MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát
triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại vào năm 2020.
Nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy sáng tạo, có ý chí và có trí tuệ, biết sử dụng
và vận dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng góp phần tác
động vào quá trình đổi mới đất nước.
Đối với nước ta, phát triển nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
đang là nhu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột
phá.
Dạy học được xem là con đường giáo dục cơ bản nhất để thực hiện mục đích của quá trình giáo dục
tổng thể, trong đó tự học là phương thức cơ bản để người học có được những hệ thống tri thức phong phú và
thiết thực. Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người, đó cũng là truyền thống quý
báu của dân tộc Việt Nam, được thể hiện qua các câu thành ngữ, tục ngữ "Học một, biết mười", "Đi một
ngày đàng, học một sàng khôn", "Học thầy không tày học bạn", Chất lượng và hiệu quả giáo dục được
nâng lên khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự
giáo dục. Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học.
Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về việc "lấy tự học làm gốc" đã được nhân dân ta luôn coi trọng. Điều 5
của Luật Giáo dục 2005 quy định "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê
học tập và ý chí vươn lên"; "… đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào
tự học, tự đào tạo "; "… tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh"[9].
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn
2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo
điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các
cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”[10]. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho đất
nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, trong đó, vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo
hướng hiện đại hoá đã và đang trở thành một yêu cầu cấp bách. Trường Đại học An Giang đang trong cơ chế
chuyển đổi từ phương thức đào tạo theo niên chế học phần sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ,
điều này vừa đồng thời tạo ra vừa đòi hỏi một sự thay đổi lớn về công tác quản lý đào tạo của Nhà trường.
các biện pháp quản lý cùng với sự đảm bảo điều kiện vật chất cần thiết thì hoạt động tự học của sinh viên khi
áp dụng phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ đạt được hiệu quả mong muốn, đảm bảo chất lượng đào
tạo Nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Căn cứ vào mục đích nghiên cứu đã đặt ra, nội dung luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt
động tự học của sinh viên năm thứ II, III, IV Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang (200 phiếu), nơi tác
giả đã và đang trực tiếp làm việc; nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên đáp ứng đào
tạo theo hệ thống tín chỉ của Nhà trường (40 giảng viên và cán bộ quản lý).
- Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt
động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ trong giai
đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm các phương pháp xử lý số liệu
2
8. Giới hạn của đề tài
Do mục đích nghiên cứu đã xác định và sự chi phối của các điều kiện khách quan về nhận thức, về
cơ chế đảm bảo, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học của
sinh viên Khoa Sư phạm Trường Đại học An Giang trong giai đoạn hiện nay và xây dựng, đề xuất các biện
pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang đáp ứng yêu
cầu đào tạo theo học chế tín chỉ dưới dạng các kết quả nhận thức khoa học. Khả năng áp dụng các biện pháp
đề xuất là điều có thể. Tuy nhiên, để tiến hành áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả đòi hỏi phải có
thêm những nghiên cứu chuyên sâu với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý tâm huyết.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận
văn được trình bày trong 3 chương:
Chương l: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang
Để xác định rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, chúng ta sẽ tìm hiểu nội hàm của một số khái
niệm có liên quan đến đề tài.
1.2.1. Hoạt động tự học
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động học
Học là quá trình con người lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và những phương thức hành vi
mới, do vậy ta thấy học chính là hoạt động nhằm tạo ra sự thay đổi kinh nghiệm của người học một cách bền
vững.
1.2.1.2. Khái niệm tự học
Tự học (self-learning) là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động
của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định.
4
Như vậy, tự học là hình thức hoạt động nhận thức của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, tự mình
luyện tập các thao tác, hành động để hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
1.2.2. Sinh viên
Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập
nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức. "Sinh viên" là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và
phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông.
Từ đó ta có thể hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang học tập tại các trường đại học, cao
đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội.
1.2.3. Quản lý
1.2.3.1. Khái niệm quản lý
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể
quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ
thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ sớm đạt tới mục tiêu” [25].
Qua các định nghĩa và quan niệm về “Quản lý” như đã trình bày ở trên, ta thấy rằng trong hoạt động
quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
Quản lý có nhiều loại khác nhau, trong đó quản lý xã hội là phức tạp nhất. Do vậy, quản lý vừa là
khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô.
1.2.3.2. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là tập hợp những nhiệm vụ quản lý khác nhau, mang tính độc lập tương đối, được
chủ đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở
rộng kiến thức. Để có được những năng lực, khả năng này, người học ở bậc đại học phải có cách học chủ
động, khả năng tự lực tìm kiếm và xử lí thông tin, năng lực tự học và khao khát sáng tạo. Do vậy, cũng có
thể nói “học đại học là tự học”.
