MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN Doanh nghiệp
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
NNT Người nộp thuế
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
GTGT Giá trị gia tăng
TKTN Tự khai tự nộp
MST Mã số thuế
NSNN Ngân sách Nhà nước
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua thực hiện công tác đổi mới do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo, cùng với sự tăng trưởng, phát triển không ngừng của nền
kinh tế xã hội, nguồn thu từ thuế có vai trò rất quan trọng. Mỗi quốc gia thu
thuế là nguồn thu chủ yếu, đây là biện pháp động viên bắt buộc của các thể
nhân và các pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động,
do đầu tư tài chính mang lại nộp vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu
cầu chi tiêu của đất nước.
Để làm tốt điều này ngoài việc tăng cường quản lý còn phải tập trung
chú trọng đến công tác thanh tra, kiểm tra. Đây là nhiệm vụ quan trọng không
thể thiếu được trong công tác thuế. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm các chính
sách, chế độ, luật thuế như khai man, trốn lậu thuế, chây ỳ, chậm nộp thuế
vẫn diễn ra thường xuyên và ngày càng tinh vi hơn ở các đối tượng nộp thuế.
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng thiết yếu của quản
lý thuế. Tính hiệu qủa của thanh tra, kiểm tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến
hiệu quả của quản lý thuế. Đặc biệt trong bối cảnh áp dụng cơ chế cơ sở kinh
doanh tự kê khai, tự nộp thuế theo luật quản lý thuế, công tác thanh tra, kiểm
năm 2008.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Đề tài tiến hành đánh giá, tổng kết thực tiễn và khuyến nghị những giải
pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện áp dụng cơ
2
chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế. Do vậy, đây được coi là một tài liệu tham
khảo để các nhà quản lý tham khảo vận dụng trong thực tiễn quản lý thuế.
Nghiên cứu đề tài này còn tạo điều kiện và cơ hội để các đồng nghiệp,
học viên, sinh viên tiếp cận thực tiễn, nâng cao kiến thức chuyên môn, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng công tác và nghiên cứu khoa học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp, diễn giải quy
nạp, so sánh, …
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu số liệu. Nội dung chính
của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế.
Chương 2.
Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Cục
thuế thành phố Hà Nội.
Chương 3. Giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp
thuế ở Cục thuế thành phố Hà Nội.
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
1.1 Tổng quan về thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế
1.1.1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn, kiểm tra là
“xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [ tr.253]. Theo Đại từ điển
cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận
đúng, sai, đánh giá ưu khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế,
phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế.
Giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế tồn tại mối quan hệ sau:
Thanh tra thuế cũng là một hoạt động của kiểm tra thuế nên thanh tra
thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau:
- Thanh tra kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý
thuế, đều có cùng một mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm
pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế,
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân.
- Chủ thể kiểm tra thuế, thanh tra thuế là cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế.
- Đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và các đơn vị trọng nội bộ ngành thuế.
- Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế.
- Về phương pháp, kiểm tra thanh tra thuế đều phải xem xét hoạt động
thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng
5
một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có
biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm.
- Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai
đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai
đoạn của quản lý thuế.
Tuy nhiên giữa thanh tra và kiểm tra thuế cũng có sự khác nhau nhất định:
- Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng
thanh tra thuế nhưng chủ thể của kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc
đồng nhất với đối tượng kiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể
kiểm tra và đối tượng kiểm tra là đồng nhất.
- Thứ hai, tính chất của thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền
sung, sửa đổi xác lập căn cứ cải tiến hệ thống tổ chức, đổi mới công tác thu
thuế nhằm đạt hiệu quả cao.
+ Điều tra xác minh, làm sáng tỏ những vấn đề mà dư luận xã hội quan
tâm, đơn thư tố giác của quần chúng nhân dân.
- Yêu cầu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính pháp lý cao,, liên quan đến
lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội. Vì vậy, công tác
thanh tra kiểm tra đòi hỏi phải đảm bảo yêu cầu:
+ Thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính chính xác, khách quan trung
thực, xử lý đúng tội, không bao che, không quy chụp cho các đối tượng được
thanh tra kiểm tra đảm bảo sự tin tưởng của quần chúng nhân dân.
+ Thanh tra, kiểm tra thuế phải dựa vào pháp luật và chỉ tuân thủ theo
pháp luật, phải coi pháp luật là cơ sở pháp lý, là chuẩn mực để kết luận vấn
đề, tránh biểu hiện chủ quan, tuỳ tiện trong công tác xử lý.
7
+ Thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ kịp thời, tạo
điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia đóng góp ý kiến.
