Đánh giá hiệu quả điều trị sẹo lõm do trứng cá bằng acid trichloracetic 100% phối hợp sản phẩm tế bào gốc(Juvian) - Pdf 27

Đặt vấn đề
Trứng cá là một bệnh phổ biến ở lứa tuổi dậy thì cho đến khi 30- 40 tuổi.
Có tới 90% thanh thiếu niên bị bệnh trứng cá [7],[12],[13]. Bệnh thường xuất
hiện ở những vùng da có nang lông tuyến bã hoạt động mạnh nh mặt, ngực,
lưng, bả vai … Hình thái lâm sàng của bệnh đa dạng tuỳ theo mức độ viêm
nhiễm, tiến triển nhiều khi dai dẳng. Theo triệu chứng lâm sàng và tính chất
của bệnh, người ta chia ra làm nhiều loại trứng cá khác nhau nh trứng cá
thông thường, trứng cá đỏ, trứng cá hoại tử, trứng cá mạch lươn, trứng cá
nghề nghiệp… Trong đó trứng cá thể thông thường chiếm đại đa số. Chẩn
đoán trứng cá thường rất dễ, chỉ cần dựa vào các dấu hiệu lâm sàng.
Bệnh do nhiều tác nhân phối hợp gây ra như do tăng sản xuất bã nhờn,
tăng sừng hoá cổ ống tuyến bã, tăng sinh sản Propionibacterium acnes, do
phản ứng viêm, nồng độ dihydrotestosteron tăng cao ở mô…[16]
Nhiều trường hợp phản ứng viêm quá mức với vi khuẩn
Propionibacterium acnes đã gây ra nhiều hình thái sẹo khác nhau cho người
bệnh. Sẹo mụn trứng cá là một di chứng của bệnh xảy ra trong và xung quanh
những nang lông tuyến bã bị viêm. Sau quá trình viêm, mụn thường để lại hậu
quả là những vết thâm, sẹo lồi, sẹo lõm, sẹo phì đại hay các lỗ dò… Bệnh tuy
không có biến chứng nguy hiểm gì khác nhưng về phương diện thẩm mỹ bệnh
hoặc sẹo do bệnh gây ra làm ảnh hưởng nhiều đến tâm lý xã hội, làm người
bệnh mất tự tin, mặc cảm, nhiều khi hoang mang, lo lắng.
Do đời sống kinh tế xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu thẩm mỹ
ngày càng tăng, việc điều trị sẹo lõm do mụn trứng cá gây ra là một nhu cầu
cần thiết và cấp bách đối với ngành Da liễu và thẩm mỹ. Trên thế giới đã có
nhiều phương pháp nghiên cứu để điều trị sẹo trứng cá như cắt bỏ sẹo, bào da
1
bằng laser … nhưng những phương pháp này thường tốn kém, đòi hỏi phẫu
thuật viên có trình độ kỹ thuật cao và sự hợp tác chặt chẽ của bệnh nhân. Tuy
nhiên, hiệu quả của những phương pháp đó nhiều khi vẫn không được như
mong muốn.
Ở Việt Nam, một số phương pháp để khắc phục sẹo lõm do trứng cá đã

* Lớp đáy
Gồm một hàng tế bào hình vuông hay trụ. Bào tương ưa bazơ nhẹ, nhân
hình bầu dục hoặc dài chứa nhiều chất nhiễm sắc. Tế bào đáy có khả năng
sinh sản nên ở lớp này thường gặp hình ảnh gián phân. Các tế bào đáy liên kết
với nhau và với màng đáy bởi những cầu nối bào tương.
* Líp gai
Ở trên lớp đáy, có từ 5-10 hàng tế bào hình đa diện. Các tế bào cạnh
nhau liên kết với nhau bởi những cầu nối bào tương được gọi là những thể
liên kết (desmosom). Những tế bào của lớp gai cũng có khả năng sinh sản
bằng gián phân.
4
* Lớp hạt
Gồm 3 - 4 hàng tế bào dẹt nằm trên lớp gai. Trong bào tương tế bào lớp
hạt có chứa những hạt keratohyalin, biểu hiện quá trình hoá sừng bắt đầu.
* Lớp sáng
Lớp này chỉ có ở lòng bàn tay, bàn chân, nó nằm ở trên lớp hạt và gồm
những tế bào trong, thuần nhất không có nhân, dẹt, chúng sắp xếp thành 2
hoặc 3 hàng. Các tế bào này chứa chất eleidin hình thành do hoá lỏng các hạt
sừng, trong chứa nhiều nhóm disulfit.
* Lớp sõng
Lớp sừng ở trên cùng, các tế bào hạt trở nên dẹt hoàn toàn, màng bào
tương dầy, nhân biến mất. Trong bào tương chỉ còn toàn những sợi sừng. Mỗi
tế bào biến thành một lá sừng mỏng, các lá sừng chồng chất lên nhau, những
tế bào ở mặt trên cùng luôn luôn bị bong rơi ra.
1.1.1.2. Trung bì
Gồm 3 thành phần:
+ Những sợi chống đỡ, sợi tạo keo hay còn gọi là sợi collagen chiếm
75% trọng lượng của lớp trung bì, đóng vai trò quan trọng cho sự vững chắc
của toàn bộ da. Sợi collagen là những sợi thẳng không phân nhánh cấu tạo bởi
những chuỗi polypeptit( khoảng 20 loại axit amin). Sợi collagen có thể bị phá

