SKKN LỒNG GHÉP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 7 - Pdf 26

UBND QUẬN ĐỐNG ĐA
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẾ VĂN ĐÀN
******************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

LỒNG GHÉP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY MÔN CÔNG
NGHỆ LỚP 7
Môn: Công nghệ 7
Người thực hiện: Đào Phương Lan
Giáo viên: Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp
Năm học 2011 – 2012
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài:
Trước tình hình ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn nạn toàn cầu, trách
nhiệm không còn thuộc về riêng ai. Ngành Giáo dục cùng chung tay với xã hội
trong việc giáo dục, tuyên truyền người dân phòng chống ô nhiễm môi trường.
Môn KTNN được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông ngoài việc cung
cấp kiến thức khoa học cho học sinh cũng góp phần giáo dục học sinh có ý thức
bảo vệ môi trường .
Ở lớp 7, chương trình công nghệ được chia làm ba mảng lớn: Trồng trọt; Chăn
nuôi; Lâm nghiệp. Cả ba phần kiến thức này đều có thể lồng ghép giáo dục môi
trường (ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, …).
Một mặt khác, với học sinh thành phố vốn ít được tiếp xúc với thực tế sản xuất
nông nghiệp nên môn học có phần khô khan, không gây được hứng thú. Khi
giáo viên khéo léo lồng ghép về môi trường, tác dụng theo tôi nghĩ là rất tich
cực.
Bắt nguồn từ thực tế đó, tôi mạnh dạn xây dựng đề tài này, mong góp một phần
nhỏ bé để hạn chế ô nhiẽm môi trường.
II. Cơ sở khoa học:
Các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp (bao gồm trồng trọt và chăn nuôi)

các vấn đề môi trường cũng tác động không nhỏ đến sản xuất của ngành. Thời
tiết diễn biến phức tạp, vụ Đông xuân ở miền Bắc ấm bất thường, hạn hán, bão,
lũ lụt, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, sâu bệnh cây trồng phát sinh trên diện
rộng; nhiều vùng nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại do ô nhiễm môi trường
1. Trong trồng trọt:
Giá trị sản xuất ngành trồng trọt (GTSXTT) liên tục tăng trưởng qua các năm,
chỉ tính từ 2001-2007 GTSXTT tăng từ 92.907 tỷ đồng (8,45 tỷ USD) lên
114.333 đồng (10,39 tỷ USD) với mức tăng bình quân 3,5%/năm (toàn ngành
nông nghiệp 4,2%/năm) theo hướng đẩy mạnh sản xuất nông sản hàng hóa, có
giá trị và hiệu quả cao; điều chỉnh cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý nhằm hạn
chế những thiên tai do những bất thuận của thời tiết, sâu bệnh, ổn định diện tích
gieo trồng và sản lượng nông sản do vậy đến năm 2007 giá trị xuất khẩu của 8
mặt hàng nông sản (gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, hạt điều, rau quả, lạc) đạt
hơn 6 tỷ USD. Tuy nhiên, lại nẩy sinh một số vấn đề môi trường sau:
- Phân bón khi sử dụng sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được
cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp cũng
như làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và có thể gây đột biến gen đối với
một số loại cây trồng. Theo ước tính năm 2007, có khoảng 60-65% lượng phân
đạm không được cây trồng hấp thụ (tương ứng với 1,77 triệu tấn urê, 55- 60%
lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương
đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được
cây trồng sử dụng).
- Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng ngày càng gia tăng, trong đó có
rất nhiều thuốc bảo vệ thực vật không rừ nguồn gốc xuất xứ, trôi nổi trên thị
trường. Đến tháng 8 năm 2007, lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu phải tiêu
hủy 152 tấn. Từ năm 1991 đến năm 2000, khối lượng thuốc BVTV được nhập
khẩu và sử dụng biến động từ 20.000 - 30.000 tấn thành phẩm quy đổi, lượng sử
dụng trên một đơn vị diện tích từ 0,67 - 1,0 kg ai/ha. Từ năm 2000 đến nay khối
4
lượng nhập khẩu và sử dụng ở Việt Nam tăng từ 33.000 đến 75.000 tấn. Việc