1.1.3. Nguyên tắc hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
- Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá
nhân trước pháp luật
Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan
trọng nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.
Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình Thanh tra,
kiểm tra thuế chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Mọi hành vi lạm quyền
hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ
quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý.
Thực hiện nguyên tắc này chủ thể thanh tra (cơ quan, đoàn thanh tra và
các thành viên) khi thực hiện nhiệm vụ Thanh tra, kiểm tra phải căn cứ vào
các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề Thanh tra,
Thanh tra, kiểm tra.
Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng Thanh tra, kiểm tra được
trình bày ý kiến, quan điểm về những nội dung Thanh tra, kiểm tra cũng như
về hoạt động của đoàn Thanh tra, kiểm tra cụ thể, tránh tình trạng áp đặt của
chủ thể Thanh tra, kiểm tra.
Tính kịp thời: Hoạt động Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm phục vụ các mục
tiêu quản lý thuế trong những thời điểm nhất định. Vì vậy, Thanh tra, kiểm tra
kịp thời ngoài việc giúp cho đối tượng kịp thời nhận rõ sai phạm để sửa chữa,
khắc phục ngay, tránh vi phạm kéo dài còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và
9
sửa đổi cơ chế, chính sách phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế.
Mặt khác tính kịp thời còn đảm bảo cuộc Thanh tra, kiểm tra có biên bản, kết
luận đúng thời hạn luật định, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài thời gian công
bố kết luận thanh tra, kiểm tra.
- Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra,
kiểm tra.
Hoạt động Thanh tra, kiểm tra thuế là “vấn đề hết sức nhạy cảm” và
trong những năm gần đây, vấn đề quyền và những bảo đảm thực hiện quyền
của đối tượng nộp thuế được đặc biệt quan tâm, việc cơ quan chức năng tổ
chức tiến hành kiểm tra, thanh tra tại cơ sơ kinh doanh là cần thiết nhưng ít
nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng bị thanh tra, kiểm tra.
Tình trạng kéo dài, dây dưa, không công bố kết luận Thanh tra, kiểm tra có
lúc, có nơi vẫn còn tồn tại. Mặt khác, do việc phân cấp quản lý và do đó sẽ có
thể phát sinh nhiều đoàn Thanh tra, kiểm tra đối tượng cùng thời điểm hoặc
trong một thời gian ngắn.
Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc kiểm tra, thanh tra
chồng chéo của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường
của đối tượng được thanh tra, kiểm tra, đảm bảo về cùng một nội dung, trong
một năm đối tượng chỉ bị thanh tra, kiểm tra một lần. Cùng với việc thực hiện
tốt nguyên tắc kịp thời trong hoạt động Thanh tra, kiểm tra, nguyên tắc này
1.2.1. Nội dung thanh tra, kiểm tra
Nội dung kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế tập trung vào những vấn
đề chủ yếu sau:
- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế.
Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng
kinh doanh. Mục tiêu của việc kê khai, đăng ký thuế nhằm giúp cho cơ quan
11
quản lý thuế quản lý chặt chẽ ĐTNT ngay từ khi bắt đầu hoạt động; quản lý
hồ sơ ĐTNT để lưu giữ, tra cứu, kiểm tra khi cần thiết.
Căn cứ vào số liệu tổng hợp về đăng ký kinh doanh, đăng ký kê khai,
nộp thuế cơ quan thuế phối hợp với các ngành có liên quan để chuẩn bị điều
kiện vật chất phụ vụ tốt công tác quản lý đối với cơ sở kinh doanh theo đúng
luật thuế. Xác định những đối tượng còn sót chưa đăng ký kinh doanh hoặc
chưa đăng ký thuế.
Nội dung kiểm tra đăng ký thuế là xem xét trên từng địa bàn, trong từng
loại ngnàh nghề có bao nhiêu đơn vị thực tế có hoạt động kinh doanh, số lượng
đơn vị đăng ký và chưa kê khai đăng ký thuế và cơ sở kinh doanh đã đăng ký
có làm đúng những quy định về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế không.
Đối với mỗi cơ sở kinh doanh khi kiểm tra cần đi sâu xem xét tính pháp
lý của đăng ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai
trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm, ngành nghề kinh
doanh, thời gian thực tế kinh doanh… nhằm phát hiện và xử lý những gian lận
trong kê khai đăng ký thuế. Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong
đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản
lý thu thuế, để tránh bỏ sót đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, bỏ sót
nguồn thu
- Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ.
Việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ có liên quan mật thiết
đến việc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của Nhà nước. Nội dung
thanh tra, kiểm tra này bao gồm: thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện
của các luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng ngân
sách nhà nước không, có nợ đọng thuế không. Đặc biệt chú trọng đến những
13
cơ sở có biểu hiện vi phạm nhiều lần, với số lượng lớn nhằm giảm thiểu tối đa
khả năng thất thoát tiền thuế của Nhà nước. Để đạt được yêu cầu trên, cần đối
chiếu thời gian nộp thuế theo quy định của các luật thuế với thời gian nộp
thuế của cơ sở kinh doanh qua các chứng từ nộp thuế như giấy nộp tiền vào
kho bạc, biên lai thuế.
Như vậy, việc thanh tra, kiểm tra ĐTNT là công việc mang tính tổng hợp
cao, đòi hỏi cán bộ thanh tra, kiểm tra phải nắm vững các văn bản pháp luật
thuế, thông thạo nghiệp vụ kế toán, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh
tế xã hội khác.
1.2.2. Phương pháp thanh tra, kiểm tra
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong qúa trình thanh tra,
kiểm tra thuế. Nội dung của phương pháp này là thực hiện việc so sánh, đối
chiếu nội dung cần thanh tra, kiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để
đánh giá, xem xét nội dung cần thanh tra, kiểm tra thuế.
- Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết
Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán. Theo phương
pháp này, trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết.
Việc kiểm tra tổng hợp nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định
hướng những nội dung cần đi sâu kiểm tra (kiểm tra chi tiết).
- Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc
Có ba phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:
+ Kiểm tra theo trình tự thời gian là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc
đã được sắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh. Phương pháp này mất nhiều
thời gian và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng.
+ Kiểm tra theo loại nghiệp vụ là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã
được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu, chi
hoạch năm; Tỷ lệ thanh tra, kiểm tra hàng năm so với tổng số đối tượng thanh
tra, kiểm tra…
+ Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua thanh tra, kiểm tra:
Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạp pháp
luật thuế/tổng số đối tượng thanh tra, kiểm tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua
thanh tra, kiểm tra; Số tiền truy thu bình quân/đối tượng thanh tra, kiểm tra.
+ Chi phí vật chất và thời gian cho thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí
này thường dự vào các chỉ tiêu như: Thời gian bình quân cho 1 cuộc thanh tra,
kiểm tra; Số đối tượng được thanh tra, kiểm tra bình quân/thanh tra viên hàng
năm; chi phí bằng tiền trực tiếp cho thanh tra, kiểm tra;…
+ Hiệu qủa trực tiếp của thanh tra, kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường
dựa vào các chỉ tiêu như: Chi phí thanh tra, kiểm tra so với số thuế truy thu
được đã nộp NSNN; Tỷ lệ giữ nguyên, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định truy
thu thuế theo biên bản thanh tra, kiểm tra thuế khi giải quyết khiếu nại của đối
tượng thanh tra, kiểm tra; Tỷ lệ các trường hợp đối tượng thanh tra, kiểm tra
chấp nhận hoàn toàn kết luận thanh tra, kiểm tra; Tỷ lệ số thuế truy thu được
nộp vào NSNN/Tổng số thuế truy thu…
Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực
tế đa số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu qủa kinh tế của công tác
thanh tra, kiểm tra. Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh
giá chính xác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh
giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ
của từng khâu công tác.
- Các chỉ tiêu định tính:
Các chỉ tiêu định tính thường là hệ qủa của công tác thanh tra, kiểm tra
mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được. Đó thường là những hiệu qủa
có tính xã hội, chính trị như:
16
+ Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế. Tiêu chí này có thể
đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuận thủ pháp luật thuế của đối tượng
trang bị cơ sỏ vật chất kỹ thuật hiện đại như: máy móc, thiết bị, hệ thống ứng
dụng tin học hiện đại tích hợp đầy đủ các thông tin về từng người nộp thuế
nói riêng và các thông tin ngành nói chung…cũng hỗ trợ cho công tác thanh
tra, kiểm tra thuế được tiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu qủa cao
hơn. Số lượng người nộp thuế ngày càng tăng sẽ là một thách thức không nhỏ
đến công tác thanh tra, kiểm tra. Bởi cùng với sự gia tăng về số lượng sẽ là sự
đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèm
theo đó là sự phức tạp, tinh vi hơn về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của
người nộp thuế. Nếu không chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ (pháp
lý, nhân lực, vật lực…), cơ quan quản lý thuế, nhất là bộ phận thanh tra, kiểm
tra sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát hiện và xử lý kịp thời các vụ
gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước.
