sáng kiến đổi mới giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy môn địa lý - Pdf 27

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN PHÚ VANG
HTRƯỜNG THCS PHÚ MỸ
SÁNG KIẾN ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ

GIÁO VIÊN
NGUYỄN THỊ NGUYÊN THUẬN
HUẾ : 03/2015
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC
MÔN ĐỊA LÍ

A. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứa đựng
và cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con
người, do đó Môi trường có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống con người.
Trong những năm gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về vấn đề môi trường. Vì
sao con người lại quan tâm đến môi trường nhiều như vậy? Như chúng ta biết, sự
phát triển của nền công nghiệp hiện đại và sự gia tăng dân số quá nhanh và việc
chặt phá rừng bừa bãi của con người đã làm cho nồng độ CO
2
trong khí quyển
tăng vọt lên cùng với các khí thải từ công nghiệp, động cơ giao thông đã thải
những khí độc hại như : NO
2,
SO
2,
CH
4
…….được gọi là những khí nhà kính.
“Hiệu ứng nhà kính” làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng lên, gây ra nhiều hậu

- Sưu tầm tranh ảnh, tài liệu về các vấn đề môi trường.
- Đề ra những giải pháp đề nhằm nâng cao việc giáo dục các nội dung bảo vệ môi
trường.
- Từ đó rút ra kết luận và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm giúp việc giáo dục bảo
vệ môi trường hiện có hiệu quả.
- Thông kê các kết quả đạt được khi thực nghiệm.
II. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN :
1. Đối tượng giáo dục : Học sinh Trường THCS Phú Mỹ
2. Giới hạn phạm vi giáo dục:
- Áp dụng cho nhiều bài học Địa Lí THCS (lớp 6, 7, 8, 9) chương trình sách giáo
khoa.
- Giới hạn trong nội dung có thể giáo dục được vấn đề bảo vệ môi trường trong
chương trình sách giáo khoa và các hoạt động ngoại khóa có nội dụng giáo dục
bảo vệ môi trường.
3. Phương pháp giáo dục:
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan.
- Phương pháp thí nghiệm.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp đóng vai.
- Phương pháp thực địa
III. NỘI DUNG:
1. Thực trạng.
a. Thuận lợi:
- Hiện nay Trường THCS Phú Mỹ có 20lớp, với 3 giáo viên chuyên trách bộ môn
Địa lí. Trường có tương đối đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học
- Đặc thù của môn địa lí có hai phần: Phần đại cương nghiên cứu về các thành
phần tự nhiên của Trái Đất, đặc điểm tự nhiên các châu lục các khu vực và tự
nhiên Việt Nam; Phần kinh tế xã hội nghiên cứu các đặc điểm về dân cư, lao động
và các ngành kinh tế… tất cả đều có liên quan đến vấn đề môi trường nên giáo

đang là những vấn đề có tính toàn cầu.
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng và trong nhà trường, giáo dục
cho mọi người về trách nhiệm và ý thức bảo vệ môi trường vì cuộc sống của hành
tinh không chỉ cho hôm nay mà cho cả tương lai. Công tác giáo dục không phụ
thuộc vào tôn giáo, dân tộc… mà phải được thực hiện đối với mỗi công dân
tương lai ngay từ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường và cả ở tuổi trước khi đến
trường, qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức giáo dục khác
nhau.
- Vấn đề giáo dục mội trường ở nhà trường làm cho giáo viên và học sinh có ý
thức thường xuyên và luôn nhạy cảm đối với mọi khía cạnh của môi trường, thu
nhận được những thông tin, kiến thức cơ bản về môi trường và sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa con người với môi trường, phát triển những kĩ năng cơ bản bảo vệ và
gìn giữ môi trường, kĩ năng dự đoán, phòng tránh và giải quyết những vấn đề môi
trường nảy sinh, tham gia tích cực vào những hoạt động khôi phục, bảo vệ và gìn
giữ môi trường, có ý thức về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với
sức khỏe con người, với chất lượng cuộc sống chúng ta.
b. Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học giáo dục môi trường trong
dạy học Địa lí:
* Hiện nay có nhiều phương pháp dạy học giáo dục môi trường, riêng trong môn
Địa lí có thề áp dụng các phương pháp sau:
b. 1/ Phương pháp đàm thoại:
Là phương pháp tương tác giữa người dạy và người học được thực hiện thong qua
câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định
được người dạy và người học đặt ra. Kết quả là dưới sự tác dẫn dắt của người dạy,
người học thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình, khám pha, lĩnh hội các đối
tượng học tập. Đối với việc liên hệ kiến thức giữa bài học chính với kiến thức môi
trường thì phương pháp đàm thoại gợi mở được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất.
Để mang lại hiệu quả thì hệ thống câu hỏi ở mức độ phát huy trí lực và sự sáng tạo
của học sinh, câu hỏi đòi hỏi HS gắn kiến thức môn học đã biết với kiến thức môi
trường mà có thể học sinh chưa biết, phải tìm tòi, suy nghĩ, vận dụng nhiều thao