1.4. Quản lý dạy học theo học chế tín chỉ và sự thúc đẩy sinh viên ý chí tự học.
Việc định lượng cụ thể và chính xác các nội dung yêu cầu tự học là vấn đề rất phức tạp. 1.4.1.
Phương pháp kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ
Khác với đào tạo theo hình thức niên chế học phần, học chế tín chỉ coi trọng phần tự đào tạo, tự học
của người học trong quá trình đào tạo.
Để đánh giá đúng năng lực và trình độ của sinh viên trong và sau khi kết thúc môn học, người giảng
viên ngoài việc đánh giá trình độ nhận thức của sinh viên theo các tiêu chí đánh giá của môn học như đã nêu
trong đề cương, còn phải đánh giá sinh viên về tinh thần, thái độ học tập, ý thức chấp hành các nội quy, quy
chế của Khoa và Nhà trường, có tinh thần cầu thị trong học tập, đi học đầy đủ, đúng giờ, Về một phương
diện nào đó có thể thấy, việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập trong học chế tín chỉ sẽ toàn diện công bằng
và đầy đủ hơn so với hình thức đào tạo theo niên chế học phần.
1.4.2. Quản lý dạy học theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của
mình. Những sinh viên giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khoá, kế hoạch học
tập từng học kỳ theo gợi ý của Nhà trường, để tốt nghiệp theo đúng thời gian chuẩn của chương trình hoặc
sớm hơn. Chương trình đào tạo của tất cả các ngành đều phải cấu trúc lại theo hướng mô-đun hoá thành
những học phần; lịch trình giảng dạy phải thực hiện hết sức chính xác, không được đổi giờ hoặc bỏ giờ; mỗi
giảng viên, mỗi sinh viên đều có thời khoá biểu riêng, không theo một quy luật nào cả. Do vậy, quản lý đào
tạo, quản lý dạy học theo học chế tín chỉ cần một hệ thống quản lý khoa học, chặt chẽ, linh hoạt và mềm dẻo.
Để quản lý dạy học trong học chế tín chỉ đạt hiệu quả cao, Nhà trường phải thực hiện đồng bộ các nội dung
sau:
+ Một là, phải ổn định và công khai hoá nội dung chương trình đào tạo của tất cả các ngành nghề
trong Trường bằng một Niên lịch đào tạo.
+ Hai là, phải thay đổi cách tổ chức quá trình đào tạo.
6
+ Ba là, phải thay đổi phương thức quản lý sinh viên.
- Trong học chế tín chỉ, sinh viên được chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học tập.
- Sự lựa chọn chương trình, xây dựng kế hoạch, lộ trình học tập là yếu tố tác động trực tiếp đến thời
hạn học tập của sinh viên.
- Phương thức kiểm tra đánh giá trong học chế tín chỉ với tần suất lớn, tiến hành thường xuyên, với
nhiều nội dung, tài liệu tham khảo phong phú. Chất lượng học tập của sinh viên là sự phản ánh chất lượng
quản lý của Nhà trường. Bên cạnh những yếu tố tác động khách quan của học chế tín chỉ, Nhà trường phải tổ
chức thực hiện tốt các hoạt động quản lý, đảm bảo điều kiện đủ cho kết quả học tập của sinh viên.
7
1.5. Yêu cầu quản lý tự học theo học chế tín chỉ đối với sinh viên
Đào tạo theo học chế tín chỉ, kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học lựa
chọn. Để quản lý được tốt hoạt động này, Nhà trường phải triển khai, thực hiện tốt những nội dung quản lý
như việc đăng ký môn học của sinh viên, quản lý học liệu phục vụ tự học, quản lý hoạt động giảng dạy trên
lớp của giảng viên và công tác kiểm tra - đánh giá hoạt động giảng dạy.
1.5.1. Thực hiện đăng ký môn học của sinh viên có sự hướng dẫn cho sinh viên chọn lựa môn
học phù hợp nhu cầu - khả năng
Về mặt lý thuyết, trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, bắt đầu một học kỳ mỗi sinh viên
sẽ tự quyết định các môn mà mình sẽ theo học trong học kỳ đó. Từ đó, họ có thể sắp xếp thời gian hợp lý cho
từng môn học, từng mục tiêu, từng nhiệm vụ cụ thể. Như vậy, việc đăng ký môn học không chỉ giúp sinh
viên chủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, phù hợp và hiệu quả mà còn giúp sinh viên xác định
được các phương tiện, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch đó.
