Pháp thuộc khoảng 40-50% vốn đầu tư vào Đông Dương tập trung
ở đây để lấy ra 27.7 triệu tấn than, 217.3 nghìn tấn thiếc, gần 600 nghìn tấn
quặng sắt và mangan, 315.5 nghìn tấn phốt phát và hàng triệu m
3
gỗ quý mang về
nhiều khó khăn.
- GDP bình quân đầu người còn thấp, nhưng lại phân bố không đồng đều
giữa các địa phương và giữa các dân tộc. Số có thu nhập cao thường tập trung ở
21
khu vực thị xã, thị trấn huyện, lị thu nhập trong khu vực thuần tuý nông nghiệp là
rất thấp.
- Cơ cấu kinh tế có chuyển biến nhưng còn chậm chủ yếu là nông- lâm
nghiệp các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng chưa nhanh, so với cả
nước còn nhiều thua kém. Đến năm 2002 tỷ trọng nông- lâm nghiệp chiếm 56%
công nghiệp - xây dựng 14%.
4.2.3. Đánh giá những thành tựu và khó khăn trong phát triển ngành
nông nghiệp của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
4.2.3.1. Thành tựu:
a. Đông Bắc:
- Vùng Đông Bắc tiếp giáp Tây Bắc; Đông Bắc Sông Hồng, biển đông và
Trung Quốc, có vị trí thuận lợi không chỉ bởi các cửa khẩu mà còn một phần lãnh
thổ gắn với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với những trung tâm đô thị lớn vào
bậc nhất của cả nước (như Hà Nội, Hải Phòng).
- Đông Bắc là một trong những vùng giàu khoáng sản trong đó có những
loại có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia Apatit, đồng, sắt, chì, kẽm … có
vùng than Quảng Ninh là lớn nhất.
- Vùng Đông Bắc có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng và có sức
hấp dẫn như Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng,
bãi biển trà cổ, vườn quốc gia Ba Bể, Tam Đảo… thu hút rất nhiều khách du lịch
trong và ngoài nước.
- Văn hoá - lịch sử có bề dày của lịch sử Việt Nam nhiều di tích lịch sử có
giá trị về khoa học và giáo dục truyền thống, lễ hội cổ truyền đền Hùng (Phú
Thọ), Păc Pó, Tân Trào … tạo điều kiện cho khách du lịch tham quan và tìm
hiểu.
- Đông Bắc có nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao như chè chiếm
+ Môi trường ở các vùng núi, vùng biển đang bị xuống cấp, tài nguyên
thiên nhiên đang bị phá hoại nghiêm trọng.
b. Tây Bắc:
- Tây Bắc là một vùng nghèo, nền kinh tế đang ở điểm xuất phát thấp
đứng trước nhiều khó khăn trở ngại hàng năm phủ nhận chi viện của Nhà nước.
23
- Dân số Tây Bắc vẫn còn tăng nhanh 3.1% là vùng có nhiều dân tộc ít
người sinh sống, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao (có 49.6% số
người lao động trong độ tuổi mù chữ).
- Khó khăn về thông tin giữa các tỉnh trong vùng từ cấp tỉnh đến cấp
huyện, xã và với các tỉnh thuộc các vùng khác, đặc biệt là thông tin về kinh tế-
thị trường.
- Vấn đề phát triển kinh tế - xã hộ vùng Tây Bắc đang đứng trước những
mâu thuẫn cần giải quyết là:
+ Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, diện tích đất tự nhiên bình
quân đầu người cao nhất so với các vùng trong cả nước nhưng không có điều
kiện sử dụng do thiếu vốn, thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
+ Lao động tại chỗ dồi dào nhưng hạn chế về trình độ kỹ thuật.
+ Có khoảng cách khá xa giữa thành thị và nông thôn, do sự tăng trưởng
kinh tế so với các vùng khác ngày càng chênh lệch.
+ Yêu cầu giữa việc cải thiện đời sống vật chất, văn hoá cho đồng bào các
dân tộc và việc củng cố an ninh quốc phòng với việc đầu tư xây dựng và phát
triển còn khoảng cách lớn.
4.3. Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy và phát triển
ngành nông nghiệp của vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
4.3.1. Phương hướng phát triển ngành
a. Đông Bắc:
- Về nông nghiệp: Đổi mới cơ cấu trong nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá (giảm tỷ trọng cây lương thực tăng tỷ
trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, rau thực phẩm) phát triển lương thực theo
thẳng như ở Việt Bắc và Đông Bắc.
b. Tăng cường quản lý sử dụng các loại rừng và đất rừng có hiệu quả
- Vì vùng có đặc điểm địa hình miền núi làm cho đất canh tác nông nghiệp
theo đầu người thấp cho nên rừng và đất rừng trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu
đối với các đồng bào dân tộc.
- Đối với vùng núi cao, đầu nguồn, rừng sâu biên giới, điều kiện đất nông
nghiệp càng ít hơn, rừng và đất rừng càng trở thành nguồn sống chính và nơi
25