vai trò chủ động, tích cực.
-Có nhiều hình thức thảo luận như: thảo luận theo nhóm nhỏ, thảo luận cặp đôi,
thảo luận chung toàn lớp. Sau đây là một vài ví dụ về sử dụng phương pháp thảo
luận để giáo dục môi trường cho HS.
Ví dụ 1: Bài 17: “Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hoà”.
* Cách tiến hành: GV treo một số tranh ảnh minh hoạ về ô nhiễm không khí và ô
nhiễm nguồn nước . HS quan sát ảnh và nhận xét theo yêu cầu của GV.
* Tranh ảnh về ô nhiễm không khí:

* Tranh ảnh về ô nhiễm nguồn nước:
* Hình thức hoạt động: Thảo luận theo nhóm. Các nhóm cùng trao đổi và điền vào
phiếu học tập các nội dung theo yêu cầu.
* GV chia lớp làm 4 nhóm học tập
- GV phát phiếu học tập cho học sinh đã kẻ sẵn như sau: (Thời gian thảo luận là 8
phút).
* Nhóm 1, 2: Nêu nguyên nhân, hậu quả và biện pháp khắc phục của ô nhiễm
không khí
Ô nhiễm không khí
Nguyên nhân
Hậu quả
Biện pháp khắc phục
* Nhóm 3,4: Nêu nguyên nhân, hậu quả và biện pháp khắc phục của ô nhiễm
nước, nước biển.
Ô nhiễm nguồn nước
Nước sông Nước biển
Nguyên nhân
Hậu quả
Biện pháp khắc phục
- GV chọn một số phiếu học tập đã hoàn thành dán lên bảng cho cả lớp theo dõi và
xác định đúng sai để bổ sung ý kiến ( nếu có ). Các phiếu học tập còn lại GV thu

Ví dụ 2: Bài 16: “Đô thị hóa đới ôn hoà”
* Vị trí: Giáo dục môi trường: Các vấn đề của đô thị
* Cách tiến hành: GV treo một số tranh ảnh minh họa có liên quan đến các vấn đề
của đô thị cho học sinh quan sát và nhận xét.
Ô nhiễm không khí
Nguyên nhân
- Khói bụi từ các nhà máy, động cơ giao thông và hoạt động
sinh hoạt của con người đã thải vào không khí.
Hậu quả
- Tạo nên những trận mưa A xít, làm tăng hiệu ứng nhà
kính, khiến cho Trái Đất nóng lên, khí hậu toàn cầu biến đổi,
băng ở hai cực tan chảy, mực nước đại dương dâng cao.
- Khí thải còn làm thủng tầng ô dôn.
Biện pháp khắc phục
- Tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ bầu khí quyển của
người dân.
- Trong sản xuất công nghiệp giảm thiểu lượng khí thải vào
khí quyển bằng cách sử dụng kĩ thuật công nghệ cao.
- Trồng rừng và bảo vệ rừng……

+ Hình thức tổ chức: GV cho học sinh thảo luận theo nhóm chia lớp làm 4 nhóm
thảo luận, 2 nhóm cùng trao đổi 1 nội dung (thời gian 4 phút).
- Nhóm 1, 3: Việc tập trung dân quá đông vào các đô thị sẽ nảy sinh những vấn đề
gì đối với môi trường?
- Nhóm 2, 4: Để giải quyết những vấn đề xã hội trong các đô thị, cần có những
giải pháp gì để giảm áp lực dân số ở các siêu đô thị ?
+ GV treo lên bảng câu hỏi đã ghi sẵn vào bảng phụ
+ Học sinh ghi câu trả lời vào bảng phụ. Sau đó đại diện nhóm báo cáo kết
quả, các nhóm khác bổ sung (nếu có).
- GV chuẩn xác kiến thức như sau:

