TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG
KHOA DU LỊCH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VỀ LÀNG DU LỊCH
GVHD: Nguyễn Thị Hải Đường
NHÓM 135
Họ và tên LỚP
Phạm Thị Ngà 36k03.2
Nguyễn Thị Nhàn 36k03.2
Nguyễn Minh Trang 36k03.2
Nguyễn Thị Kim Dung 36k03.2
Lê Thị Ngân 36k03.1
PHETSINORATH ALECK 35k03.1
ĐỀ TÀI: Nghiên cứu làng du lịch
I. SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM
Du lịch đang trở thành ngành kinh tế thu ngoại tệ quan trọng của các nước và sẽ
trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế thế giới.
Việt Nam là một trong những điểm đến du lịch thu hút nhất trong khu vực châu Á-
Thái Bình Dương và trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đang có
chiều hướng gia tăng mạnh mẽ. Trong năm 2009, mặc dù phải đối mặt với cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngành công nghiệp du lịch ước tính đã đóng góp
13,1% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cho nền kinh tế Việt Nam. GDP ngành Du
Lịch Việt Nam đã tăng gần gấp đôi so với một vài năm năm trở lại đây.
Năm 2011, tình hình kinh tế - xã hội nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới
Khách và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua 10 năm gần đây (2000-
2010) - Nguồn: TCTK
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Lượt khách
đến Việt
Nam (triệu
người, làm
Tháng
12/2011
so với
tháng
12/2010
Năm
2011 so
với năm
2010
Tổng số 611.864 593.408 6.014.032 97,0 132,0 119,1
Chia theo phương tiện đến
Đường không 514.094 493.908 5.031.586 96,1 135,3 123,9
Đường biển 7.627 8.500 46.321 111,4 188,9 91,7
Đường bộ 90.143 91.000 936.125 101,0 113,8 99,8
Chia theo mục đích chuyến đi
Du lịch, nghỉ ngơi 374.191 360.276 3.651.299 96,3 139,3 117,4
Đi công việc 101.435 98.967 1.003.005 97,6 108,6 98,0
Thăm thân nhân 98.889 99.388 1.007.267 100,5 184,6 175,5
Các mục đích khác 37.349 34.777 352.460 93,1 75,7 103,1
Ngành Du lịch tập trung nghiên cứu, xây dựng và trình các đề án lớn cho giai
đoạn 2011-2020, đặc biệt đã hoàn thiện Chiến lược và Quy hoạch phát triển Du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 báo cáo Bộ trưởng trình Chính phủ
phê duyệt
Các hoạt động quảng bá, xúc tiến trong nước và nước ngoài đã triển khai đã
mang lại hiệu quả tích cực: Các Roadshow, các sự kiện văn hóa và hội chợ du lịch
quốc tế tại Đức, Nga, Ucraina, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Trung Quốc, các nước
Đông Nam Á,… cùng với hoạt động quảng bá Du lịch Việt Nam trên một số kênh
truyền hình, báo chí của nước ngoài đã góp phần đạt được tỉ lệ tăng trưởng khách
du lịch quốc tế gần 20% trong năm 2011.
Tổng cục Du lịch tiếp tục duy trì triển khai các nhiệm vụ thường xuyên liên
với tháng
trước (%)
Tháng
8/2012 so
với tháng
8/2011 (%)
8 tháng 2012 so
với cùng kỳ
năm trước (%)
Tổng số 525.292 4.384.998 106,5 95,7 109,4
Chia theo phương tiện đến
Đường không 442.292 3.684.811 108,6 96,5 109,2
Đường biển 8.000 46.612 114,3 118,4 174,7
Đường bộ 75.000 653.575 94,9 89,4 107,6
Chia theo mục đích chuyến đi
Du lịch, nghỉ ngơi 320.210 2.604.413 112,4 93,6 107,1
Đi công việc 88.283 762.169 96,0 97,6 114,0
Thăm thân nhân 86.595 773.313 95,2 103,3 114,7
Các mục đích khác 30.205 245.104 119,5 92,7 104,3
Tuy nhiên, với kết quả này thì du lịch vẫn được xem là một điểm sáng của nền
kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Đây cũng là thành quả ghi nhận những
nỗ lực trong công tác điều hành của Chính phủ và ngành Du lịch trong những năm
gần đây đã tập trung đầu tư cho công tác tuyên truyền quảng bá, nâng cao chất
lượng sản phẩm, xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, đào tạo nguồn nhân lực và hoàn
thiện các văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch…
II. TỔNG QUAN VỀ LÀNG DU LỊCH
1. Khái niệm Làng du lịch
Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7797:2009
Làng du lịch (holiday village)
Cơ sở lưu trú du lịch gồm tập hợp các biệt thự hoặc một số loại cơ sở lưu trú khác
đa dạng hệ sinh học tái tạo môi sinh, làm sạch môi trường.