1.5.2. Quản lý cung cấp học liệu phục vụ hoạt động tự học theo môn học đăng ký
Đối với hoạt động tự học, cùng với ý chí, nỗ lực học tập của sinh viên, học liệu là vấn đề có tính chất
quyết định đến chất lượng học tập.
Đào tạo theo học chế tín chỉ, sinh viên được giảng viên cung cấp bản đề cương môn học, trong đề
cương ghi đầy đủ danh mục học liệu mà môn học yêu cầu, bao gồm tài liệu bắt buộc, tài liệu tham khảo. Điều
này sẽ tạo điều kiện cho sinh viên không mất nhiều thời gian tìm kiếm, để tăng thời gian cho hoạt động học tập.
Thư viện của Đại học An Giang là một đơn vị phục vụ chung cho sinh viên các Khoa trong toàn
Trường, Thư viện Đại học An Giang được tin học hóa và quản lý bằng mạng máy tính, được nối mạng và
liên kết khai thác tài liệu trong nội bộ Đại học An Giang, có hệ thống tài liệu điện tử giúp người đọc có thể
tra cứu. Thư viện Đại học An Giang có quan hệ hợp tác với nhiều thư viện các trường đại học trong nước,
9
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
2.1. Quá trình hình thành và phát triển Trường Đại học An Giang
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1970, Trường được thành lập với tên Trường Sư phạm Long Xuyên với vỏn vẹn 4 lớp và 260
giáo sinh.
Đến năm 1995, Tỉnh quyết định sát nhập hai trường Trung học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm thành
một, và lấy tên mới là Cao đẳng Sư phạm An Giang.
Cuối năm 1999, Chính phủ ký quyết định cho phép thành lập Trường Đại học An Giang tháng 12
năm 1999.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ
- Đào tạo cán bộ trình độ đại học và các trình độ thấp hơn, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận.
- Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội trong vùng.
2.1.3. Mục tiêu chiến lược phát triển trong bối cảnh mới của Trường
2.1.3.1. Mục tiêu đến năm 2010
- Qui mô đào tạo của trường sẽ lên đến 6.000 – 7.000 sinh viên. Đến năm 2010, khoảng 10.000 sinh
viên chính quy.
- Trường Đại học An Giang sẽ mở chương trình đào tạo sau đại học vào năm 2009.
- Trường sẽ tiếp tục mở ít nhất 35 chương trình đào tạo bốn năm cho các ngành: sư phạm, công nghệ
thực phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ sư điện toán, thủy sản, cơ khí dân dụng, vật liệu xây
dựng, environment engineering (kỹ thuật môi trường), kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện, ngoại thương, quản trị
kinh doanh nông thôn, kinh tế du lịch, quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên - môi trường, …
- Số lượng giảng viên lên đến 800 cán bộ, giảng viên, trong đó có 50% là thạc sĩ và tiến sĩ.
- Xây dựng các khu nhà và khuôn viên mới trên khuôn viên 40 hecta.
2.1.3.2. Phương hướng
Để thực hiện được những mục tiêu trên, Trường Đại học An Giang sẽ thực hiện chiến lược “đương
đầu thách thức, nắm bắt thời cơ, đi tắt đón đầu”, ra sức khắc phục các khó khăn về đội ngũ cán bộ giảng dạy
tín chỉ.
- Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin: nâng tốc độ đường truyền Internet, tốc độ mạng nội bộ
(LAN), các thiết bị đầu cuối Switch, Router, Firewal, Wifi, máy tính; hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ
VinaREN/Viettel, khai thác sử dụng để góp phần hoàn chỉnh phần mềm phục vụ đào tạo theo tín chỉ.
- Sứ mệnh của nhà trường là: “Xây dựng Trường Đại học An Giang trở thành cơ sở đào tạo có uy tín
trong nước và trong khu vực Đông Nam Á về lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công
nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”.
2.1.4. Cơ cấu tổ chức (Phụ lục - Bảng 2.1)
2.2. Phân tích quy mô và chất lượng đào tạo của Trường
2.2.1. Quy mô đào tạo
Nhà trường có các bậc đào tạo: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Cao học với 2 hình thức: chính quy
và không chính quy, tổng số có 45 ngành đào tạo.
Ngoài hình thức đào tạo chính quy và không chính quy, Nhà trường còn tổ chức các hình thức đào
tạo khác như văn bằng thứ hai, chuyên tu, từ xa, vừa học vừa làm,… các khoá học ngắn hạn cấp chứng chỉ,
hay các chương trình phối hợp đào tạo.
