tieu luan SP: chuan bi tamli cho tre khiem thinh 6 tuoi vao lop 1 - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo: Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu - Khoa tiểu học
Trường Đại học Sư phạm Huế, quý thầy cô giảng dạy lớp Đại học khoá 24 tại
Quảng Trị, các cô giáo và học sinh trường Khuyết tật Quảng Trị đã tạo điều kiện
thuận lợi để tôi hoàn thành tiểu luận nghiệp vụ sư phạm.
Do thời gian và khả năng có hạn không sao tránh khỏi thiếu sót rất mong
được sự đóng góp của thầy cô và các bạn.
Trần Kim Hoà.
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích - Ý nghĩa của đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1. Đối tượng 5
3.2 .Phạm vi nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Cấu trúc tiểu luận 6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Các khái niệm 7
1.1.1.Tâm lí là gì 7
1.1.2.Tâm lí sẵn sàng đến trường tiểu học 7
1.2.Vì sao cần chuẩn bị sẵn sàng vào trường tiểu học cho trẻ mẫu giáo 7
1.3.Các yêu cầu về mặt tâm lí người học sịnh lớp một cần phải có 8
1.4. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo lớn 9
1.5. Đặc điểm tâm lí của trẻ khiếm thính 5-6 tuổi 10
1.5.1. Khái niệm về Khuyết tật thính giác ( hearing impairment ) 10
1.5.2. Trẻ khuyết tật thính giác - đắc trưng tâm sinh lý và cuộc sống xã hội 11
1.5.3. Những đặc điểm cảm giác, tri giác của trẻ khuyết tật thính giác 12

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích - Ý nghĩa của đề tài:
Từ việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc chuẩn bị tâm lí sẵn
sàng vào trương tiểu học cho trẻ nói chung, cho trẻ khuyết tật thính giác nói riêng
nhằm phát huy tổi đa tiềm năng của trẻ góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức giáo
dục trong nhà trường tiểu hoc.Chúng tôi đề xuất một số biện pháp để trẻ khuyết tật
thính giác lứa tuổi mẫu giáo lớn có được tâm lí sẵn sàng vào học ở Trường Trẻ Em
Khuyết Tật Quảng Trị.
2. Lịch sử vấn đề:
Trẻ em là một bộ phận dân cư tồn tại khách quan trong xã hội loài người, kể
cả người khuyết tật. Tồn tại trong xã hội văn minh ngày nay trong tất cả các quốc
gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề này. Công ước của liên hợp quốc về
quyền trẻ em là một ví dụ tiêu biểu. Đây là văn bản quốc tế về trẻ em khá toàn diện
và hoàn hảo, mang tính pháp lí cao. Tính đến 1 – 7- 1998 đã có 191 quốc gia phê
chuẩn hoặc tham gia công ước 96. Căn cứ vào trình độ phát triển, phong tục tập
quán, mỗi quốc gia có cách giải quyết riêng vấn đề về người khuyết tật để đảm bảo
cho nhóm dân cư này được hoà nhập vào xã hội
[ ]
1
.Lúc sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại có một câu nói nổi tiếng: “ Tàn mà không phế”., đó cũng chính là thái
độ của Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam đối với bộ phận người tàn tật.
Việt Nam là một nước có số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ em bị khuyết
tật nói riêng khá lớn và đa dạng. Theo số liệu điều tra sơ bộ có khoảng gần 5 triệu
người khuyết tật, chiếm 5% dân số trong đó trẻ em dưới 15 tuổi bị khuyết tật chiếm
khoảng 1,2 đến 1,5 % dân số .
[ ]
2

Kế thừa truyền thống nhân ái tốt đẹp của dân tộc Việt Nam “ thương người

nước có hệ thống giáo dục đặc biệt phát triển. Tuy nhiên đây chưa phải là một giải
pháp tốt nhất và duy nhất để giải quyết vấn đề học tập cho trẻ khuyết tật. Trên thế
giới đã có nhiều nghiên cứu và thử nghiệm có hiệu quả về giáo dục trẻ khuyết tật
song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải xem xét và lí giải. Đây là vấn đề còn
mới mẻ dối với giáo dục Việt Nam. Chúng ta sẽ phát triển giáo dục trẻ khuyết tật
theo hướng nào? Trong báo cáo định hướng phát triển giáo dục cho trẻ khuyết tật
tại hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện nghị định 26/CP , Bộ GD- ĐT đã quyết định
giáo dục hoà nhập là hướng phát triển chính. Nếu lấy giáo dục hoà nhập là biện
pháp cơ bản để giải quyết vấn đề giáo dục cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam thì phải
biết tổ chức tốt tâm lí sănn sàng cho trẻ trước khi đến trường.
Trong lịch sử phát triển của giáo dục trẻ khuyết tật trên thế giới, giáo dục
cho nhóm trẻ khuyết tật thính giác luôn luôn tiên phong đi đầu trong các thử
nghiệm giáo dục và cũng là lĩnh vực phát triển mạnh nhất so với các lĩnh vực giáo
dục cho các nhóm trẻ khuyết tật khác. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này.
Giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật thính
giác nói riêng của Việt Nam có thể đi sau nhiều nước nhưng điều đó không thể cản
trở chúng ta có những bước phát triển nhảy vọt nếu chúng ta biết tổng kết và kế
thừa những thành tựu đã có, rút kinh nghiệm qua những thất bại trong quá khứ và
hiện tại để tìm được con đường phát triển một cách tối ưu trong điều kiện của riêng
mình. Với quan niệm như vậy thì giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật trong các
trường tiểu học có khả năng phát triển về lí luận cũng như về thực tiễn. Nếu mục
đích của hoà nhập mang đậm màu sắc nhân đạo thì các biện pháp tổ chức để hoà
nhập có hiệu quả là vấn đề mang tính hệ thống khoa học cần được nghiên cứu kĩ.
Trong phạm vi đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu các biện pháp tổ chức tâm lí cho
trẻ khuyết tật thính giác ở độ tuổi mẫu giáo. Vấn đề này vừa đáp ứng nhu cầu cấp
thiết trong thực tiễn giáo dục cho trẻ khuyết tật hiện nay, vừa góp một phần nhỏ về
lí thuyết giáo dục hoà nhập ở Việt Nam, làm cơ sở để phát triển các biện pháp phù
hợp trong các nhóm trẻ khuyết tật khác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng :

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 2: CHUẨN BỊ TÂM LÍ SẴN SÀNG ĐỂ TRẺ KHIẾM THÍNH
VÀO TRƯỜNG TIỂU HỌC - TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT QUẢNG TRỊ.
6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Các khái niệm:
1.1.1.Tâm lí là gì?
Trong cuộc sống hàng ngày , có rất nhiều người đã sử dụng thuật ngữ tâm
lí.Theo từ điển tiếng Việt (1988) thì tâm lí là ý nghĩ , tình cảm , làm thành đời
sống nội tâm của con người.
Lí luận và thực tiễn cũng đã chứng tỏ rằng tâm lí người là sự phản ánh hiện
thực khách quan, là chức năng của não,là kinh nghiệm xã hội lịch sử biến thành cái
riêng của mỗi người.Tâm lí người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử.
Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp thông qua các mối quan hệ và
xã hội. Tâm lí mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội,tiếp thu vốn kinh
nghiệm xã hội của người đó. Giáo dục là yếu tố giữ vai trò chủ đạo hoạt động của
con người trong xã hội có tính quyết định.
Tóm lại: Tâm lí người có nguồn gốc xã hội, vì thế muốn hiểu tâm lí người
thì cần phải nghiên cứu môi trường xã hội, nền văn hoá xã hội, các quan hệ xã hội
trong đó con người sống và hoạt động. Để phát triển tâm lí thì cần phải tổ chức có
hiệu quả hoạt đông dạy học và giáo dục, đặc biệt là các hoạt động chủ đạo ở từng
giai đoạn lứa tuổi.
1.1.2.Tâm lí sẵn sàng đến trường tiểu học
Sẵn sàng là trạng thái chủ động trong hành động có hiệu quả cao do đã được chuẩn
bị đầy đủ từ trước. Tâm lí sẵn sàng vào trường tiểu học nghĩa là tâm thế, trạng thái
tâm lí tích cực, chủ động, tự tin tham gia vào hoạt động học tập ở trừơng tiểu học.
1.2.Vì sao cần chuẩn bị sẵn sàng vào trường tiểu học cho trẻ mẫu giáo?
Đến 6 tuổi , bất cứ một em bé nào phát triển bình thường đều có thể đi học
được. Đối với trẻ em việc đến trường phổ thông được coi như một bước ngoặt quan

tốt đẹp.
Đến trường tiểu học, trẻ còn phải hoà nhập những quan hệ xã hội mới với
những người xung quanh, với bạn bè, với những người khác, đặc biệt là thầy cô
giáo. Trước đây ở trường mẫu giáo “cô là mẹ và các cháu là con”, trẻ được sống
trong không khí gia đình thì giờ đây trẻ được sống trong một khung cảnh trường
học với bao mối quan hệ mới, khác về thể chất: mối quan hệ của trẻ với cô giáo,
thầy giáo đầy tính xã hội và trách nhiệm. Ngay cả mối quan hệ với bạn bây giờ
cũng khác trước, không còn sự tham gia của cô giáo khi trẻ vui vẻ hay xung đột mà
thay vào đó là tự điều chỉnh hành vi của bản thân khi cùng học, cùng chơi với bạn.
Có thể thấy, nếu không chuẩn bị cho trẻ thích ứng được thì không những việc học
tập không đạt kết quả mà cuộc sống của trẻ cũng sẽ trở nên nặng nề. Nhiều trường
hợp trẻ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, gây nhiều bất lợi cho những chặng
đường phát triển tiếp theo. Có cháu sợ đi học, có cháu đến trường chỉ là sự bắt
buộc hoặc chỉ là quấy phá nghịch ngợm. Nhữn biểu hiện đó không những mang lại
nỗi vất vả cho giáo viên tiểu học, các bậc cha mẹ mà còn ảnh hưởng đến tương lai
của trẻ.
1.3.Các yêu cầu về mặt tâm lí người học sịnh lớp một cần phải có:
Mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về mặt đạo đức, trí tuệ ,thể chất, thẩm
mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
- Những yêu cầu phát triển về mặt tâm lí trẻ 6 tuổi.
+ Trẻ có ý thức về hành vi của mình và của người khác, đồng thời biết đánh
giá đúng sai hành vi của mình hoặc của người khác ở mức độ thấp.
+ Về phẩm chất trí tuệ: được hội tụ bởi toàn bộ tri thức, vốn kinh nghiệm
của trẻ, bộc lộ qua hành vi thông minh của trẻ đối với đồ vật và mọi người xung
quanh. Vì vậy cần phải làm giàu vốn kinh nghiệm của trẻ và phát triển các phẩm
chất trí tuệ của trẻ. Giáo viên tạo ra những tình huống kích thích sự phát triển của
trẻ bằng cách giao việc thử tài rồi hướng dẫn trẻ giải quyết.
8
+ Về mặt chú ý có chủ định: trẻ có khả năng chú ý có chủ định cao từ 37-