• Tiềm năng nhân văn phong phú và đa dạng
• Hệ thống hạ tầng được chỉnh trang nâng cấp, có khu ở, công trình
công cộng, cây xanh mặt nước và cảnh quan môi trường. Về khu ở,
các hộ trong làng cổ tu bổ nhà ở theo kiểu truyền thống sẽ điều
chỉnh theo nguyên tắc: giảm diện tích xây dựng công trình phụ, xóa
hẳn chuồng trại chăn nuôi, thu hẹp sân phơi, tăng tỷ trọng đất trồng
cây và xây dựng khuôn viên theo mô hình nhà vườn.
Khu du lịch Mỹ Khánh là một trong những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của
TP.Cần Thơ. Mỹ Khánh nằm giữa hai chợ nổi Cái Răng và Phong Điền, với
diện tích hơn 50.000m2 rất bề thế và thoáng mát, đáp ứng nhu cầu vui chơi,
nghỉ dưỡng.
4.2 Làng du lịch văn hóa:
Làng du lịch văn hoá là một điểm du lịch có tài nguyên du lịch văn hoá và
có tổ chức khai thác các tài nguyên du lịch văn hoá phục vụ du khách
Các yếu tố của Làng du lich văn hóa
• Yếu tố thứ nhất là làng du lịch văn hoá phải có các cảnh quan môi trường
sạch đẹp, có sắc thái tộc người:
• Yếu tố thứ hai là làng du lịch văn hoá phải có các di sản văn hoá phong
phú và mang tính độc đáo, hấp dẫn đối với du khách
• Yếu tố thứ ba là khai thác các nguồn lực tài nguyên du lịch văn hoá nhằm
phục vụ các hoạt động du lịch
• Yếu tố thứ tư là đảm bảo đi lại cho du khách thuận lợi
Làng du lịch văn hóa Pà Thẻn: Cách trung tâm huyện Quang Bình không xa,
nhưng làng du lịch văn hóa Pà Thẻn vẫn còn là một điểm đến mới lạ với nhiều
du khách.
III. ĐẶC TRƯNG CỦA LÀNG DU LỊCH
1. Vị trí địa lý:
Được xây dựng ở nơi có tài nguyên du lịch, cảnh quan thiên nhiên đẹp
( biển, núi, ngoại ô)
thao Phòng hội nghị, tổ chức tiệc cưới, tổ chức các sự kiện
Ngoài ra làng du lịch còn có các dịch vụ như:
Đờn ca tài tử ( làng du lịch Mỹ Khánh)
Tổ chức các trò chơi dân gian
Dịch vụ đưa đón tại sân bay
…………
4. Mức chất lượng dịch vụ: nhìn chung là cao
5. Hệ thống làng du lịch tại Việt Nam:
Làng du lịch tại Việt Nam
5.1 Làng du lịch Bình Giới (1147 đường Bình Quới, Phường 28, Quận
Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh), là một tổ hợp trực thuộc Tổng công ty Du lịch Sài
Gòn, được thành lập năm 1994, gồm nhiều đơn vị cơ sở như:
Khu du lịch Bình Quới 1
Khu du lịch Bình Quới 2
Tàu nhà hàng Sài Gòn
Khu du lịch Tân Cảng
Khi du lịch Văn Thánh
Quán Xưa
Nhà hàng Tre Xanh
Trong các địa điểm nêu trên, khi du lịch Bình Quới 1 và 2 là nơi có nhiều du
khách đến tham quan, vui chơi, nghỉ ngơi nhất. Khu du lịch Bình Quới 1 có tổng
diện tích 34.635 m
2
, tiếp giáp với sông Sài Gòn về phía Tây Bắc nên có khí hậu
thoáng mát trong lành. Với lợi thế mặt bằng rộng, không gian yên lành, Bình Quới
như một làng quê thanh bình ngay trong lòng thành phố. Đây cũng là nơi thường