2.2.2. Chất lượng và hiệu quả đào tạo
Việc tổ chức các hoạt động đào tạo được Nhà trường triển khai đúng quy chế, với phương thức mềm
dẻo, phát huy được tính tích cực của người học, hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện. Phương
11
thức tổ chức đào tạo và đánh giá chất lượng đào tạo luôn được Nhà trường quan tâm, được đa dạng hoá phù
hợp với đặc thù từng chuyên ngành đào tạo.
Với đội ngũ giảng viên nhiều kinh nghiệm, tâm huyết, có trình độ chuyên môn tốt, cùng với đội ngũ
quản lý có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao đã góp phần từng bước nâng cao chất lượng
đào tạo của Nhà trường.
Nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày càng có hiệu quả do được cải tiến về cách thức tổ chức với
sự gia tăng vai trò của tổ chức Đoàn, Hội và nhóm ngành.
2.3. Đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất sư phạm của Trường
2.3.1. Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Lực lượng cán bộ của Trường ngày càng được trẻ hoá, đảm bảo được yêu cầu về chuyên môn. Đội
ngũ cán bộ giảng dạy của Trường có kinh nghiệm cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
thiếu tính tích cực, tự giác, có đến 67.5% sinh viên công nhận điều này là đúng. Kết quả cho thấy sinh viên
coi việc học tập là phương tiện chứ không phải mục đích như học lấy điểm cao, học để đạt học bổng, học để
không phải thi lại, học để đối phó, Có đến 59% sinh viên đều cho rằng tính chủ động của sinh viên trong
học tập còn thấp, có đến 61% số sinh viên không có thói quen tự học, chuẩn bị bài trước khi lên lớp.
Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, yêu cầu sinh viên phải có sự kết hợp chặt chẽ với nhau,
chủ động tìm tòi và học nhóm để tăng thêm hiệu quả học tập.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, theo ý kiến của nhiều sinh viên và giảng viên thì có
thể bởi các yếu tố như sau:
Thứ nhất, môi trường học tập ở bậc phổ thông khác xa với môi trường học tập ở bậc đại học.
Thứ hai, đó là tâm lý e ngại, không tự tin của sinh viên, vì vậy trong giờ học sinh viên ít khi phát
biểu, thể hiện quan điểm riêng của mình mà chỉ thụ động ngồi nghe và chép.
Tóm lại, nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là công tự
học của người học trò. Tự học ở đây chỉ phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học. Vai trò quyết
định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy
không phải không quan trọng.
2.5.1.2. Những yếu tố tác động đến hoạt động tự học
Tính hiệu quả của quá trình nhận thức về hoạt động tự học của sinh viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
phương pháp giảng dạy của giảng viên và cách kiểm tra đánh giá, chương trình học, sự nỗ lực của người học
và cơ sở vật chất của trường đại học. Trong các yếu tố này, phương pháp giảng dạy của giảng viên đóng vai
trò quan trọng hàng đầu trong việc định hướng ý thức tự học của sinh viên. Để thực hiện được phương pháp
giảng dạy tích cực, giảng viên phải bỏ ra nhiều công sức hơn, cả trí và lực. Cụ thể:
- Giảng viên cần liên tục nghiên cứu, cập nhật các kiến thức mới vì chỉ có vững vàng về chuyên môn
thì giảng viên mới giải đáp thỏa đáng các câu hỏi, thắc mắc của sinh viên, hướng dẫn sinh viên thực hiện các
tiểu luận, đề án, thảo luận về các vấn đề liên quan đến môn học và không xa rời thực tế.
- Ngay buổi lên lớp đầu tiên của môn học, giảng viên cần giới thiệu cho sinh viên biết đề cương của
môn học bao gồm các nội dung như: mục tiêu, nội dung, điều kiện tiên quyết, các tài liệu bắt buộc và tham
khảo cho từng chương mục, kế hoạch nghiên cứu, cách đánh giá quá trình học tập.
- Giảng viên cần có kỹ năng sử dụng tốt các phương tiện trợ giảng để làm buổi giảng sinh động hơn
và gây hứng thú cho người học.
- Giảng viên chủ động phát tài liệu bài giảng cho sinh viên, để sinh viên giảm bớt khâu ghi chép và dành
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá thường xuyên gắn với đánh giá nội dung tự học của sinh viên.
Nhìn chung, các đơn vị đã triển khai, thực hiện đầy đủ, thường xuyên ở một số nội dung quản lý,
giữa các đơn vị có sự phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc triển khai các nhiệm vụ của một số
đơn vị còn chậm, đôi khi còn lúng túng, thiếu nhất quán.