Trình độ dân trí càng cao, sự hiểu biết về pháp luật thuế cũng như ý
thức tự tuân thủ của người nộp thuế ngày càng đựơc cải thiện, bởi họ hiểu rõ
quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh. Điều này ảnh hưởng lớn tới hiệu qủa các cuộc thanh tra, kiểm tra
thuế. Ngược lại, cũng vị sự hiểu biết về pháp luật thuế mà khả năng, thủ đoạn
trốn, tránh thuế của người nộp thuế ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây khó
khăn cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế trong việc phát hiện ra các gian lận,
giảm hiệu qủa thanh tra, kiểm tra thuế.
1.3.2. Mô hình quản lý thuế
Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan đồng thời cũng là một phạm trù
lịch sử, thuế xuất hiện tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của nhà nước,
18
với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ. Thuế luôn gắn chặt với sự phát
triển của nhà nước, sự thay đổi hình thái tổ chức nhà nước luôn kéo theo sự
cải biến của hệ thống thuế. Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu từ
thuế vào ngân sách đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước phải
tổ chức việc quản lý thuế.
Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại
quan thuế không có sự liên kết nào nên hiện tượng thông đồng để trốn thuế
giữa ĐTNT và cán bộ thanh tra thuế khó phát hiện nếu các thủ tục kiểm tra
nội bộ thiếu chặt chẽ và việc kiểm tra không được tổ chức thường xuyên.
Đồng thơi, trình độ chuyên môn của cán bộ thanh tra thuế không được toàn
diện do kỹ năng của họ là một sắc thuế. Do vậy, hiệu quả của công tác thanh
tra, kiểm tra thuế không cao.
- Mô hình quản lý thu theo chức năng
Theo mô hình này, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo các nhóm
chức năng, mỗi bộ phận thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên
quan đến tất cả các sắc thuế như: Đăng ký thuế, Xử lý tờ khai thuế và Kế toán
thuế, Thanh tra thuế, Kiểm tra thuế, Thu nợ…) Quản lý theo mô hình này cho
phép cơ quan thuế chuẩn hóa mạnh hơn về quy trình thủ tục làm việc đối với
các loại thuế, đơn giản hóa hệ thống tin học và giao tiếp với đối tượng nộp
thuế, đồng thời nâng cao hiệu quả chung của ngành.
Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi về ĐTNT và tạo sự kiểm tra
chéo giữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên
giảm nguy cơ gian lận thuế, thất thu thuế bởi bất kỳ sự thông đồng nào giữa
ĐTNT và cán bộ thuế. Đồng thời khắc phục được sự trùng lắp về chức năng
thanh tra giữa các phòng ban theo mô hình quản lý thu theo sắc thuế và góp
20
phần nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ thanh tra, kiểm tra
thuế. Tuy nhiên, do thông tin về ĐTNT bị phân tán nên khi cần thông tin đầy
đủ về ĐTNT để tiến hành thanh tra, kiểm tra phải mất nhiều thời gian để tổng
hợp thông tin từ các phòng, ban chức năng khác nhau làm ảnh hưởng không
nhỏ đến kết quả thanh tra, kiểm tra.
- Mô hình quản lý thu theo ĐTNT
Đây là mô hình đang được áp dụng tại một số nước phát triển. Theo mô
hình này, ĐTNT được phân loại để quản lý theo nhóm trên cơ sở đặc điểm và
mực độ tuân thủ pháp luật thúê của ĐTNT. Do đặc điểm và mức độ tuân thủ
pháp luật thuế của mỗi nhóm ĐTNT là khác nhau nên mỗi nhóm cũng có
các ĐTNT phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế
nhận tờ khai, kiểm tra và tính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho
ĐTNT. ĐTNT có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo thông báo vào kho
bạc nhà nước trong thời gian quy định. Cơ quan thuế kiểm tra, đối chiếu số
thuế mà ĐTNT đã nộp vào ngân sách với thông báo. Cơ chế này đảm bảo việc
tính toán chính xác số thuế phải nộp vào NSNN của các ĐTNT. Tuy nhiên, cơ
chế quản lý này có một số nhược điểm ảnh hưởng đến công tác thanh tra,
kiểm tra sau:
- Hiệu quả quản lý của cơ quan thuế thấp do phải làm thay các công việc
cho ĐTNT, không đủ điều kiện tập trung thời gian và công sức cho công việc
thanh tra, kiểm tra thuế…
- Dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực giữa cán bộ thanh tra thuế và ĐTNT, làm
thất thu ngân sách nhà nước.
- Trách nhiệm pháp lý của ĐTNT đối với tính chính xác của việc tính
22