Đánh giá sự thay đổi góc tiền phòng trong thử nghiệm buồng tối bằng máy chụp cắt lớp bán phần trước - Pdf 27

ĐẶT VẤN ĐỀ
Glụcụm là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Việt
Nam cũng như trên thế giới [1], trong đó thể thường gặp ở nước ta là glụcụm
gúc đúng. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời bệnh có thể gây ra
các tổn hại không có khả năng phục hồi. Vì vậy việc khám phát hiện sớm khả
năng đúng gúc ở những người có nguy cơ cao bị bệnh để điều trị dự phòng là
một biện pháp rất quan trọng.
Từ những năm 1960, các nhà nhãn khoa trên thế giới đã chú ý đến
những đặc điểm giải phẫu thuận lợi và cơ chế bệnh sinh của glụcụm gúc đúng
để từ đó đề xuất ra các thử nghiệm nhằm phát HIỆN sớm bệnh ở những người
có nguy cơ. Thử nghiệm buồng tối được mô tả lần đầu bởi Gronholm (1910)
là thử nghiệm mang tính sinh lý và an toàn, nhưng lại ít được sử dụng bởi độ
nhạy không cao [4]. Các tác giả Thiel và Wegner đã đề xuất cải tiến bằng thử
nghiệm buồng tối tư thế cúi đầu nhằm khắc phục nhược điểm trên [4].
Những năm gần đây nhờ có máy chụp cắt lớp bán phần trước (AS-
OCT) việc phát hiện nguy cơ gúc đúng trở nên dễ dàng hơn [8]. Năm 2011
nghiên cứu của tác giả Li Dejiao cho thấy hiệu quả chẩn đoán của thử nghiệm
buồng tối sử dụng máy AS-OCT cao hơn thử nghiệm buồng tối đơn thuần
[11]. Nolan WP (2010) nhận thấy AS-OCT mang lại độ nhạy và độ đặc hiệu
cao hơn cho thử nghiệm buồng tối [13]. Hiện nay tại Việt Nam chưa có báo
cáo nào về kết quả nghiên cứu ứng dụng máy AS-OCT vào thử nghiệm buồng
tối. Bởi vậy chúng tôi tiến hành đề tài “Đỏnh giá sự thay đổi góc tiền phòng
trong thử nghiệm buồng tối bằng máy chụp cắt lớp bán phần trước” với
hai mục tiêu:
1. Mô tả sự thay đổi của góc tiền phòng trong thử nghiệm buồng tối bằng
máy chụp cắt lớp bán phần trước.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả của thử nghiệm.
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thử nghiệm buồng tối

sát gồm nhiều xung phản hồi, mỗi xung mang một thông tin về chiều dày các
cấu trúc mô học khác nhau trong nhãn cầu, nhờ đó máy cho kết quả chính xác
vị trí và chiều dày các cấu trúc của nhãn cầu [Error: Reference source not found].
Máy chụp cắt lớp bán phần trước được sử dụng tại bệnh viện Mắt trung
ương là máy Visante – OCT. Máy cho hình ảnh có độ phân giải cao nhưng
nhược điểm của máy là không quan sát được những cấu trúc nằm sau biểu mô
sắc tố mống mắt. Mặc dù vậy, đối với các cấu trúc ở phía trước lớp biểu mô
sắc tố như giác mạc, củng mạc, tiền phũng, gúc tiền phòng và bề mặt thể thủy
tinh, máy có thể ghi lại hình ảnh rất chi tiết và có thể đo đạc định lượng được
cụ thể.
1.2.2. Ứng dụng của máy chụp cắt lớp bán phần trước trong glụcụm
góc đúng
Chẩn đoán gúc đúng nguyờn phỏt
Trong tất cả các ứng dụng của máy AS-OCT, khả năng phát hiện gúc
đúng được đánh giá là quan trọng nhất. Nó mang lại một phương pháp soi góc
không tiếp xúc để xác nhận sự có mặt của gúc đúng. Cỏc hình ảnh cắt ngang
của tiền phòng cho thấy mối liên quan giữa mống mắt chu biên, cựa củng mạc
và thành của góc. [8], [6]
Đánh giá kết quả điều trị gúc đúng nguyờn phỏt
Theo dõi sau phẫu thuật glụcụm
3
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 11 năm 2011
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Những người có yếu tố nguy cơ cao bị glụcụm
gúc đúng nguyờn phỏt
Tiêu chuẩn lựa chọn: Các đối tượng từ 35 tuổi cú cỏc đặc điểm sau:
• Độ sâu góc tiền phòng chu biờn (phớa thái dương) đánh giá theo
phương pháp Van Herrick ≤ ẳ bề dày giác mạc.
• Chưa có biểu hiện bệnh của người bệnh glụcụm gúc đúng nguyờn phỏt.