2.5.2.2. Cơ chế tổ chức quản lý hoạt động tự học
Để thực hiện quản lý hoạt động đào tạo của Nhà trường nói chung cũng như quản lý hoạt động tự
học của sinh viên nói riêng, Nhà trường thực hiện cơ chế quản lý như sau:
* Nhà trường
* Các Khoa
* Bộ môn
2.5.2.3. Các nội dung quản lý đã thực hiện
Quy chế đào tạo theo phương thức đào tạo học chế tín chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của
Trường Đại học An Giang khi áp dụng vào thực tế vẫn còn có những điểm chưa cụ thể, hoặc chưa phù hợp,
14
Nhà trường đã chủ động xây dựng các văn bản hướng dẫn nhằm cụ thể hoá các điều khoản cho phù hợp với
điều kiện thực tế của Trường.
- Đối với sinh viên, ngay từ đầu khoá học đã được tham gia các lớp học định hướng, được giới thiệu
về chương trình đào tạo, được tư vấn về cách thức, phương pháp học tập phù hợp với phương thức đào tạo
theo tín chỉ, được tập huấn sử dụng Internet. Mỗi sinh viên được cấp một tài khoản và Sổ tay sinh viên.
- Đối với giảng viên, Nhà trường đã tổ chức quán triệt và yêu cầu giáo viên thực hiện những công
việc.
- Tổ chức dự giờ và lấy ý kiến đánh giá của sinh viên đối với việc giảng dạy của giảng viên cũng
được Trường tổ chức thường xuyên.
- Nhà trường đã xây dựng quy định việc đánh giá kết quả điểm môn học của sinh viên bao gồm điểm
đánh giá thường xuyên.
- Nhà trường đã bước đầu thực hiện điều chỉnh lại một số chức năng nhân lực của một số phòng
ban.
- Về cơ sở vật chất, Nhà trường đã tiến hành chỉnh trang lại bàn ghế các giảng đường và các
trang thiết bị cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, quản lý và học tập, mua thêm một số trang thiết bị hỗ trợ
và tạo lập mạng điện tử cho hệ thống phần mềm quản lý đào tạo.
quan hệ thống như thế thì biện pháp đề xuất mới phù hợp và quan trọng hơn nữa là mới có khả năng thực
hiện và áp dụng.
3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn
Trên cơ sở điều kiện vật chất, khả năng tài chính, nguồn nhân lực hiện có, khả năng và trình độ sinh
viên, Nhà trường sẽ tiến hành thực hiện từng bước để thuận tiện và kịp thời điều chỉnh, bổ sung. Nguyên tắc
thực tiễn này đòi hỏi các biện pháp đề xuất phải là những biện pháp phù hợp với nhu cầu thật sự, giải quyết
được những khó khăn, trở ngại thuộc về hiện trạng. Do đó, biện pháp tác giả đề xuất có thể chỉ phù hợp trong
một thời điểm nhất định trong điều kiện thực tế tại Trường.
3.1.3. Nguyên tắc tính hiệu quả
Những biện pháp nêu ra nhằm vào việc từng bước cải tiến chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự
học trong sinh viên hiện nay. Xuất hiện từ nguyên tắc tính hiệu quả, những biện pháp đề xuất cần mang lại
hiệu quả trong hoàn cảnh cụ thể và trong thời điểm nhất định.
3.2. Đề xuất các nhóm biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học An
Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
3.2.1. Nhóm biện pháp 1. Giáo dục động cơ, thái độ học tập đúng đắn và ý chí tự học cho sinh
viên
3.2.1.1. Mục đích - ý nghĩa
Hoạt động tự học của sinh viên chỉ đạt được hiệu quả cao khi sinh viên tự nhận thức được mục tiêu
hoạt động của mình. Chính vì vậy, sinh viên cần phải có nhận thức đúng đắn, có ý chí, có động cơ cụ thể về
hoạt động tự học của mình.
Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng động cơ, ý chí tự học cho sinh viên khi chuyển đổi phương thức đào
tạo theo tín chỉ một mặt vừa nhằm giúp cho sinh viên có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn hơn về hoạt động tự học,
một mặt nhằm định hướng cho sinh viên thay đổi thói quen, thay đổi cách tư duy đối phó, ỷ lại, góp phần đào
16
tạo những con người có khả năng tự học tập, tự thích ứng với sự thay đổi, biến động không ngừng của đời
sống.
3.2.1.2. Nội dung biện pháp và cách thức thực hiện
- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giúp sinh viên nhận thức đúng đắn về đường lối
chính sách của Đảng đối với vai trò, nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo; vị trí, vai trò và tầm quan trọng của
việc tự học với xã hội nói chung và đối với người học nói riêng
- Kiểm tra, đánh giá kỹ năng xây dựng kế hoạch học tập, đôn đốc sinh viên thực hiện kế hoạch
học tập.