nhỏ, manh mún, phân bố rải rác trong khi sản xuất nông nghiệp có lợi nhuận
thấp, giá cả bấp bênh, thị trường ít ổn định. Vì vậy, sức đầu tư vào khâu xử lý
môi trường trong chăn nuôi cũng thấp. Số lượng các lò mổ đạt yêu cầu vệ sinh
chỉ khoảng trên 30%. Hiện tượng giết mổ lậu, giết mổ gia súc, gia cầm bị bệnh,
không qua kiểm soát giết mổ, nước thải từ các lò mổ không được kiểm soát cũng
là các nhân tố tác động làm tăng ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm do chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi lợn không chỉ làm ô nhiễm không
khí mà còn ảnh hưởng nặng tới môi trường sống dân cư, nguồn nước và tài
nguyên đất và ảnh hưởng chính đến kết quả sản xuất chăn nuôi. Các hoạt động
gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước.
Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước, cũng
khá phổ biến đó giúp phần làm tăng diện tích đất bị xói mòn, suy giảm chất
lượng đất, nước, giảm khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn.
Ô nhiễm môi trường cũng làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả
chăn nuôi. Trong mười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm, long móng trên
gia súc đó hoành hành và đến nay chưa được khống chế triệt để. Từ cuối năm
2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại Việt Nam, qua 4 năm, dịch đã tái phát
5 đợt, đã phải tiêu hủy trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến
hàng ngàn tỷ đồng. Bệnh đó có nhiễm sang người, đến nay đã có 100 người mắc
và đã tử vong 46 người. Từ đầu năm 2007 đến nay đã bùng phát hội chứng rối
loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh-PRRS) trên lợn đã gây thiệt hại nặng nề
cho ngành chăn nuôi lợn tại nhiều địa phương. Tuy đến nay đã được khống chế
nhưng diễn biến của bệnh khá phức tạp, khả năng gây dịch cũng rất lớn. Dịch
6
bệnh đã gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và
cũng có nguy cơ lây nhiễm sang người nguy hiểm như bệnh cúm gia cầm, …
3. Trong nuôi trồng và khai thác thủy sản
Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong vòng 10 năm trở lại đây, không chỉ
nuôi sông hồ, đầm phá mà cũng tiến ra biển. Năm 2007, cả nước mở thêm
15.600 ha nuôi trồng thuỷ sản, đưa tổng diện tích đạt khoảng 1,065 triệu ha (kể

không tuân thủ đúng quy định về mắt lưới và loại nghề cho phép dẫn đến tình
trạng nguồn lợi hải sản bị giảm sút, một số loài hải sản quý hiếm có nguy cơ cạn
kiệt và tuyệt chủng.
Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản gặp rất nhiều khó khăn do số lượng cán bộ
và phương tiện có hạn, mặt khác các hình thức xử phạt vi phạm hành chính cũng
nhẹ chưa có tính răn đe. Công tác phục hồi và bảo tồn nguồn lợi mới ở bước
đầu, hiện chưa có một khu bảo tồn mang tính quốc gia nào được thiết lập, kể cả
các khu bảo tồn biển.
Chế biến thủy sản: Cả nước hiện có 470 doanh nghiệp chế biến quy mô công
nghiệp, chủ yếu là chế biến thủy sản đông lạnh. Trong quá trình sản xuất, chế
biến thủy sản có sử dụng nhiều nguyên liệu thuỷ sản, nước, nhiên liệu, năng
lượng, hoá chất tẩy rửa, khử trùng, môi chất lạnh dẫn đến lượng chất thải rắn,
nước thải, khí thải sinh ra nhiều, đặc biệt là nước thải hữu cơ gây ô nhiễm môi
trường.
Trong các loại chất thải, nước thải trong chế biến thủy sản có hàm lượng các
chất ô nhiễm hữu cơ rất cao. Các chỉ tiêu BOD5, tổng Nitơ và Coliform cao hơn
tiêu chuẩn cho phép từ vài lần, đến hàng trăm lần. Theo kết quả điều tra phân
tích các thành phần nước thải tại 184 cơ sở chế biến thủy sản, trong 2 năm 2006
và 2007, thỡ cú tới 90% cỏc nhà máy đang gây ô nhiễm môi trường ở các mức
độ khác nhau. So sánh đối chiếu với Thông tư 07/2007/TT-BTN&MT về phân
8
loại cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, thì có 93/184 cơ sở được xếp
loại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
4. Lâm nghiệp
- Phá rừng: Trong những năm qua, lũ lụt, hạn hán xảy ra ở nhiều nơi làm thiệt
hại cả sinh mạng người và của cải vật chất là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu,
của nạn chặt phá rừng. Một số hoạt động phát triển kinh tế thiếu cân nhắc như
phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, chặt rừng để trồng cây công nghiệp như: cao
su, cà phê làm cho hậu quả thiên tai ngày càng nặng nề hơn, các yếu tố môi
trường sống ngày một xấu đi.