. Làm quen với thế giới thực vật: trẻ biết quá trình phát triển cây, hoa, quả và
lợi ích của cây xanh
. Làm quen với thế giới động vật: trẻ so sánh, nhận xét sự giống và khác
nhau (về cấu tạo, sinh sản, hình dáng, thức ăn, nơi sống)
. Làm quen với một số hiên tượng thiên nhiên: trẻ biết đặc điểm của thời tiết
bốn mùa, thứ tự các mùa trong năm, mối liên hệ giữa thời tiết của mỗi mùa với
sinh hoạt của con người và sự phát triển của cây con, hoa quả.
Dạy trẻ phân biệt được bầu trời ban ngày hay ban đêm.
9
1.4. Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo lớn:
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi”mầm non”
là lứa tuổi trước khi đến trường tiểu học, ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lí đặc
trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là trong độ tuổi mẫu
giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục của người lớn, những chức
năng tâm lí đó sẽ được hoàn thiện một cách tốt đẹp về mọi phương diện của hoạt
động tâm lí (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những
nhân cách ban đầu của con người.
Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự ý thức còn được thể hiện rõ trong sự phát triển giới
tính của trẻ. Ở lứa tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn
biết rõ ràng nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù
hợp với giới tính của mình. Ở đây tấm gương của người lớn tác động rất mạnh đến
trẻ. Những trẻ trai thường bắt chước những cử chỉ hành vi của đàn ông, còn trẻ gái
thì bắt chước dáng điệu của đàn bà. Hiện tượng phản ánh trong trò chơi rất rõ:con
trai thường thích đóng vai công an, bộ đội, công nhân xây dựng, còn con gái thì
thích đóng vai cô giáo, bán hàng.
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng
ngôn ngữ. Điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh.
Từ những quá trình tâm lí không chủ định chuyển sang những quá trình tâm
lí có chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định Do sự xác định ý thức của
bản thân được rõ ràng chuyển dần sang quá trình tâm lí mang tính chủ định cao,

phát triển khác nhau. Đương nhiên là có sự tương ứng giữa tính đa dạng với mức
độ phát triển khác nhau. Giống như bước chuyển đổi từ tiếng bập bẹ sang lời nói
có sự biến đổi về chất từ dạng này sang dạng khác. Cũng như ngôn ngữ của trẻ
khiếm thính là những chức năng không giống với ngôn ngữ của trẻ bình thường về
chất lượng.
Bác sỹ tâm thần người Áo,A. Adler đã nhấn mạnh cảm giác về khuyết tật
cũng như cơ thể là kích thích thường xuyên đối với các nhân, làm cho cá nhân phát
triển tâm lý. Nếu như ở một cơ thể nào đó do không hoàn hảo về hình thái học và
chức năng nên không thể hoàn thành các nhiệm vụ của mình một cách đầy đủ, thì
hệ thần kinh cấp cao và cơ cấu tâm lý của nó sẽ đặt ra nhiệm vụ bù đắp những chức
năng gặp khó khăn của cơ thể. Chúng tạo ra sự đổi mới về tâm lý ở những chức
năng hay cơ quan kém và bị đe dọa này. Trong khi tiếp xúc với môi trường bên
ngoài, mâu thuẫn xuất hiện do sự không phù hợp giữa những bộ phận bị khuyêt tật
với nhiệm vụ được đặt ra cho nó. Điều đó dẫn tới việc khả năng bị bệnh và có thể
chết. Mâu thuẫn này làm tăng khả năng và kích thích quá trình bù trừ. Do đó điểm
khuyết tật trở thành điểm xuất phát và động lực chính cho sự phát triển tâm lý.
Điều quan trọng nhất là bên cạnh khuyết tật về cơ thể còn xuất hiện sức
mạnh, xu hướng và mong muốn vượt qua được nó. Đây chính là xu hướng tăng
cường sự phát triển mà tật học trước đây không thừa nhận. Hơn thế nữa những xu
hướng này đã tạo ra sự đa dạng trong quá trình phát triển của trẻ khuyết tật. Chúng
tạo ra những hình thức phát triển sáng tạo, phong phú đôi khi gây ra sự ngạc nhiên.
A. Adler có cách nhìn lạc quan: Đứa trẻ muốn nghe tất cả, nếu như tai nó bị khiếm
khuyết, muốn nói nếu như nó gặp khó khăn trong việc thể hiện ngôn ngữ hay bị nói
lắp.
Học thuyết bù trừ trong sự phát triển tâm lý đã hé mở khả năng giáo dục trẻ
khuyết tật và khuynh hướng nghiên cứu mới của tật học bù trừ có thể dẫn đến hai
kết quả đối lập: chiến thắng và thất bại. kết quả phụ thuộc vào rất nhiều nguyên
nhân: mưc độ bị khuyết tật, môi trường giáo dục, sự nổ lực, cố gắng và ý chí của
bản thân trẻ khuyết tật v.v Đặc trưng tích cực ở trẻ khuyết tật trước hết không
phải là sự giảm bớt chức năng này hay chức năng khác so với trẻ bình thường, mà