xuyên tổ chức các chương trình hoạt động lễ hội như Lễ hội Văn hoá Đất Phương
Nam, Gala Dinner Giáng sinh, Khám phá văn hoá và ẩm thực dân gian Việt Nam,
lễ hội Kỳ Yên, Đám cưới truyền thống Việt Nam…
Chương trình đặc sắc nhất của Khu du lịch Bình Quới 1 là Ẩm thực khẩn hoang
làm gương soi. Phía bên trái là đi văng. Hai bên đối xứng nhau bởi hai chiếc bàn
tròn. Bàn bên trái dùng để tiếp khách, phía còn lại để gia đình quây quần bên mâm
cơm. Mọi đồ đạc trong nhà đều bằng gỗ cây nhong, gỗ lim 100 năm tuổi. Theo
thời gian, màu gỗ trở nên cũ kĩ nhưng càng tô thêm ánh bạc tỏa ra từ những lát
ngọc trai được cẩn hình bông hoa thật tỉ mỉ và sắc nét. Ngoài hiên, gió lùa mát
rượi, khách có thể ra ngồi uống nước và thưởng thức những câu giọng cổ phát ra
từ chiếc máy hát đĩa quay bằng tay đã gần 100 tuổi. Ban đêm, ngôi nhà có một căn
phòng duy nhất với chiếc giường cổ với buồng được nối với gian bếp bởi tấm vách
ngăn. Tất cả các vật dụng trong nhà bếp vẫn còn nguyên vẹn từ cái thau, rổ, nồi
đất
Bên trong làng du lịch còn là làng nghề bánh tráng và nấu rượu truyền thống. Bếp
củi đang rực cháy. Lúng túng trong vai người thợ tráng bánh, khách mới hiểu hết
cái hơi nóng bốc lên từ lò, cái khoé tay và chuyên nghiệp của người thợ để chiếc
bánh tròn, đều. Người ta có thể thưởng thức món bánh ướt cuốn thịt cá tai tượng
chiên xù hoặc mua bánh đã phơi khô về làm quà cho người thân.
Đến Mỹ Khánh, du khách không chỉ được tham gia những trò chơi dân gian như
leo cau, đập niêu, nhảy bao bố mà còn được hòa mình vào cuộc sống thường
nhật vùng nông thôn Nam Bộ với các hoạt động như bơi xuồng, chài lưới trên ao,
đi chài cá về đêm, tự tay bắt cá, tép, nướng trên than hồng rồi xuýt xoa thưởng
thức.
Làng du lịch Mỹ Khánh rộng trên 4ha, cây trái xum xuê bốn mùa. Sau chặng
đường dài, du khách sẽ cảm thấy dễ chịu giữa không khí trong lành, mát mẻ. Đi
dạo dưới những bóng cây mát rượi của một khu vườn rộng rãi có nhiều loại hoa
kiểng cùng hơn 20 loại cây ăn quả đặc sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
tâm hồn người như được mở ra với thiên nhiên, cây cỏ. Đặc biệt, du khách còn
được cảm nhận không gian cổ xưa của ngôi nhà cổ Nam Bộ bằng gỗ trên 100 năm
tuổi.
Trong thời gian lưu lại Làng du lịch Mỹ Khánh, du khách cũng có thể sống thử
cho biết sinh hoạt hàng ngày của gia đình đại điền chủ với hai cách phục vụ: ngắn
thì 3 giờ, dài thì 2 ngày 1 đêm. Trong vai một đại điền chủ, du khách được sống
lớn, thoáng mát hữu tình để tổ chức tiệc, đoàn cắm trại đông người Nhà hàng VIP
đẹp, lịch sự, sang trọng – thơ mộng; đầy đủ tiện nghi: máy lạnh, âm thanh, ánh
sáng tuyệt vời phục vụ khách lẻ, bạn bè, gia đình, sinh nhật… Du khách ngồi trong
nhà hàng nhìn thấy hết cảnh quan của Làng.