thải để xử lý. Cả nước cũng gần 30% dân số nông thôn chưa được tiếp cận
nguồn nước hợp vệ sinh. Số lượng làng ung thư bị phát hiện ngày càng lớn gây
nhiều bức xúc trong dư luận.
III. Ứ ng dụng:
Đặc trưng của bộ môn công nghệ là quy trình sản xuất nông nghiêp (các thao tác
kỹ thuật ) và tính ứng dụng, liên hệ thực tế rất cao. Theo tôi nghĩ nếu các giáo
viên lồng ghép giáo dục môi trường trong những bài phù hợp sẽ gây hứng thú
học tập cho học sinh, đồng thời cũng đóng góp một phần đáng kể công sức trong
việc phòng chống ô nhiễm môi trường.
PHẦN II : MINH HỌA BẰNG BÀI DẠY
Bài 9 : Cách sử dụng và bảo quản
các loại phân bón thông thường.
I. Mục tiêu:
1. Kiến thức: Sau khi học xong học sinh hiểu được các cách bón phân
2. Kỹ năng: - Biết cách sử dụng và bảo quản các loại phân bón thông thường.
10
3. Thái độ: - Có ý thức tiết kiệm, bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ môi
trường.
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: SGK, tài liệu tham khảo, Tranh hình SGK, kế hoạch bài dạy, bảng
phụ
2. Học sinh: Đọc SGK, bảng phụ. Tìm hiểu biện pháp sử dụng, bảo quản các
loại phân bón ở địa phương.
III. Tiến trình dạy học:
1. Kiểm tra bài cũ:
? Kể tên các loại phân bón thông thường? Cách bón phân theo hình thức bón,
thời kỳ bón.
2. Dạy bài mới: GV giới thiệu mục tiêu bài học.
Hoạt động của GV & HS Nội dung ghi bảng
Hoạt động 1

- Theo em, kỹ thuật bón, liều lượng bón,
thời gian bón như thế nào là đúng kỹ
thuật để không gây ô nhiễm môi trường
và độc hại cho người tiêu dùng
- Học sinh thảo luận và trình bày: Khi
bón phân phải đeo khẩu trang, găng tay;
không bón vào lúc trời ẩm hay có gió to;
lượng phân bón vừa đủ, nếu quá nhiều
sẽ gây lãng phí, ô nhiễm môi trường đất,
không khí, nhiễm độc nông sản, ảnh
hưởng tới sức khỏe con người và sự sống
khác trong tự nhiên.
- Giáo viên bổ sung, giải thích: việc bón
phân quá mức với một loại chất dinh
- Phân đạm, kali, hỗn hợp, thương dùng để
bón thúc, nếu bón lót thì chỉ bón lượng
nhỏ
- Phân lân thường dùng để bón lót hoặc
bón thúc
12
dưỡng tối quan trọng có thể cũng gây hại
như bón phân không đầy đủ. “Cháy phân
bón” có thể xảy ra khi phân bón được
dùng quá mức, dẫn tới làm khô kiệt rễ và
gây hại, them chí là làm chết cây.
Hoạt Động 2
? Em hãy nêu và giải thích cách bảo quản
phân hoá học ở gia đình, địa phương
- GV bổ sung, giải thích
? Em hãy nêu và giải thích cách bảo quản