có những cách để giúp đỡ sự phát triển văn hóa của đứa trẻ khuyết tật.
Do đó đẻ trẻ khuyết tật đạt được những gì như trẻ bình thường, rõ ràng cần
phải sử dụng những phương tiện đặc biệt. Trẻ em khuyết tật được sống trong môi
trường giàu lòng nhân ái lại được nuôi dạy khoa học thì sẽ có cuộc sông tâm lí bình
thường.
1.5.3. Những đặc điểm cảm giác, tri giác của trẻ khuyết tật thính giác:
Như ta đã biết, cảm giác, tri giác đều là nền tảng cảm xúc của nhận thức
chúng ta Chúng là những nguồn gốc cơ bản của những kiến thức mà chúng ta nhận
thức được ở thế giưói xung quanh. Trong những cảm giác khác nhau thì cảm giác
nghe và cảm giác nhìn có ý nghĩa chủ yếu. chúng ta sống trong thế giới của âm
thanh, của hình dạng và màu sắc. Những nguồn thông tin như phát thanh truyền
12
hình, phim ảnh, sân khấu, âm nhạc, về nhiều mặt dựa trên cảm giác nghe. Tất
nhiên cảm giác nhìn cũng đóng một vai trò quan trọng. Nhưng mất sức nghe sẽ làm
cho đứa trẻ mất khả năng tri giác bình thường những nguồn thông tin này. Trong
việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác và tri giác có một vai trò đặc biệt quan trọng.
Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủ động và bị động của lời nói.
Nghe được tiếng nói của người xung quanh. đứa trẻ bắt đầu bắt chước và bập bẹ
những từ đầu tiên. Nhờ lời nói, đứa trẻ nhận được những thông tin cơ bản, lĩnh hội
những kiến thức và kinh ngiệm mà người lớn truyền cho nó. Sự phá hủy tri giác về
tiếng nói của người xung quanhtự nhiên sẽ kéo theo sự phá hủy quá trình hình
thành ngôn ngữ tích cực. Trẻ KTTG không thể tự mình lĩnh hội được ngôn ngữ.
Trong thực tế, trẻ KTTG sẽ bị câm nếu nó không được phát hiện sớm những khó
khăn về thính giác và được hỗ trợ bằng những phương pháp chuyên biệt trong việc
tiếp nhận ngôn ngữ.
Ngày nay trong giáo dục trẻ khiếm thính đang áp dụng rộng rãi những phương
tiện kỹ thuật khác nhau giúp phát triển và kích thích cảm giác thính giác còn lại.
Những phương tiện này có thể chia thành những phương tiện nhìn, phương tiện âm
thanh và những phương tiện sử dụng tính nhạy cảm xúc giác rung. Ví dụ Máy trợ
thính. những thiết bị khuyếch đại âm thanh, những máy rung biến đổi thành những