đóng. Đánh giá tình trạng của góc tiền phòng tại vị trí 3:00 (270˚) và 9:00
(90˚). Đo các chỉ số: AOD 500 (khoảng mở của góc tiền phòng tại điểm cách
cựa củng mạc 500 micromet) (àm), AOD 750 (khoảng mở của góc tiền phòng
tại điểm cách cựa củng mạc 750 micromet) (àm), TISA 500 (diện tích mở của
góc tiền phòng tại điểm cách cựa củng mạc 500 micromet) (àm
2
), TISA 750
(diện tích mở của góc tiền phòng tại điểm cách cựa củng mạc 750 micromet)
(àm
2
), Độ mở của góc tiền phòng, TICL độ dài khoảng tiếp xúc giữa mống
mắt và thành góc (àm).
- Chụp OCT bán phần trước trong điều kiện tối: Tiền
phòng được chụp lấy 3 hình và mỗi hình lại được đo các chỉ số như trên.
- Thử nghiệm được coi là dương tính trên OCT khi số
gúc đúng sau 3 phút trong điều kiện tối tăng lên từ 1/8 góc so với trong
điều kiện sáng. [Error: Reference source not found]
 Tiến hành thử nghiệm buồng tối tư thế cúi đầu:
- Thử nghiệm được coi là dương tính khi chênh lệch nhãn áp trước và sau
thử nghiệm ≥ 8 mmHg.[1]
 Soi góc
Soi góc bằng kính soi góc Goldmann 1 mặt gương trong buồng tối với
ánh sáng đèn khe hẹp tối thiểu. Độ mở của góc tiền phũng trờn soi góc được
đánh giá theo phân loại của Shaffer:
2.5. Xử lý số liệu:
Số liệu sẽ được xử lý bằng chương trình SPSS 16.0.
Các phép toán sử dụng: so sánh hai trung bình bằng phép so sánh cặp; so sánh
các tỷ lệ của hai nhóm và tính hệ số tương quan của Pearson.
5
2.6. Địa điểm nghiên cứu:

tiền sử liên quan đến bệnh glụcụm.
Tuổi 35- 45 46-60 > 60 Tổng
Số người 2(4,9%) 27(65,9%) 12(29,2%) 41(100%)
TL TL<20/200 20/200-≤ 20/120 20/100 -≤20/50 TL > 20/50 Tổng
Số
người
0
(0%)
5
(7,8%)
18
(28,1%)
41
(64,1%)
64
(100%)
7
3.2.Mô tả sự thay đổi của tiền phòng và góc tiền phòng trong thử nghiệm
buồng tối
3.2.1. Tình trạng của tiền phòng và góc tiền phòng trong điều kiện sáng và
tối đánh giá bằng Visante OCT
Bảng 3.3: Tình trạng tiền phòng trong điều kiện sáng và tối đo bằng
Visante OCT
Điều kiện sáng
TB±SD [min - max]
Điều kiện tối
TB±SD [min - max]
P
Độ sâu trung tâm
TP(mm)

