Đề tài: Phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ động trong rèn luyện kĩ năng
nói của chương trình tiếng Anh khối 7
PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO, TÍCH CỰC VÀ CHỦ
ĐỘNG TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CỦA
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG ANH KHỐI 7
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy tiếng Anh, các kỹ năng như kĩ năng viết, kĩ năng nghe, kĩ
năng đọc và kĩ năng nói dều có sự hỗ trợ cho nhau. Nếu như chúng ta tất rời nhau
thì dẫn đến việc học tiếng Anh học sinh sẽ bị lệch hướng và học sinh gặp khó
khăn lĩnh hội toàn diện trong quá trình tiếp thu cũng như vận dụng vào thực tế.
Qua nhiều năm bản thân tôi đã truyền đạt ở trên lớp cũng như những thực tiển đã
rút ra được, một vấn đề mà học sinh thường bắt gặp kho khăn trong việc tiếp thu
bài học là học sinh thường cảm thấy không tự tin vào bản thân, thường hay rụt rè,
bị động và không phát huy khả năng tự học của mình. Vậy câu hỏi đặt ra bắt đầu
vào năm học là làm sao học sinh phải có tính sáng tạo, tự học và tự tham gia tích
cực vào quá trình học tập của mình? Trên bình diện ngôn ngữ, khả năng diễn đạt
ý nghĩa của người học bắt đầu từ cách sử dụng ngôn ngữ của chính mình để nói
những gì mà mình được học và áp dụng vào thực tế.
Nhìn nhận lại những kĩ năng trên, kĩ năng nói làm cơ sở cho mọi kĩ năng khác.
Học sinh bắt đầu học tiếng Anh cũng giống như đứa trẻ mới bắt đầu tập nói tiếng
mẹ đẻ, đứa trẻ nào càng gần gũi với ngôn ngữ thì chắc chắn chúng sẽ dễ dàng hoà
nhập, giao tiếp với thế giới bên ngoài càng nhanh hơn.
Bỡi thế những đối tượng bắt đầu làm quen với ngôn ngữ tiếng Anh cụ thể là học
sinh khối 6 và 7 là rất quan trọng. Trước hết chúng phải xây dựng kĩ năng nói
làm cơ sở cho các kĩ năng khác. Vậy làm thế nào học sinh tiếp nhận kiến thức
cũng như kĩ năng cho chúng, đây là vấn đề mà bản thân tôi muốn cùng chia sẽ
trong quá trình dạy học trong năm học này. Chính vì lẽ trên tôi muốn chọn một
trong số kiến kinh nghiệm để cùng chia sẽ với đồng nghiệp cũng như đúc rút ra
để áp dung cho quá trình dạy học những năm sau.
Đề tài của tôi muốn đưa ra là: “Phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ
động trong rèn luyện kĩ năng nói của chương trình tiếng Anh khối 7”. Tuy
age, telephone number, address, grade, class, family name, distance from her
house to school, classmates, habits, hobby, date of birth, her family’s
circumstances, etc.
Chúng ta cũng có thể dẫn nhập bài giảng bằng cách đặt những câu hỏi mang
tính chất suy diễn hay đoán. Sau đây tôi có thể dẫn nhập bài giảng ở Unit 6 SGK
7 trong tiết học đầu tiên với một câu hỏi rất chung đòi hỏi học sinh vừa có thể
đoán vừa có thể diễn đạt bằng hiêủ biết của mình: What do American/
Vietnamese students usually do in their free time? Học sinh có thể liệt kê cá
nhân, đối thoại với bạn hoặc tranh luận trong lớp với nhau nhằm mục đích tìm ra
càng nhiều hoạt động càng tốt. Từ đó trong suôn suốt tiến trình bài học Unit này
giáo viên vừa ôn lại hoạt động đã học ở chương lớp 6 hoặc các bài học trước. Nói
tóm lại giáo viên chỉ cần tập trung các hoạt động của học sinh Mỹ như; play
basketball, collect things such as coins, stamps, make models of things, make
scouts, guides, join clubs, etc.
Hoạt động này chúng ta có thể sử dụng speaking in Pre-writing như hãy kể
tên các triệu chứng thông thường mà học sinh trong lớp thường hay mắc bệnh từ
đó học sinh viết được số ngày học sinh vắng học trong một năm học của lớp
mình.(Ví dụ: Last semester, there were 7 absences due to toothache. There
were 10 absences due to common cold. etc)
Trong Unit 16 tôi đưa hoạt động này vào warm - up như sau:
What are capital cities of 11 countries in ASEAN?
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Thừa - Trường THCS Lao Bảo
Đề tài: Phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ động trong rèn luyện kĩ năng
nói của chương trình tiếng Anh khối 7
Hoc sing có thể làm việc theo nhóm và tìm ra được kết quả như sau: Ha Noi
(Vietnam), Vientian (Laos), Phnom Penh (Cambodia), Yangon (Myanmar),
Singapore (Singapore), Kuala Lumpur (Malaysia), Bangkok (Thailand), etc.
Hoặc là:
What are the famous Feagures have you known?
Từ đó học sinh liên hệ với cuộc sống hằng ngày và những kiến thức đã lĩnh
định của họ trong thời gia sắp tới. Nói tóm lại Story telling và retelling tương tự
giống nhau, sự khác biệt là giáo viên vận dụng vào nội dung cụ thể của từng tiết
học.