thị giác tiếp nhận và phân biệt tinh tế những gì mà chúng ta thường nói với chúng.
Ngoài ra cảm giác xúc giác và cảm giác vận động đóng vai trò quan trọng trong
quá trình nhận thức của trẻ khiếm thính. Cảm giác vận động báo hiệu cho chúng ta
về sự vận động của các bộ phận của cơ thể, mức độ căng của cơ cũng như sự vận
động của cơ quan ngôn ngữ. Ở người bình thường có tồn tại mối liên hệ chặt chẽ
giữa cơ quan thính giác và vận động. Ở trẻ khiếm thính, sự mất thính lực không chỉ
ảnh hưởng xấu đến sự vận động của bộ máy hô hấp vầ sự phối hợp các động tác
của cơ thể. Vì vậy, trẻ khiếm thính thườngc vụng về không khéo léo, rất khó khăn
với những kĩ năng lao động và thể thao đòi hỏi sự phối hợp tinh tế và sự thăng
bằng của các động tác. Điều này được giải thích là do bộ máy tiền đình cũng như
những điểm cuối dây thần kinh của cơ quan vận động bị tổn thương.
Cảm giác xúc giác – rung của trẻ khiếm thính là đặc thù và độc đáo nhất.
Đây là phương tiện quan trọng trong tiếp nhận ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính. vậy
chúng ta đã biết gì về dạng cảm giác này ? Đầu thế kỉ XIX, E. P. Nauman đã
nghiên cứu và chỉ ra những tính chất cơ bản của loại cảm giác này như sau :
- Những cảm giác xúc giác - rung về bản chất là những cảm giác sơ đẳng là
một bộ phận cấu thành của những dạng cảm giác khác.
- Sức nghe bình thường hạn chế và kìm hãm sự phát triển và sự nhạy bén
của những cảm giác và xúc giác rung.
- Về mặt tính chất, những cảm giác này gắn với những cảm giác vận động và
những cảm giác về vị trí trong không gian.
- Giữa cảm giác nghe và cảm giác xúc giác - rung tồn tại một mối liên hệ
chức năng
[ ]
5
.
1.5.4. Một số đặc điểm của khuyết tật thính giác:
Ta biết rằng vào cuối năm đầu tiên của cuộc đời, trẻ đã bắt đầu ghi nhớ được
từ. Tuy nhiên sự ghi nhớ này mang tính tự phát và không có chủ định. Ở trẻ khuyết
tật thính giác việc ghi nhận từ ngữ bắt đầu muộn hơn nhiều vì mất hẳn một khoảng

cũng có ý nghĩa tích cực đối với sự ghi nhớ của chúng.
[ ]
6

1.5.5. Một số đặc điểm tưởng tượng ở trẻ khuyết tật thính giác:
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là nhân tố quan trọng nhất hình thành các
khái niệm, là phương tiện phát triểntư duy trừu tượng. điều tự nhiện là trong những
trường hợp không có ngôn ngữ hay là ngôn ngữ phát triển muộn màng hay có
những sai lệch sẽ làm hạn chếkhông chỉ quá trình hình thành tư duy mà có cả quá
trình hình thành trí tưởng tượng nữa L.X. Vưgốtxki, qua những công trình nghiên
cứu tâm lý của mình đã chỉ ra rằng: người bị mất ngôn ngữ rất khó nhắc lại một
câu trong đó khẳng định điều gì đó trái với điều họ thấy, điều đó có trong lĩnh vực
tri giác trực tiếp của họ.
Cùng với sự mất hoặc khiếm khuyết về ngôn ngữ như là phương tiện hình
thành khái niệm, ở những người này, mất luôn cả sự tưởng tượng biểu thị ở chỗ
con người không thể lãng quên tình huống cụ thể, thay đổi nó, cải biến những
thành tố riêng biệt của nó thoát khỏi ảnh hưởng của cái trực tiếp đã có. Cùng với
điều đó là sự khó khăn hiểu được những ẩn dụ, những từ ở nghĩa bóng.
Những đặc điểm tưởng tượng ở trẻ khuyết tật thính giác có sự thiếu hụt là do
sự hình thành ngôn ngữ chậm và tư duy trừu tượng hạn chế gây nên. Mặc dù hình
15
tượng thị giác của trẻ khiếm thính đạt nức độ cao và sống động, nhưng sự hình
thành tư duy bằng khái niệm quá chậm, làm chúng rất khó thoát khỏi cái ý nghĩa cụ
thể, nghĩa đen của từ, điều đó làm khó khăn cho sự hình thành hình tượng mới.
Tưởng tượng tái tạo có một ý nghĩa đặc biệt trong hoạt dộng nhận thức của
trẻ khiếm thính. Nhờ tưởng tượng tái tạo thế giới xung quanh được phản ánh trong
ý thức của trẻ rộng hơn, phong phú hơn. Tầm hiểu biết của trẻ được mở rộng qua
giới hạn kinh nghiệm cá nhân, đưa chúng tiếp xúc với kho tàng kinh nghiệm của
loài người.
[ ]

niệm và do đó đến cả tư duy trừu tượng. Những nghiên cứu của I.M.Xôlôviep,
G.I.Siphơ đã chỉ ra rằng trẻ khuyết tật thính giác chậm phát triển cả những thao tác
tư duy khác: trừu tượng hóa, khái quát hóa.
[ ]
8