2- Khi mất rừng sẽ dẫn đến những hậu quả gì?
3- Chúng ta phải làm gì để bảo vệ rừng? Hãy liên hệ với địa phương em.
Ví dụ 2: Bài 9 : Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở đới nóng (Địa lí lớp 7)
Khi dạy phần 1: Đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở MT đới nóng, để khai thác vấn
đề MT và GDMT ở phần này GV có thể sử dụng biểu đồ hình 9.1 và các bức
tranh hình 9.2 , hình 9.4 kèm theo một số câu hỏi gợi mở để HS khai thác kiến
thức như:
1- Biểu đồ hình 9.1 cho chúng ta biết lượng mưa và nhiệt độ ở MT xích đạo ẩm
như thế nào?
2- Hình 9.2 cho chúng ta thấy hiện tượng gì? Dựa vào hình 9.4 để giải thích
nguyên nhân của hiện tượng đó?
3- Cần phải làm gì để hạn chế hiện tượng xói mòn và rửa trôi đất? Hãy liên hệ tới
Việt Nam.
Ngoài ra GV có thể sử dụng tranh ảnh , băng hình, đĩa CD làm phương tiện
trực quan, để minh hoạ cho HS những hiện tượng tàn phá MT, ô nhiễm MT như
đốt phá rừng, nước thải, chất thải công nghiệp ở các thành phố…, hoặc những hậu
quả do tàn phá MT gây ra như lũ lụt, hạn hán , bệnh tật… và cả những hành động
BVMT như các khu rừng cấm, các công viên thiên nhiên, các công nghệ xử lí chất
thải…Tất cả những hình ảnh trực quan đó đều gây một ấn tượng sâu sắc đối với
HS, nó sẽ giúp các em nhận thức dễ dàng hơn vấn đề và đặc biệt nó tạo nên độ tin
cậy cao trong giáo dục.
b.4/ Thu thập và xử lí nguồn tài liệu (tư liệu, số liệu… )
Đây được xem như là một phương pháp đặc trưng của môn Địa lí, vì môn trường
luôn luôn thay đổi, biến động theo không gian và thời gian nên nhiều khi những
kiến thức trong sgk chưa đử và mang tính cập nhật nên việc thu thập và xử lí thong
tin là rất cẩn thiết.
Ví dụ : Khi dạy bài “Đặc điểm khí hậu Việt Nam” sau khi học xong bài này, GV
có thể cho HS về nhà(lên mạng, sách, báo, tivi…. ) tìm các sự kiện, số liệu nói lên
tính thất thất thường của khí hậu nước ta (các tư liệu, số liệu về các trận hạn hán,
lũ lụt, sương muối……). Hoặc khi dạy về những vấn đề kinh tế GV cũng có thể

nhanh chóng. Còn rất nhiều kiến thức học sinh cần phải nắm, phải vận dụng trong
cuộc sống của mình, đặc biệt là những kiến thức về môi trường hiện nay. Ngoại
khóa là con đường để học sinh bổ sung, mở rộng thêm kiến thức cần thiết cho
mình, hiểu biết thêm về thiên nhiên, con người ở địa phương, đất nước mình.
- Các hoạt động ngoại khóa với nhiều hình thức phong phú khác nhau, diễn ra ở
nhiều địa điểm khác nhau, đòi hỏi các cách thức hoạt động khác nhau sẽ rèn luyện
cho các em đức tính thích nghi, chủ động, năng động và qua đó rèn luyện cho các
em các kỹ năng Địa lí ( kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp….), đồng thời qua
đó cũng rèn luyện cho các em những kỹ năng sống (kỹ năng tìm kiếm và xử lí
thông tin; kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng làm
chủ bản thân…….)
- Ngoại khóa Địa lí còn có tác dụng giáo dực tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương,
đất nước, yêu lao động…………
- Ngoại khóa Địa lí giúp các em sử dụng thời gian rãnh rỗi một cách có ích, hợp lí
vào quá trình học tập của mình. Đồng thời một số hoạt động của các em còn góp
phần tích cực vào phục vụ xã hội và xây dựng nhà trường ( ví dụ như chiến dịch
truyền thong dân số, tuần lễ môi trường hay đơn giản chỉ là những buổi lao động
dọn vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh… )
Với tầm quan trọng nêu trên cho nên trong quá trình dạy học Địa lí nói chung và
giáo dục môi trường trong dạy học Địa lí nói riêng, Giáo viên có thể sử một hoạt
động ngoại khóa tùy theo điều kiện của từng trường. Sau đây là một số hoạt động
ngoại khóa đơn giản có thể thực hiện được.
* Cho học sinh làm thí nghiệm : Cây giữ đất.
- Thời gian : 2 tuần.
- Địa điểm: Ngoài trời (sân trường) hoặc trong phòng rộng.
- Dụng cụ:
+ 2 khây bằng gỗ kích thước 60cm x 30cm x 8cm ( dung gỗ tận dụng)
+ 2 chậu nước.
+ 2 bình phun nước(dùng chai nhựa rồi đục nhiều lỗ nhỏ)
+ Hạt giống (lúa, đậu, lạc….)