3. Hoạt động làm việc theo đôi.
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Thừa - Trường THCS Lao Bảo
Đề tài: Phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ động trong rèn luyện kĩ năng
nói của chương trình tiếng Anh khối 7
Có thể nói rằng hoạt động theo đôi là phổ biến hơn tất cả. Hầu hết các hội
thoại từ Unit 1 đến 16 chủ là luyện tập theo đôi. Đặc tính của làm việc theo cặp là
phải có trao đổi, bổ sung về thông tin cho nhau, là nguyên cớ để người ta nói với
người khác, để đặt ra câu hỏi và tìm ra sự thật. Sự kích thích và phát huy khẩ
năng diễn đạt của học sinh là rất cao, nhu cầu tiếp nhận thông tin và trao đổi
thông tin giữa hai nguời là tương đương nhau.
Sau đây một vài ví dụ học sinh làm việc theo đôi:
a) Words / pctures - cue - drill:
Học sinh luyện tập hỏi khoảng cách (How far is it from to ?)
A: ?(your school - market)
B: . (2 kms)
C: ?Your school - movie theater)
D: (3 kms)
E: ?your school - post office)
F: (100 ms)
G: ? (your school - bus stop).
H: (1 km)
(Unit 1 - B5 Textbook 7)
Giáo viên cũng có thể thay thế từ cho trước bằng hình ảnh minh hoạ nơi
chốn và cho học sinh thực hiện theo đôi sau mỗi lượt học sinh đổi vai làm sao cả
hai vừa có đặt câu hỏi vừa có thể trả lời. Tích cực của hoạt động này là mọi đối
tượng học sinh dễ dàng tham gia, tuy nhiên giáo viên gặp khó khăn quản lí toàn
bộ lớp học mà chỉ một vài đôi. Vậy giáo viên yêu cầu vài đôi thực hiên trong lớp
Ba: Come and play basketball, Nam.
Nam: I’m sory. .(1)
Ba: (2) Why not?
Nam: Well, (3).
Ba: Can you play )4)?
Nam: Yes, I can.
Ba: All right. See you .(5)
Nam: OK. Bye
Ba: (6). (Unit 13 - B2 Textbook E7)
Từ đoạn hội thoại chưa hoàn chỉnh trên, giáo viên chỉ định hướng học sinh
làm việc, sau đó học sinh làm việc theo đôi. Đáp án tuỳ thuộc vào đối tượng cụ
thể. Vidụ (1) học sinh có thể dùng: I’m sorry. I don’t think I can / I’m busy I
have to do my homework / I prefer another time.Còn ở (2) cũng có thể thay thế
như sau: That is too bad / What a pity! / I don’t think you can’t.
Qua ví dụ trên ta thấy rằng Free control của giáo viên là rất quan trọng. Nếu
như những cụm từ trên cần thay thế thì rất là đơn giản, buộc học sinh phải tư duy
sao mà sau khi hoàn thành đoạn hội thoại trên là hợp lý nhất.Tuy nhiên ở dạng
này đòi hỏi kĩ năng và kiến thức học sinh tương đối cao vậy giáo viên cần chú ý
những đối tượng còn yếu.
4. Thảo luận theo nhóm.
Đặc tính của thảo luận nhóm là sau khi làm việc học sinh phải tạo ra một hay
nhiều sản phẩm. Kết quả của hoạt động tập thể là có được một kết quả cụ thể,
chẳng hạn người ta cùng lập nên một danh sách những ý tưỏng, xây dựng một
câu chuyện, một áp phích, hay cùng thống nhất một quan điểm.
Vậy thảo luận nhóm có những ưu điểm và những hạn chế nào? Nói về ưu
điểm thì mọi thành viên trong nhóm đều đựoc tham gia, phát huy hết khả năng
hoạt động của học sinh từ đó xác định được đối tượng trung tâm là học sinh giáo
viên được xem như là người quản trò, đồng thời qua hoạt động nhóm kích thích
tính suy luận của học sinh rất cao. Còn hạn chế của hoạt động này là tính năng
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Thừa - Trường THCS Lao Bảo
thường hay bị kẹt xe, tai nạn, ô nhiễm môi trưòng, bải đổ xe là vấn đề thời sự.
Thông qua học bài này về thực trạng của vấn đề đô thị. Vậy đặt trường hợp các
em là người có trách nhiệm cao nhất của thành phố thì em sẽ giải quyết như thế
nào. Đây là việc thảo luận tính suy luận cao nhất thì học sinh có tính cộng tác với
nhau để đưa ra kết quả tốt nhất.
5. Hoạt động điều tra.
Hoạt động nhằm thu nhặt thông tin qua việc điều tra các đối tượng theo
nhóm hay cả lớp. Học sinh có thể đóng vai hoặc không đóng vai tùy theo chủ
điểm, nội dung cần điều tra. Ví dụ trong các Unit 1, 2, và 3, sau khi học sinh đã
lĩn hội được kiến thức cách hỏi những thông tin các nhân, giáo viên có thể gợi ý
bảng câu hỏi (questionaire) như sau:
a. Name: What is your name?
b. Age: How old are you?
Giáo viên thực hiện: Nguyễn Thừa - Trường THCS Lao Bảo
Đề tài: Phát huy tính sáng tạo, tích cực và chủ động trong rèn luyện kĩ năng
nói của chương trình tiếng Anh khối 7
c. School/ Grade/ Class: Whích school/ grade/ class are you in?
d. Address: Where do you live?
e. Mean of transport: How do you go to school?
f. Distance: How far is it from your house to school?
g. Tel number: What is your telephone number?
h. Date of birth: What is your date of birth?
i.Place of work: Where do work? ect.
Sau khi điều tra học sinh có thể tổng hợp kết quả để đưa ra nhận xét hoặc so
sánh:
Ví dụ học sinh có thể so sánh sau khi điều tra bằng hai câu
hỏi sau:
a. What do American students usually do after school?
b. What do Vietnamese students usaully do after school? Hoặc là:
What are the differences between American and Vietnamese school?