17
Có thể nói, kiểm tra, đánh giá kỹ năng xây dựng kế hoạch học tập, đôn đốc sinh viên thực hiện kế
hoạch học tập vừa là một biện pháp quản lý, vừa là một phương thức hỗ trợ sinh viên trong hoạt động tự học.
3.2.3. Nhóm biện pháp 3. Tổ chức cho giảng viên có điều kiện thuận lợi thực hiện hoạt động
giảng dạy theo học chế tín chỉ và hướng dẫn có hiệu quả cho sinh viên trong hoạt động tự học theo học
chế tín chỉ
3.2.3.1. Mục đích - ý nghĩa
Trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, vai trò của giảng viên không những không bị giảm
sút mà lại càng có vị trí quan trọng hơn bao giờ hết. Có thể ví giảng viên vừa là người thuyền trưởng, vừa là
người hoa tiêu dẫn dắt con tàu cùng với thủy thủ đoàn sinh viên đi trên đại dương mênh mông với muôn vàn
luồng lạch, đá ngầm, vực xoáy. Hướng dẫn có hiệu quả cho sinh viên trong hoạt động tự học là một công
việc có tầm quan trọng đặc biệt của giảng viên. Một mặt, vừa giúp sinh viên biết cách tiếp cận, khai thác có
hiệu quả nguồn học liệu có được; mặt khác, đảm bảo cho sinh viên không đi lệch mục tiêu nhận thức. Chỉ
đạo giảng viên thực hiện tốt công việc này là điều kiện đảm bảo cho Nhà trường thực hiện đúng mục tiêu, sứ
mạng của mình đồng thời đảm bảo cho sinh viên có được sự hướng dẫn đúng đắn và kịp thời trong hoạt động
để đạt được mục tiêu tự học.
3.2.3.2. Nội dung biện pháp và cách thức thực hiện
- Xác định nhiệm vụ, trách nhiệm của giảng viên trong việc hướng dẫn sinh viên có hiệu quả trong
hoạt động tự học theo học chế tín chỉ.
Để làm tốt việc hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, giảng viên phải bồi dưỡng cho sinh viên
một số kỹ năng tự học như sau:
+ Cung cấp cho sinh viên một cách có hệ thống các tri thức cần thiết về cách tiến hành hoạt động
học tập và các hành động tự học.
+ Tổ chức cho sinh viên luyện tập các kỹ năng trong quá trình học tập.
+ Hướng dẫn sinh viên tự kiểm tra, đánh giá kỹ năng tự học của bản thân kết hợp với sự kiểm tra của
giảng viên giúp sinh viên điều chỉnh kỹ năng tự học của bản thân.
Về nội dung hoạt động tự học, giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên những nội dung như:
+ Các bước chuẩn bị cho hoạt động tự học.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, Trường cần phải có kế hoạch để tăng cường các điều kiện phục
vụ hoạt động dạy - học, đặc biệt các điều kiện phục vụ hoạt động tự học của sinh viên như:
+ Củng cố, nâng cấp và xây dựng mới hệ thống giảng đường, thư viện đảm bảo về số lượng, chất
lượng.
+ Xây dựng Thư viện điện tử hiện đại, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử cho phòng tư liệu của các
Khoa và Bộ môn thuộc Trường Đại học An Giang nhằm hiện đại hóa hệ thống phòng tư liệu hiện có. Tăng
cường khả năng khai thác và tiện ích cho người sử dụng.
+ Triển khai kế hoạch hợp tác với các cơ sở, hoàn thiện và nâng cấp hệ thống mạng thông tin nội bộ
để có thể hòa mạng giữa các đơn vị với nhau, với Thư viện Trường Đại học An Giang, thư viện các địa
phương và quốc tế.
+ Trong quy hoạch cơ sở mới 40ha sẽ xây dựng một Thư viện Trường với qui mô hiện đại đúng tiêu
chuẩn cấp khu vực và quốc tế.
Trong thời gian tới, Nhà trường cần tiếp tục tập trung đầu tư nhằm hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang
thiết bị để đáp ứng các hoạt động đào tạo của Trường như mở rộng phòng Internet, nâng cấp hệ thống mạng
truy cập Internet trong toàn Trường. Nhà trường sẽ xây dựng kế hoạch dài hạn nhằm tăng cường đầu tư thiết
bị cho các phòng học. Tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng sử dụng các thiết bị hiện đại cho cán bộ và giảng
viên.
Nói đến các điều kiện phục vụ không thể không đề cập đến văn hóa phục vụ, điều mà trước đến nay
thường ít được quan tâm đúng mức. Văn hóa phục vụ là một vấn đề khá rộng lớn, trong phạm vi biện pháp
19
tăng cường các điều kiện phục vụ cho hoạt động tự học của sinh viên, có hai nội dung cơ bản cần phải được
quan tâm và tổ chức thực hiện là cách thức và thái độ phục vụ.