16
1.5.7. Ngôn ngữ của trẻ khuyết tật thính giác:
Tiếng nói và ngôn ngữ là công cụ mạnh mẽ để nhận thức thế giới xung
quanh. nhờ ngôn ngữ, con người có khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa. Con
người có thể nhận thức cả những đặc tính của thế giới xung quanh mà sự quan sát,
tri giác không thể cảm nhận được. Sự phát triển trí tuệ của trẻ phụ thuộc nhiều vào
ngôn ngữ Đứa trẻ nắm được ngôn ngữ, trong quá trình giao tiếp có thể biết những
đặc tính của những vật xung quanh nó. Nó luôn luôn đặt những câu hỏi với người
xung quanh và nhận được những câu trả lời, thu nhận được những kinh nghiệm của
nhười lớn. vào thời điểm 2-3 tuổi, quá trình phát triển tiếng nói và tư duy diễn ra
đặc biệt mãnh liệt. Ngôn ngữ liên hệ chặt chẽ với tư duy. Mối liên hệ này thể hiện
trước hết ở chỗ: tiếng nói là công cụ của tư duy. Ý nghĩ của chúng ta xuất hiện và
hình thành trên cơ sở tiếng nói. Không có những ý nghĩ trần trụi, thiếu vổ bọc ngôn
ngữ. Tư duy bằng ngôn ngữ là hoàn thiện nhất vì nó có khả năng trừu tượng hóa
không giới hạn.
Từ vựng và cấu trúc ngữ pháp là những bộ phận quan trọng cấu thành tiếng
nói. Từ vựng đôi khi còn gọi là “vật liệu xây dựng” của tiếng nói. Từ vựng càng
giàu thì tiếng nói càng phong phú. Nhưng chỉ có riêng từ vựng thì chưa tạo thành
được ngôn ngữ, nó chỉ trở thành sức mạnh thực tế khi nó được sử dụng theo ngữ
pháp. Làm cho ngôn ngữ của chúng ta trở nên có cấu trúc và có ý nghĩa. Một yếu
tố rất quan trọng của tiếng nói chúng ta là cái vỏ âm thanh, thành phần ngữ âm.
Cáo vỏ âm thanh của tiếng nói dường nhưu là “cái vỏ vật chất” của nó. Chúng ta
chỉ có thể diễn đạt ý nghĩ nhờ bọc chúng vào vỏ bọc âm thanh hay là cái vỏ đồ họa
( chữ viết ). Hơn nữa, trong mỗi từ đều có nghĩa khái quát. Chính điều đó mở rộng

lòng Quảng Trị biết bao thương tích, bệnh tật. Mỗi góc phố, mỗi làng quê của
Quảng Trị phải gánh chịu biết bao nhiêu hậu quả, di chứng của chiến tranh. Nỗi
đau của những em thơ mang trên mình nhiều bệnh tật, khát khao được cắp sách
đến trường, được xã hội quan tâm chăm sóc, được hoà nhập cộng đồng. Trước nỗi
đau của toàn dân và nỗi đau của những mảnh đời nhỏ bé phải chịu nhiều đau
thương mất mát đó. Lãnh đạo các cấp đã suy nghĩ, trăn trở và đặc biệt là sự quan
tâm của ngành giáo dục đã tìm ra những giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu nguyện
vọng của nhân dân. Ngày 16/2/1993 “ Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Đông Hà”
được thành lập với số lượng học sinh là 12 em bị tật khiếm thính và đội ngũ giáo
viên chỉ gồm 3 thầy cô giáo.
Để đáp ứng với nhu cầu học tập của các em học sinh khuyết tật trong toàn
tỉnh, tháng 11/2000, trường trẻ em khuyết tật tỉnh Quảng Trị được thành lập trên cơ
sở trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật Đông Hà, đối tượng học sinh được tuyển rộng
rãi trong toàn tỉnh.
Mục tiêu: Chăm sóc - nuôi dưỡng, dạy văn hoá hết bậc tiểu học, hướng
nghịêp, dạy nghề, tạo điều kiện cho các em sớm hoà nhập với xã hội, có cuộc sống
tươi đẹp hơn.
18
2.1.2. Thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc-giáo dục trẻ khuyết tật tỉnh
Quảng Trị:
Trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng trị đống trên địa bàn Phường 3 thị xã Đông Hà,
tỉnh Quảng Trị. Tính từ ngày đầu sơ khai đến nay cũng được chừng 15 năm. Tuy
tuổi đời còn ít nhưng trường cũng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu học tập cho
những trẻ không may bị thiệt thòi trên toàn tỉnh. Cùng với thời gian đó, dưới sự
chăm sóc, giáo dục của đội ngũ cán bộ giáo viên - công nhân viên trong nhà
trường, cùng với sự hổ trợ của các ban ngành và các tổ chức trong và ngoài nước
đã tạo niềm tin cho các bậc phụ huynh, nhằm thu hút các đối tượng đặc biệt đến
trường ngày càng đông.
+Bộ máy hoạt động của nhà trường
Sự vận hành của bộ máy trường trẻ em khuyết tật Quảng Trị trực thuộc Sở