5.4 Làng du lịch Cà Ná : ( Ninh thuận)
Làng du lịch Cà Ná nằm sát bờ biển, cách thành phố Phan Rang-Tháp Chàm
32km, cách thành phố Phan Thiết 114km. Lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển, rất
thuận tiện cho du khách đi đường bộ và đường sắt.
Không khí trong lành mát mẻ, du khách ngồi xe ngựa tới các thắng cảnh của Cà
Ná, Mũi Dinh, những hang động: hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng Đục,
núi Bạc. Khách có thể tham gia môn thể thao leo núi hoặc vào rừng dạo chơi, tắm
biển, đi ca nô trên mặt biển ngắm nhìn trời mây, nước xanh và quang cảnh núi
rừng.
Một làng du lịch với những ngôi nhà nho nhỏ đủ tiện nghi cho 2 người hoặc 4
người nghỉ lại đã mọc lên sát biển tạo thành một làng du lịch Cà Ná.
5.5 Làng du lịch Hồ Diên Hồng: Địa chỉ : Hồ Diên Hồng, Đường Thống
Nhất, Tp. Pleiku, Gia Lai
Giữa lòng phố núi, nằm trong công viên Diên Hồng với cảnh quan tuyệt đẹp, môi
trường trong lành và yên tĩnh, Khu Du lịch Hồ Diên Hồng là nơi lý tưởng cho quý
khách nghỉ ngơi, thư giãn, tản bộ và câu cá hay tham gia một số hoạt động giải trí
khác.
Khu Du lịch có 20 phòng nghỉ với đầy đủ tiện nghi: Tivi vệ tinh, điều hòa hai
chiều, tủ lạnh, nước tắm nóng lạnh, bồn tắm, điện thoại, vệ sinh khép kín. Đặc biệt
khu chòi ven hồ được thiết kế ấn tượng mang đặc trưng kiến trúc Tây Nguyên
mang đến cho quý khách cảm giác khó quên.
Đến với Khu Du lịch Hồ Diên Hồng, quý khách sẽ còn được thưởng thức các món
ăm đậm đà hương vị của núi rừng Tây Nguyên tại nhà hàng của khu du lịch. Nhà
hàng có khung cảnh, không gian mát mẻ với sức chứa hơn 500 chỗ ngồi còn là nơi
thích hợp để tổ chức tiệc cưới, liên hoan.
Và thích thú hơn nữa là khi được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí của
xe máy nhưng nét văn hóa vùng cao vẫn không phai nhạt. Du khách đến đây vẫn
có thể đắm chìm vào những giai điệu ngọt ngào của các cô sơn nữ hay sự tếp đón
ân tình của những con người quanh năm bám làng, bám bản.
IV. Nhận xét về làng du lịch
1. Điểm mạnh
• Các di sản văn hoá phong phú và mang tính độc đáo, hấp
dẫn đối với du khách.
- Di sản văn hoá vật thể của làng du lịch bao gồm: kiến trúc nhà cửa, các công
trình văn hoá tôn giáo, các di tích, danh lam thắng cảnh, các di vật về nghề
thủ công, trang phục truyền thống…phong phú, độc đáo, mang đặc trưng của
từng tộc người, từng vùng, miền.
- Di sản văn hoá phi vật thể ở các làng du lịch văn hoá bao gồm lễ hội, phong
tục tập quán, tín ngưỡng dân gian, văn nghệ dân gian, các tri thức về bí quyết
ẩm thực, chữa bệnh…
- Các di sản này càng hấp dẫn với du khách hơn bởi nó khác lạ với các loại
hình du lịch khác, có sắc thái và nét độc đáo riêng.