- Thường xuyên tiến hành kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, bổ sung kịp thời đảm bảo đầy đủ cơ sở
vật chất cần thiết, phục vụ tốt nhất cho hoạt động tự học của sinh viên.
Có thể nói, biện pháp quản lý tăng cường các điều kiện phục vụ nhằm giúp giảng viên hướng dẫn
cho sinh viên tự học là một tổ hợp các biện pháp cụ thể vừa nhằm tạo ra một hệ thống các điều kiện vật chất
đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên, tổ chức khai thác có hiệu quả các điều kiện vật chất hiện có,
vừa nhằm xây dựng một môi trường tự học thân thiện, lành mạnh, có văn hóa cao đồng thời góp phần nâng
vào hình ảnh, vị thế của Nhà trường đối với sinh viên nói riêng và với toàn xã hội nói chung.
3.2.5. Nhóm biện pháp 5. Kịp thời kiểm tra, đánh giá thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên để
hiện tiêu cực từ phía giảng viên và các cán bộ quản lý của Nhà trường.
3.2.6. Nhóm biện pháp 6. Hoàn thiện công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận liên quan
hướng vào việc nâng cao kết quả hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ
3.2.6.1. Mục đích - ý nghĩa
Chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, không chỉ hoạt động dạy của các giảng
viên phải có sự thay đổi mà phương thức tổ chức quản lý cũng cần phải thay đổi. Các công việc quản lý hành
chính phục vụ cũng sẽ có sự thay đổi căn bản, theo hướng tăng lên về số lượng, phong phú, đa dạng về nội
dung và thường xuyên có sự biến động rất linh hoạt. Nó đòi hỏi phải có một đội ngũ quản lý và nhân viên
hành chính rất chuyên nghiệp. Phòng Đào tạo và các phòng ban liên quan khác có chức năng tư vấn, giúp
việc cho Ban Giám hiệu trong việc tổ chức, điều hành, quản lý công tác đào tạo của Nhà trường. Vấn đề
hoàn thiện công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận liên quan phục vụ cho mục tiêu nâng cao hoạt động tự
học của sinh viên theo học chế tín chỉ là đòi hỏi mang tính tất yếu. Bộ máy tổ chức và hoạt động của phòng
Đào tạo có ý nghĩa như là một trung tâm điều hành, tiếp nhận, kết nối, phối hợp các nhân tố, các quy trình,
xử lý các tình huống đảm bảo cho hoạt động tự học của sinh viên được diễn ra theo đúng các yêu cầu đã
được xác định vừa đồng thời đảm bảo thực hiện vai trò quản lý hành chính về các vấn đề liên quan đến hoạt
động giảng dạy và học tập trong Nhà trường.
3.2.6.2. Nội dung biện pháp và cách thức thực hiện
Để hoàn thành tốt chức trách, vai trò là trung tâm quản lý và điều phối hoạt động dạy và học trong
học chế tín chỉ, tổ chức và công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận liên quan cần có sự điều chỉnh, thay
đổi. Những nội dung cần phải tiến hành gồm:
- Xác định rõ mục tiêu, phương pháp quản lý, tổ chức hoạt động một cách khoa học, hợp lý.
- Khảo sát mô hình, đánh giá đầy đủ và chính xác năng lực hiện có để xây dựng kế hoạch thực hiện
công tác đảm bảo cho hoạt động tự học đạt được hiệu quả.
- Ban hành các văn bản quản lý, điều hành tương thích với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ,
đảm bảo tốt nhất cho hoạt động tự học của sinh viên.
Có thể nói, hoàn thiện công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận liên quan phục vụ cho mục tiêu
nâng cao hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ là biện pháp giữ vai trò then chốt, đảm bảo cho
quá trình quản lý, phục vụ được tiến hành đồng bộ, theo đúng trật tự xác định, dựa trên các quy phạm đảm
bảo tính thống nhất về mục tiêu, nhịp nhàng thuận lợi trong phối hợp, phục vụ tốt nhất cho hoạt động tự học
của sinh viên nhưng cũng đồng thời đảm bảo thực hiện các quy tắc, các chuẩn mực quản lý.