[90 - 520]
147 ± 67
[60 - 310]
0,000
TISA 500 (àm
2
) 99±0,0284
[20 - 160]
50 ± 31
[0 - 150]
0,000
TISA 750 (àm
2
) 190 ± 40
[50 - 230]
90 ± 40
[10 - 200]
0,000
TICL (àm) 65,58 ± 96,20
[0 – 303]
183,38 ± 155,43
[0 – 655,5]
0,000
Độ mở của góc TP
(˚)
16,85 ± 5,80
[7,7 – 30,3]
10,14 ±5,58
[0 – 23,55]
0,000

Kết quả thử nghiệm Dương tính Âm tính Tổng
Mắt glụcụm tiềm tàng 12
66,67%
6
33,33%
18
100%
Mắt bình thường 10
21,74%
36
78,26%
46
100%
Tổng 22 42 64
Tỷ lệ dương tính trên những mắt glụcụm gúc đúng tiềm tàng là 66,67%,
cao hơn tỷ lệ này trên mắt của người bình thường (21,740) có ý nghĩa thống
kê với p=0,002.
Bảng 3.6 Nhãn áp trung bình trước thử nghiệm và kết quả thử nghiệm
Kết quả thử nghiệm Dương tính Âm tính P
NA trung bình (mmHg) 13,79±1,548 12,79±1,754 0,028
NA trung bình trước thử nghiệm của nhóm kết quả thử nghiệm dương tính
cao hơn nhóm kết quả thử nghiệm âm tính có ý nghĩa thống kê với p = 0,028.
Bảng 3.7 Số góc tiền phũng đúng liên quan đến kết quả của thử nghiệm
Kết quả thử nghiệm Dương tính Âm tính P
Số gúc đúng 4,82 ± 1,14 1,43 ± 1,35 0,000
Số góc tiền phũng đúng của nhóm kết quả thử nghiệm dương tính cao
hơn nhóm kết quả thử nghiệm âm tính có ý nghĩa thống kê với p = 0,000.
Bảng 3.8 Liên quan giữa số gúc đúng trờn Visante OCT trong điều kiện tối
với tỷ lệ dương tính của thử nghiệm buồng tối.
10

tính bằng 0%. Như vậy ở những NB khi chụp OCT trong tối có độ mở của góc
TP dưới 5 thì khả năng tăng NA do đúng gúc gần như là chắc chắn sẽ xảy ra.
Biểu đồ 3: Liên quan giữa độ mở của góc và nhãn áp sau thử nghiệm
Độ mở góc tiền phòng trong điều kiện tối có mối liên quan chặt chẽ đến
NA sau thử nghiệm với hệ số tương quan Pearson r = - 0,691. Độ mở của góc
TP trong điều kiện tối càng hẹp thì giá trị NA sau thử nghiệm càng cao.
12
CHƯƠNG 4
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu.
4.1.1.Tuổi :
Nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có tuổi trung bình là 56,9 ±
7,7, đa số thuộc nhóm từ 46 đến 60 tuổi ( 27 người, chiếm 65,9%). Kết quả
này phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Tuổi tác
là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh glụcụm, nguy cơ mắc
bệnh tăng rõ rệt sau lứa tuổi 40, tiếp tục tăng dần theo thời gian và gặp nhiều
nhất là trong khoảng từ 55 đến 70 tuổi [6].
4.1.2. Đặc điểm về giới
Trong số 41 đối tượng nghiên cứu tỷ lệ nữ giới cao hơn nam giới với tỷ
lệ 3:1. Giới tính nữ được ghi nhận là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
khả năng bị glụcụm gúc đúng. Ảnh hưởng của giới tính này được giải thích là do
sự khác biệt về giải phẫu, nữ giới thường có tiền phũng nụng hơn nam giới [6].
4.1.3.Tình trạng thị lực
Trong số 64 mắt nghiên cứu, số mắt đạt thị lực > 20/50 chiếm tỷ lệ chủ
yếu (41 mắt; 64,1%). Kết quả này phù hợp với đối tượng của nghiên cứu là
những người không có bệnh về mắt ngoại trừ bệnh đục thể thủy tinh không
trương phồng và tật khúc xạ. Những trường hợp thị lực kém dưới 20/120
thuộc nhóm đối tượng tuổi cao trên 60, nguyên nhân giảm thị lực là do đục
thể thủy tinh tuổi già và tật khúc xạ.
4.1.4. Tiền sử liên quan