thương yêu, chăm sóc chu đáo cho học sinh.
+ Hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo:
Nhà trường đang phấn đấu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếp cận
phương pháp dạy trẻ khuyết tật, dạy có chất lượng tốt. Trình độ chuyên môn toàn
thể cán bộ giáo viên trong nhà trường đều đạt và trên chuẩn (các giáo viên trên
chuẩn gồm có 6 đồng chí: 2 đồng chí cử nhân tật học). Hiện đang có 1 đồng chí
đang học đại học tật học ở Hà Nội, 4 đồng chí đang học Cao đẳng sư phạm tật học,
4 đồng chi đang học Cao đẳng sư phạm tiểu học, 3 đồng chí đang học đại học tiểu
học.
Ngoài ra, hàng năm nhà trường còn tổ chức cho toàn thể cán bộ, giáo viên
trong nhà trường đi tham quan, học hỏi về mô hình giáo dục trẻ khuyết tật ở các
tỉnh bạn như: Xã Đàn, trường Nguyễn Đình Chiểu ( Hà Nội), Trung tâm giáo dục
trẻ khuyết tật ở các tỉnh Miền Nam.
Được sự quan tâm của Sở giáo dục – đào tạo Quảng Trị và các ban ngành
hàng năm cũng đã mở các chuyên đề bồi dưỡng về chuyên môn cho giáo viên dạy
trẻ khuyết tật , chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ. Hiện nay nhà trường đã
duy trì được số lượng học sinh gồm có: 120 em, chia làm 12 lớp học văn hoá:
- 08 lớp HS khiếm thính gồm: 78 em
- 03 lớp chậm phát triển trí tuệ gồm: 35 em
- 01 lớp khiếm thị
Trong số các em học sinh đã lấy một số em học nghề may và học nhôm
kính. Cụ thể:
1 lớp học nghề may gồm: 09 em
1 lớp học nhôm kính : 02 em
Tất cả các học sinh lớp 3 trở lên đều được học đan móc. Cứ mỗi lớp học văn
hóa co 02 giáo viên phụ trách, mỗi giáo viên phụ trách một buổi. Nhà trường lựa
chọn, phân công giáo viên phụ trách lớp phù hợp với từng đối tượng tật để dạy cho
đảm bảo chất lượng đối với học sinh.
. Thuận lợi:
Là một trường đống trên địa bàn thị xã, dưới sự trực tiếp chỉ đạo và quan

Từ những khó khăn trên ảnh hưởng rất lớn đến việc chuẩn bị tâm lí sẵn sàng
cho trẻ khuyết tật vào học lớp một ở trường Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị.
+ Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng:
Nhà trường chọn những đồng chí có tâm huyết, có tình thương để chăm sóc
các em nhiệt tình chu đáo. Kết hợp giữa cấp dưỡng, chăm sóc viên, bảo vệ và giáo
viên chủ nhiệm lớp, tổng phụ trách đội để phát hiện những biểu hiện bất thường
xảy ra như: trốn trường, biểu hiện kém ăn, kém ngủ, đau ốm để có biện pháp can
thiệp kịp thời. Thường xuyên kiểm tra việc ăn ở của học sinh, khu nội trú phải sạch
sẽ, nhà bếp phải đảm bảo bữa ăn vệ sinh an toàn thực phẩm. Y tế, chăm sóc viên
thường xuyên kiểm tra sức khoẻ học sinh, mùa đông tắm bằng nước ấm, chăn màn,
áo quần đảm bảo đủ ấm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè. Kiểm tra cân đo học sinh
1 lần/1 tháng để kịp thời xử lí. Đào tạo một số nghề phổ thông phù hợp với khả
năng sở trường, sức khoẻ của học sinh và điều kiện cơ sở vật chất hiên có của nhà
trường như nghề may, nghề mộc, nghề nhôm kính Hiện nay nhà trường đã tạo
điều kiện cho học sinh 1 lớp học nghề may gồm 9 em, đã cho ra hoà nhập cộng
đồng 17 em.
+ Công tác phối hợp đoàn thể:
Nhà trường thương tổ chức nhiều hoạt động ngoài giờ lên lớp như văn nghệ,
thể dục thể thao, tham quan, dã ngoại Nhà trường kết hợp với hội sinh viên tình
nguyện trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị tổ chức nhiều hoạt động, tổ chức các
21
buổi giao lưu với các trường tiểu học trong tỉnh để giúp đỡ các em có điều kiện học
hỏi về trường bạn làm cho các em giảm bớt sự mặc cảm bệnh tật của bản thân để
vượt qua số phận của chính mình để cùng hoà nhập với cộng đồng xã hội. Ngoài ra
trường còn xây dựng tốt mối quan hệ giữa nhà trường với các địa phương, giữa nhà
trường và các phụ huynh học sinh, giữa giáo viên với chăm sóc viên để có thông
tin hai chiều để có biện pháp tích cực động viên các em đến trường, chăm sóc giáo
dục các em một cách tốt hơn.
2.2. Chuẩn bị tâm lí sẵn sàng cho trẻ khiếm thính vào học lớp một ở trường
Trẻ Em Khuyết Tật Quảng Trị.

yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
22
Cải thiện mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ cũng như mạng lưới gia đình (ông
bà, chú bác, cô dì, ) được cân bằng về mặt tình cảm hơn. Từ đó họ biết diều chỉnh
hành vi cũng như tình cảm, nhận thức khi trong gia đình có một đứa trẻ khuyết tật.
Can thiệp sớm cũng là một cách làm nhẹ bớt gánh nặng cho gia đình, giúp họ nhận
thức đúng đắn trong việc chọn và đưa trẻ đến trường, tạo điều kiện cho gia đình
quan tâm giúp đỡ hàng ngày cho trẻ.
Can thiệp sớm làm cho xã hội nhận biết được thực tế là còn có những đứa trẻ
bị khuyết tật cũng là một bộ phận của cộng đồng và có quyền được giúp đỡ như
mọi trẻ nhỏ khác trong xã hội.
Can thiệp sớm để có biện pháp tổ chức mọi hoạt động: học tập, vui chơi,
nghĩ ngơi của trẻ. Cũng như việc đặt ra mục tiêu ngắn hạn, dài hạn, mục tiêu cho
từng cá nhân.
2.2.2.2. Lập kế hoạch giáo dục cá nhân:
Đây là một trong những biện pháp đặc thù cho trẻ khuyết tật. Xây dựng kế
hoạch cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng riêng của từng trẻ, đồng thời là
công cụ để đánh giá chất lượng giáo dục hoà nhập và sự hổ trợ cần thiết cho từng
cá nhân.
Mỗi đứa trẻ có một điều kiện, một đặc điểm tâm lí riêng, điểm mạnh riêng
do đó cần có một kế hoạch giáo dục riêng nhằm phát huy tối đa khả năng của trẻ. Ở
trẻ khuyết tật thính giác với bản năng rất hiếu động lại hạn chế về ngôn ngữ nên
việc giao tiếp bằng lời cũng rất hạn chế. Vì thế, khi xây dựng kế hoạch giáo dục cá
nhân cần đặc biệt chú ý đến đặc điểm tâm lí và điểm mạnh của trẻ nhất là ở giai
đoạn hiện tại để có kế hoạch lâu dài.
2.2.2.3. Định hướng giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính ở trường Trẻ Em
Khuyết Tật Quảng Trị:
Cùng với sự phát triển giáo dục đào tạo trong cả nước, giáo dục Quảng trị
bước đầu ổn định và ngày càng phát triển nhanh về cả quy mô và chất lượng chăm
sóc giáo dục trẻ.

2.2.2.5. Chuẩn bị cho trẻ thích ứng với cuộc sống ở trường tiểu học - Trường
Trẻ Em Khuyết Tật Quảng trị.
Cuộc sống ở trường tiểu học khác với cuộc sống ở gia đình và lớp mẫu giáo.
Để thích ứng với cuộc sống này, cần phải cho trẻ chuẩn bị về nhiều mặt:
+ Về chế độ sinh hoạt:
Tạo cho trẻ một chế độ sinh hoạt nề nếp, phù hợp với độ tuổi và luyện tập để trẻ
thích ứng với chế độ sinh hoạt đó trong việc thực hiện các sinh hoạt hàng ngày
như( ăn, ngủ, chơi, học, tập thể dục, đặc biệt là lao động tự phục vụ.) một cách nề
nếp nhưng không bị gò bó, áp đặt. Điều quan trọng là khơi dậy ở trẻ tính tự giác,
đặc biệt là tính tự lực khi thực hiện chế độ sinh hoạt ở trường.
+ Về hành vi văn hoá:
Cần hinh thành và phát triển hành vi văn hoá ở trẻ về cách ứng xử tốt, có văn
hoá đối với mọi người xung quanh ( những người lớn trong gia đình, bạn bè cùng
lứa, các anh chị trong trường ). Giúp trẻ mạnh dạn chủ động, thiết lập mối quan hệ
tốt với mọi người, biết kính trên nhường dưới, thân thiện với bạn bè, sẵn sàng
nhường nhịn và giúp đỡ nhau, trên cơ sở tình cảm sâu sắc. Hình thành cho trẻ cách
ứng xử có văn hoá với môi trường xung quanh ( biết chăm sóc bảo vệ vật nuôi cây
trồng ở nhà, ở trường, ở nơi công cộng ). Đối với bản thân trẻ, cần hình thành
những hành vi văn hoá - vệ sinh, biết tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày ( tự ăn,
tự đi ngủ, tự mặc quần áo, chải tóc, biết rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước và sau khi
ăn). Rèn luyện cho trẻ tư thế tác phong gọn gàng, nhanh nhẹn, tự tin và tôn trọng
người khác trong giao tiếp nhưng vẫn hồn nhiên, vui tươi.Giúp trẻ biết tự điều
24
khiển hành vi của mình cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, bớt đi những hành vi
bột phát, thiếu ý thức, những ham muốn vô lí thường gặp ở trẻ.
+ Chuẩn bị cho trẻ gia nhập những mối quan hệ xã hội rộng lớn hơn.
Khi vào lớp 1 không những hoạt động chủ đạo thay đổi ( từ vui chơi đến học
tập ) mà môi trường xã hội cũng thay đổi, trở nên rộng lớn hơn. Các em được tham
gia vào những mối quan hệ xã hội phong phú hơn. Do đó ngay từ khi còn ở lớp
mẫu giáo chúng ta cần mở rộng các mối quan hệ của trẻ, cho trẻ làm quen với

trẻ, nhất là hoạt động vui chơi cần kích thích lòng ham hiểu biết, óc tìm tòi, khám
phá của trẻ bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề để kích thích trẻ suy nghĩ
và tìm ra cách giải quyết. Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta luôn luôn giới thiệu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status