S.A làm chua đất.
3. Củng cố, luyện tập:
- Gọi 1-2 học sinh đọc phần ghi nhớ sgk
- Nêu câu hỏi củng cố bài học
- Có mấy cách bón phân?
- Để bảo quản phân bón thông thường ta áp dụng như thế nào?
- Yêu cầu học sinh đọc phần có thể em chưa biết sgk
4. Hướng dẫn về nhà:
- Dặn dò hs về nhà trả lời các câu hỏi cuối bài học ở sgk và sbt . Đọc trước bài
10 sgk và chuẩn bị một số dụng cụ cho bài sau.
14
Cuốn trôi đất và phân bón trong một cơn mưa lớn
15
Hoa tảo gây ra do thừa chất dinh dưỡng
Cháy phân bón
16
Ủ phân súc vật - một nguồn phân hữu cơ
Bài 13 : Phòng trừ sâu bệnh hại
I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức: - Sau khi học xong học sinh hiểu được những nguyên tắc và biện
pháp phòng trừ sâu bệnh hại.
2. Kỹ năng: - Biết vận dụng những biện pháp đã học vào việc phòng trừ sâu
bệnh tại vườn trường hay ở gia đình.
3. Thái độ: - Có ý thức chăm sóc bảo vệ cây trồng thường xuyên để hạn chế tác
hại của sâu bệnh
II. CHUẨN BỊ:
1. Giáo viên: SGK, kế hoạch bài dạy, tài liệu tham khảo, bảng phụ
2. Học sinh: Học bài cũ. Đọc bài 13 SGK. Các nhóm sưu tầm tranh ảnh, tư liệu
về ô nhiễm môi trường do các loại thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật, lợi ích
về môi trường của phương pháp phòng trừ sâu hại bằng thiên địch

? Ngoài hai biện pháp trên ở gia đình và địa
I. Nguyên tắc phòng trừ sâu bệnh hại.
- Phòng là chính
- Trừ sớm, kịp thời, nhanh chóng và triệt
để
- Sử dụng tổng hợp các biện pháp phòng
trừ
II. Các biện pháp phòng trừ sâu bệnh
hại.
1. Biện pháp canh tác và sử dụng
giống chống sâu bệnh hại.
- Vệ sinh đồng ruộng
- Làm đất
- Gieo trồng đúng thời vụ
- Chăm sóc kịp thời, bón phân hợp lý
- Luân phiên- thay đổi các loại cây trồng
trên cùng một đơn vị diện tích
- Sử dụng giống chống sâu bệnh
2. Biện pháp thủ công.
Dùng tay bắt sâu, bẫy đèn
3. Biện pháp hoá học.
Dùng thuốc hoá học để phòng trừ sâu
bệnh hại
18
phương em còn sử dụng biện pháp gì.
? Nêu ưu nhược điểm của cách sử dụng
biện pháp hoá học để phòng trừ sâu bệnh
hại, có ảnh hưởng tới môi trường như thế
nào và giải pháp khắc phục?
- Giáo viên cho các nhóm sinh thảo luận

trong không khí được gió đưa vào các khu
dân cư, nồng nặc cả đêm lẫn ngày. Tội
nhất là các cụ già, trẻ em hít phải thuốc
trừ sâu bị nhức đầu, ho khù khụ, viêm
đường hô hấp mà không biết kêu ai.
Ai cúng biết, sư dụng thuốc BVTV không
đúng cách sẽ gây hại cho môi trường và
sức khỏe con người qua nhiều đường
khác nhau (ngấm vào nguồn nước, không
khí, nhiễm vào thức ăn, đồ uồng và vào cơ
thể con người). Thế nhưng do không hiểu
biết nên nông dân bơm thuốc BVTV
không mang đồ bảo hộ lao động, để thuốc
chảy qua bơm ngấm ướt da. Khi bơm
thuốc xong lại tắm qua loa. Có người
trong lúc bơm thuốc vẫn uống rượu, hút
thuốc vô tư không hề biết nguy hiểm.
Trong sản xuất rau một số hộ không biết
vô tình hay hữu ý, đã sử dụng quá mức
lượng thuốc trừ sâu, dẫn đến dư lượng
thuốc tồn đọng người tiêu dùng.
Để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe
con người, các cấp chính quyền và ngành
chức năng cần tổ chức tuyên truyền,
hươngs dẫn nông dân cách bảo quản và
20
sử dụng thuốc BVTV, hình thành những
cánh đồng sản xuất lúa sạch – rau sạch
bằng cách ưnga dụng chương trình phòng
trừ dịch hại tổng hợp bảo vệ cây trồng

25

Trích đoạn Nhiệm vụ của trồng rừng ở nước ta.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status