tiền phòng khi chuyển từ sáng sang tối là sự tăng lên đường kính đồng tử và
thu hẹp của góc tiền phòng. Sự thay đổi của góc tiền phòng thể hiện qua các
14
chỉ số AOD 500 và TISA 500 liên quan chặt chẽ đến đường kính của đồng tử.
Tuy nhiên mức độ thay đổi này phụ thuộc vào từng cá thể. Dacosta Shaun
cũng dùng Visante OCT để đánh giá sự thay đổi góc tiền phòng trong điều
kiện tối trên 100 người bình thường. Kết quả là độ sâu và độ rộng của tiền
phòng không đổi, trong khi đó đường kính đồng tử tăng lên và độ mở góc tiền
phòng giảm đi một cách có ý nghĩa [7].
Từ các kết quả trên chúng tôi nhận thấy cơ chế tác động của thử
nghiệm buồng tối là gây ra sự giãn đồng tử sinh lý trong bóng tối. Khi lượng
ánh sáng đến võng mạc giảm đi thì phản xạ của đồng tử là giãn ra, diện tiếp
xúc giữa đống tử và bề mặt thể thủy tinh tăng lên gây hiện tượng nghẽn đồng
tử tương đối. Thủy dịch nghẽn ở hậu phòng đẩy mống mắt vồng ra phía trước
về phía vựng bố củng giác mạc, hiện tượng này làm thu hẹp một cách có ý
nghĩa vựng gúc tiền phòng và gây xuất hiện hiện tượng đúng gúc. Những thay
đổi ở vựng gúc gây cản trở khả năng thoát của hệ thống dẫn lưu thủy dịch,
hậu quả là tăng nhãn áp.
4.3. Kết quả của thử nghiệm
Trong thử nghiệm buồng tối cúi đầu, nhãn áp tăng lên là hậu quả của sự
kết hợp giữa hai cơ chế: sự giãn đồng tử do mắt điều tiết trong môi trường tối
và hiện tượng các thành phần của nhãn cầu bị đẩy dồn ra trước do tư thế cúi
của bệnh nhân, làm cho mống mắt áp hơn về phía mặt sau giác mạc, tăng sự
tiếp xúc giữa thể thủy tinh với bờ đồng tử gây nghẽn đồng tử và tăng tiếp xúc
giữa chân mống mắt với mặt sau giác mạc gây nghẽn góc. Tuy nhiên cơ chế
này chỉ gây tăng nhãn áp trên những người có nguy cơ, còn gần như không có
tác dụng với người bình thường, và thử nghiệm được coi là dương tính khi
sau đó nhãn áp tăng lên từ 8 mmHg.
15
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sau khi tiến hành thử nghiệm buồng tối