bảo vệ rừng và trồng cây?
* Cho học sinh đóng vai:
- Chủ đề : Phát triển bền vững ( ngoài ra giáo viên có thể lựa chọn nhiều chủ đề
khác nhau)
- Mục đích:Học sinh nhận thức được việc bảo vệ rừng không chỉ vì cuộc sống hiện
tại, mà vì lợi ích của nhiều thế hệ mai sau.
- Bối cảnh: Rừng có nhiều giá trị về đa dạng sinh học, kinh tế và môi trương cần
được bảo vệ. Tuy nhiên sự phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới đã đặt ra rừng
trước một thách thức lớn: tồn tại hay diệt vong ? Hàng ngàn hécta rừng bị triệt hạ
để lấy gỗ, củi, các loài động vật rừng cũng bị bẫy bắt sự tàn phá rừng không
những gây nhiều thảm họa nặng nề cho thiên nhiên mà còn ảnh hưởng đến sự phát
triển bền vững của nhiều thế hệ trong tương lai.
- Hoạt động này để học sinh thấy được mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế với bảo
vệ tài nguyên hết sức gây cấn, cần có những con đường giải quyết hợp lí.
- Hoạt động:
+ Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu HS xây dựng kịch bản, lời thoại, chọn diễn viên.
+ Có thể ví dụ về diễn viên, diễn xuất cho chủ đề này như sau: Không khí gia
đình sau bữa cơm chiều( các con số chỉ sự tiếp nối ý kiến)
Người ông Người cha Người con Người con út
1. Hồi ức lại tuổi
thơ sống trong một
thiên nhiên hoang
dã, giàu có.
Than phiền hiện
nay cây rừng, chim,
thú ngày càng
mất dần
6. Đề xuất: cần phải
khai phá nhưng có
mức độ để các loài

5. Mơ ước và hỏi
ông: bao giwof thì
mới được như ông
ngày xưa ?
9. Chíh phủ, cộng đồng cùng các thành viên trong gia đình trao đổi, bàn bạc về
các giải pháp vừa khai thác được rừng phục vụ cuộc sống, vừa bảo vệ phát triển
(kết hợp trình diễn một số tranh, ảnh )
* Trồng cây xanh trong trường học.
- Mục tiêu: Tạo môi trường trường học xanh, sạch, đẹp, không khí trong lành, có
bóng mát, gió từ đó Giáo dục cho học sinh biết được ý nghĩa của việc trồng,
bảo vệ cây xanh giúp cho các em có một không gian trong lành để học tập và vui
chơi.
- Thời gian: Giáo viên tùy theo điều kiện của từng trường mà lụa chọn thời gian để
cho HS tiến hành trồng cây.
- Hình thức: Trồng cây lấy bóng mát hoặc trồng cây làm cây cảnh trang trí cho
khuôn viên trường.
- Địa điểm: Vườn trường.
- Hỗ trợ: cần có sự hỗ trợ của nhà trường (hoạt động trồng cây xanh này rất dễ
thực hiện ở khối 9, vì trước khi các em ra trường các em thường có món quà tặng
lưu niệm cho nhà trường nên kinh phí sẽ dễ dàng hơn)
- Hoạt động: ( nên làm vào ngày chủ nhật)
+ Đào hố, bỏ phân vào hố, trồng cây, rào bảo vệ, tưới nước
+ Sau khi trồng xong, cần phân công cụ thể tổ, nhóm, lớp nào phụ trách việc tưới
nước, chăm sóc, bảo vệ vào các ngày nào trong tuần, đến khi cây bén rễ, bắt
đầu phát triển.
+ Bàn giao các cây trồng cho nhà trường.
* Thi hùng biện về bảo vệ môi trường(có thể kết hợp trong các tiết, buổi hoạt
động ngoài giờ lên lớp)
- Mục tiêu: Qua phần thi này học sinh có cơ hội biết, hiểu nhiều vấn đề mnag tính
thời sự như bảo vệ rừng, bảo vệ tài và môi trường biển và đảo Việt Nam, sự gia

môi trường trong từng bài dạy Địa lí phù hợp với từng đối tượng học sinh.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
- Qua những kết quả đạt được như đã nêu trên, tôi nhận thấy rằng việc đưa nội
dung giáo dục và bảo vệ môi trường vào chương trình Địa lí và các môn học khác
ở bậc THCS cũng như các bậc học khác là một vấn đề hết sức cần thiết vì giáo
dục môi trường sẽ đem lại cho người học các vấn đề sau:
+ Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường, tính phức tạp, quan hệ nhiều
mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải
của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi
trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu.
+ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một
nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng,
quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề về
môi trường, xây dựng quan niệm đúng về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân
cách để dần hình thành các kĩ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá
thẩm mĩ.
- Có tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực lựa chọn
phong cách sống, thích hợp với việc sử dung hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết
các vấn đề môi trường cụ thể nơi sinh sống và làm việc.

GIÁO VIÊN
NGUYỄN THỊ NGUYÊN THUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status