• Các nguồn lực tài nguyên du lịch văn hoá nhằm phục vụ các
hoạt động du lịch:
- Các tài nguyên, nguồn lực đáp ứng nhu cầu xem, giải trí
của du khách như tổ chức tham quan cảnh đẹp thiên nhiên, tổ chức lễ hội,
sinh hoạt văn hoá, giới thiệu trình diễn văn nghệ dân gian…
- Các nhà nghỉ, phòng nghỉ, resort mang phong cách dân tộc, tổ chức các cửa
hàng ăn uống, nấu ăn, phòng ăn…
- Các dịch vụ bổ sung phục vụ du lịch khác dẫn đường leo núi, xây dựng quầy
bán hàng lưu niệm gắn với nghề thủ công truyền thống (làng du lịch văn hóa
các dân tộc) các dịch vụ hiện đại như du thuyền, khu vui chơi …(làng du lịch
sinh thái hiện đại)…
• Đảm bảo đi lại cho du khách thuận lợi
- Làng du lịch nằm trong tuyến du lịch, thị trường du lịch đảm bảo giao thông
cho khách đến điểm du lịch (bao gồm những điều kiện đã có và khả năng mở
LÀNG DU LỊCH
1. Xu thế phát triển làng du lịch trong tương lai:
• Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang
là một hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh
những lợi ích về kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn
và phát huy những bản sắc văn hoá độc đáo của từng vùng miền, địa
phương.
• Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần
lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của
mỗi dân tộc mỗi quốc gia. Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản
sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế. Một cách giới
thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương.
Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp,
được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch.
Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể
hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn
lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo
tồn những giá trị văn hoá của dân tộc. Đó là những lợi ích lâu dài không thể
tính được trong ngày một ngày hai.
• Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình
du lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào
việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác
có chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch của địa phương đó.
• Vụ trưởng Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch), ông Vũ Thế Bình khẳng
định: Làng nghề truyền thống đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng
cho phát triển du lịch.
• Mô hình phát triển làng nghề thủ công truyền thống đang trở thành
hướng đi mới trong quá trình phát triển du lịch Việt Nam. Các làng nghề
thường nằm trên trục đường giao thông, cả đường sông lẫn đường bộ,
không chỉ tạo điều kiện lưu thông hàng hóa mà tiện xây dựng tuor, tuyến du
• Phát triển các công ty du lịch tư nhân phục vụ du lịch làng nghề (các
showroom là điểm dừng du lịch). Thành lập trung tâm du lịch làng nghề
Việt Nam có hệ thống điều hành, quảng bá trên cả nước với 3 trung tâm lớn
tại Hà Nội, Huế, TPHCM, các chi nhánh quan trọng như Hải Phòng, Đà
Nẵng, Đà Lạt và Cần Thơ. Và đặc biệt là cần củng cố, mở rộng tổ chức
Hiệp hội Làng nghề Việt Nam từ trung ương đến cơ sở, qua đó xây dựng hệ
thống mạng lưới Showroom du lịch làng nghề từ khu vực đến các tỉnh
• Các cơ sở sản xuất tại làng nghề phải đầu tư nghiên cứu thị trường từng đối
tượng khách để sản xuất ra những sản phẩm có mẫu mã, màu sắc phù hợp.
Trước mắt là tổ chức bán hàng sản phẩm thủ công truyền tại các điểm du
lịch.
• Cần có quy hoạch, đầu tư về hạ tầng giao thông, cơ sở đón tiếp khách, điểm
trình diễn; đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá. Xây dựng cơ sở hạ
tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch (đường xá, cơ sở y tế, địa điểm
ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí )
• Phải quy hoạch lại các làng nghề trở thành điểm tham quan du lịch, sau đó
đào tạo cho nông dân kỹ năng làm du lịch, doanh nghiệp lữ hành và các
làng nghề cần hợp tác chặt chẽ để thiết lập nên các tour tham quan làng
nghề.
• Bảo vệ môi trường, giữ gìn được những nét tinh hoa của làng nghề
• Đào tạo đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp, bên cạnh đó huấn luyện các
nghiệp vụ cơ bản và kĩ năng cho người dân tại nơi quy hoạch, xây dựng
làng du lịch
• Tạo ra những sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh cao
• Xây dựng làng du lịch văn hóa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
• Thu hút đầu tư để xây dựng và phát triển làng du lịch
• Kết nối các làng nghề để khai thác các tiềm năng
• Có chính sách thu hút khách du lịch lâu dài