nhãn áp sau thử nghiệm càng cao, cũng có nghĩa là tỷ lệ dương tính của thử
nghiệm càng cao. Theo kết quả ở bảng 3, ở những mắt có độ mở góc dưới 5˚
tỷ lệ dương tính của thử nghiệm là 100%. Trong khi đó những mắt có độ mở
góc lớn hơn 10˚ thì tỷ lệ thử nghiệm dương tính bằng 0. Như vậy ở những
bệnh nhân khi chụp OCT trong tối có độ mở của góc TP dưới 5˚ thì khả năng
tăng nhãn áp do đúng gúc gần như là chắc chắn, do đó đây là một chỉ định để
điều trị dự phòng.
17
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 64 mắt của 41 người trên 35 tuổi có độ sâu tiền phòng
chu biên hẹp (theo Van herrick ≤1/4 giác mạc), không có biểu hiện bệnh lý
khác đến khám tại khoa Glụcụm từ tháng 5/2011 đến tháng 10 năm2011,
chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau
 Sự thay đổi của tiền phòng và góc tiền phòng trong thử nghiệm
buồng tối
- Đường kính đồng tử tăng lên một cách có ý nghĩa, từ 3,37 ± 0,65 mm
lên 4,31 ± 0,85 mm với p=0,000.
- Độ vồng của mống mắt tăng lên một cách có ý nghĩa, tăng từ 0,37 ±
0,06 mm lên 0,39 ± 0,06 mm với p=0,003.
- Số gúc đúng tăng lên một cách có ý nghĩa, từ 1,86 ± 1,76 gúc lờn 3,84
± 2,15 góc với p=0,000.
- Khoảng mở của góc tiền phòng và diện tích mở của góc tiền phòng tại
điểm cách cựa củng mạc 500àm và 750 àm (TISA500 và 750) giảm đi
với p=0,000.
- Độ dài khoảng tiếp xúc giữa mống mắt và thành góc tiền phòng tăng
lên một cách có ý nghĩa, từ 65,58 ± 96,20àm lờn 183,38 ± 155,43 àm
với p=0,000.
- Độ mở của góc tiền phòng giảm đi một cách có ý nghĩa, từ
16,85˚±5,80˚ xuống 10,14˚± 5,58˚ với p=0,000.

3. Trần Kế Tố (2007), “ Chụp cắt lớp quang học kết hợp”, Nhãn khoa cận
lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, TP. Hồ Chí Minh. tr.102-110.
4. Bingsong Wang, Nathan G. Congdon et al (2010), “Dark Room
Provocative Test and Extent of Angle Closure An Anterior Segment OCT
Study”. Journal of glaucoma ,Vol 19-3, p.183-187.
5. Bonomi Luciano, Giorgio Marchini et al. Epidemiology of Angle-closure
Glaucoma : Prevalence, Clinical Types and Association with Peripheral
Anterior Chamber Depth in the Egna-Neumarkt Glaucoma Study
6. Chul Hong, Tetsuyama Yamamoto (2007), Angle closure glaucoma. p.123
- 133.
7. Dacosta Shaun, Gitanjali Fernandes (2008), “Assessment of anterior
segment parameters under photopic and scotopic conditions in Indian eyes
using anterior segment optical coherence tomography”. Indian J
Ophthalmol. Jan-Feb; 56(1): p.17-22.
8. Huang David, Roger Steinert (2008), Anterior segment optical coherence
tomography. Slack Incorporated 1ed.
9. Hyana S.W., Friedman Z., Newman E. Elevated intraocular pressure in the
prone position – a new provocative test for angle closure glaucoma. Am J
ophthalmology Vol 66-1986 (661-872).
10.Leung CK, Cheung CY et al. (2007), “Dynamic analysis of dark light
changes of the anterior chamber angle with anterior segment OCT”. Invest
Ophthalmol 2007 Sep; 48 (9): p.4116-22.
11.Li, Dejiao MD; Wang, Ningli MD, PhD et al.(2011), “Modified Dark
Room Provocative Test for Primary Angle Closure”. Journal of Glaucoma.
12.Lowe RF (1962) “Acute Angle-closure Glaucoma. The Second Eye: An
Analysis of 200 Cases” British Journal of Ophthalmology ; 46: 641-50.
13.Nolan WP, See JL, Chew PT, et al. (2007), “Detection of primary angle
closure using anterior segment optical coherence tomography in Asian
eyes”. Ophthalmology 114: p.33-39.
14.SEAGIG (2008) “Asia Pacific Glaucoma Guidelines”. Scientific

BÀN LUẬN 13
4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu 13
4.1.1.Tuổi : 13
4.1.2. Đặc điểm về giới 13
4.1.3.Tình trạng thị lực 13
4.1.4. Tiền sử liên quan 13
4.2. Sự thay đổi của tiền phòng và góc tiền phòng trong thử nghiệm
buồng tối đánh giá bằng Visante OCT 14
4.3. Kết quả của thử nghiệm 15
4.4. Một số yếu tố liên quan đến kết quả thử nghiệm 16
CHƯƠNG 5 18
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status