Biện pháp (4) tăng cường sự phối hợp giữa các Khoa, phòng ban chức năng, Thư viện trong Nhà
trường hỗ trợ cơ sở vật chất cho giảng viên hướng dẫn sinh viên tự học đáp ứng đào tạo theo học chế tín chỉ
và biện pháp (5) kịp thời kiểm tra, đánh giá thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên để thực hiện đào tạo theo
học chế tín chỉ có ý nghĩa then chốt đến thành công của công tác quản lý, trong đó, biện pháp (6) hoàn thiện
công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận liên quan hướng vào việc nâng cao kết quả hoạt động tự học của
sinh viên theo học chế tín chỉ là biện pháp làm cơ sở để thực hiện các biện pháp khác. Tuy nhiên, để biện
pháp này phát huy tác dụng cần phải có sự hỗ trợ của các biện pháp khác và ngược lại.
22
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Luận văn đưa ra cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động tự học của
sinh viên ở Trường Đại học An Giang.
- Đề tài đi sâu phân tích, làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan vấn đề hoạt động tự học nhằm
làm rõ sự tác động của quản lý đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo của Trường.
- Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở Trường Đại học An Giang hiện nay, từ mục
tiêu, cấp độ và cơ chế quản lý hoạt động tự học. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra 6
nhóm biện pháp mang tính khả thi nhằm quản lý hoạt động tự học của sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo
theo học chế tín chỉ, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, các biện pháp đó là:
Nhóm biện pháp 1. Giáo dục động cơ, thái độ học tập đúng đắn và ý chí tự học cho sinh viên.
Nhóm biện pháp 2. Tăng cường giúp đỡ sinh viên xây dựng kế hoạch tự học bám sát vào sự đổi mới
quy trình đào tạo theo học chế tín chỉ.
Nhóm biện pháp 3. Tổ chức cho giảng viên có điều kiện thuận lợi thực hiện hoạt động giảng dạy
theo học chế tín chỉ và hướng dẫn có hiệu quả cho sinh viên trong hoạt động tự học theo học chế tín chỉ.
Nhóm biện pháp 4. Tăng cường sự phối hợp giữa các Khoa, phòng ban chức năng, Thư viện trong
Nhà trường hỗ trợ cơ sở vật chất cho giảng viên hướng dẫn sinh viên tự học đáp ứng đào tạo theo học chế tín
chỉ.
Nhóm biện pháp 5. Kịp thời kiểm tra, đánh giá thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên để thực hiện
đào tạo theo học chế tín chỉ.
Nhóm biện pháp 6. Hoàn thiện công tác của phòng Đào tạo và các bộ phận liên quan hướng vào việc
nâng cao kết quả hoạt động tự học của sinh viên theo học chế tín chỉ.
tính tích cực của sinh viên trong học tập.
- Tiếp tục đầu tư trang thiết bị cho các phòng thực hành, phòng bộ môn; khai thác công suất sử dụng
tài liệu giáo trình và việc đáp ứng phục vụ của thư viện để nâng cao nhận thức và hứng thú học tập cho sinh
viên, tạo điều kiện để giảng viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, thường xuyên cập nhật, bổ
sung nguồn học liệu, tài liệu tham khảo.
- Nghiên cứu cải tiến quy chế thi, kiểm tra theo hướng bồi dưỡng phương pháp tự học; mở rộng
quyền hạn đánh giá của giảng viên.
- Tạo điều kiện cho giảng viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực thực hiện tốt các nhiệm vụ
quản lý nhằm đẩy mạnh hoạt động tự học của sinh viên.
- Nghiên cứu cải tiến quy trình thực hiện chương trình dạy học ở tất cả các môn học; bố trí hợp lý
quỹ thời gian dành cho hoạt động tự học của sinh viên nhằm xây dựng phong trào tự học.
- Xem xét, đưa ra các hình thức sinh hoạt đoàn thể phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
phẩm chất đạo đức cho sinh viên của Trường.
- Xây dựng phong trào tự học rộng khắp trong sinh viên, tổ chức nhiều hình thức thi đua khen
thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân xuất sắc trong việc áp dụng tự học hiệu quả, góp phần cho sinh
viên nhanh chóng tiếp cận, quen dần với việc tự học theo học chế tín chỉ.
- Tăng cường công tác tự kiểm tra trong nội bộ đối với mọi mặt công tác của Nhà trường, nhất là đối
với việc tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý đã nêu ở phần 3.1.
Tóm lại, các biện pháp đề xuất trong luận văn của tác giả mang tính thời sự, tính thực tiễn rõ rệt. Do
vậy, trong thời gian tới, nếu được và có thể, tác giả tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm để làm sáng tỏ các quy
trình thực hiện góp phần tác động có hiệu quả vào quá trình tự học của sinh viên Trường Đại học An Giang
đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ, đẩy mạnh và đồng bộ trong đào tạo nguồn nhân lực của nền
giáo dục đại học Việt Nam.
24