tay, bàn chân). Tuyến bã tiết ra chất bã đổ vào nang lông nhờ một ống dẫn,
tuyến bã ở niêm mạc đổ thẳng lên bề mặt niêm mạc như tuyến Tyson và hạt
Fox- Fordyce.
+ Tuyến bã là chùm nang chia nhánh, nang tuyến bã có đường kính từ
0,2-2mm. Tế bào tuyến có 2 loại: tế bào chế tiết nằm phía trong( kích thước
lớn, bào tương có nhiều hạt mỡ) và tế bào tuyến Ýt biệt hoá nằm sát màng
6
TuyÕn må h«i
TÕ bµo mì
C¬ dùng
l«ng
Nang l«ng
Trung b×
TuyÕn b·
H¹ B×
H×nh 1: CÊu tróc da b×nh thêng
đáy( có khả năng phân chia, chứa nhiều ARN và các loại men esterase,
phosphatase) [1],[5], [6],[17],[12],[31].
+ Tuyến bã là tuyến toàn huỷ, chất bã và tế bào tuyến được đào thải toàn
bộ, tế bào chế tiết của tuyến bã trong bào tương chứa nhiều hạt mỡ, các hạt
mỡ dần phát triển chiếm thể tích tế bào, tế bào mất bào quan, mất nhân trở
thành hạt mỡ.
+ Hoạt động của tuyến bã chịu tác động lớn của hormon( nhất là hormon
sinh dục nam), ngoài ra còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như di truyền,
kích thích [5], [17], [7].
+ Chất bã được sản xuất chủ yếu từ tuyến bã và một phần từ thượng bì.
Chất bã là một hợp chất vô khuẩn, được tiết ra lên trên bề mặt da, làm dẻo hoá
líp sừng có tác dụng giữ độ Èm và bảo vệ da chống lại vi khuẩn, virut, nấm.
7
Thîng b×

viêm nhiễm ở trung bì với các biểu hiện là sẩn viêm, mụn mủ, cục, nang
[5], [10],[11],[8],[17],[26], [7], [31]
Khi phản ứng sát trên bề mặt da sẽ tạo nên tổn thương sẩn.
Khi các sẩn có trùm mụn mủ ở trên gọi là sẩn mủ.
Khi vị trí ổ nhiễm trùng nằm sâu hơn sẽ hình thành các tổn thương cục
và nang. Các nang chính là các tổn thương cục hoá mủ.
Cục, nang đứng thành cụm 2 – 3 cái, thương tổn viêm nhiễm nhiều hơn
tạo thành ổ áp xe có xoang thông với nhau. Các xoang và ổ áp xe thường chứa
dịch mủ lẫn máu.
Tổn thương thuyên giảm có thể để lại dát đỏ, dát thâm. Sau vài tháng,
nếu tổn thương viêm nhiễm nhiều sẽ để lại sẹo vĩnh viễn, có thể là sẹo teo
bằng chấm đến vết lõm sâu, có thể là sẹo lồi, sẹo dúm do bệnh nhân thường
bóp nặn làm tổ chức bị tổn thương và hoại tử.
1.2.3. Các thể lâm sàng trứng cá
1.2.3.1. Trứng cá thông thường (Acne Vulgaris)
Là thể rất phổ biến ở cả hai giới đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Các
tổn thương khu trú đặc biệt ở vùng da mì nh mặt (má, trán, cằm), ở vùng giữa
ngực, lưng, vai. Đôi khi nhân trứng cá ở vành tai, bọc ở ống tai, màng nhĩ và
đặc biệt gặp tổn thương u, cục, nang ở cổ, gáy [18]. Tổn thương rất đa dạng:
Nhân trứng cá, sẩn nang lông, sẩn mụn, mụn mủ, u viêm tấy, áp xe trung bì và
hạ bì. Các thương tổn này không phải thường xuyên kết hợp với nhau và có
đầy đủ trên một bệnh nhân [3],[5],[6],[10],[9],[13],[17],[7]
Tiến triển của bệnh trứng cá thông thường có khuynh hướng giảm và
khỏi một cách tự nhiên sau tuổi 20 đến 30 mà không cần điều trị. Các yếu tố
nh khí hậu, stress, thuốc bôi tại chỗ hoặc toàn thân, các chất hoá học và các
nguyên nhân bên ngoài có thể làm nặng thêm bệnh trứng cá ban đầu.
9
1.2.3.2. Trứng cá đỏ (Acne Rosacea)
Trứng cá đỏ thường gặp ở người da trắng từ 30 đến 50 tuổi. Đa số gặp ở
nữ giới, nhất là người có cơ địa da dầu. Tổn thương trứng cá đỏ thường ở

nam tuổi thanh thiếu niên. Tổn thương là các cục lan rộng, nhanh, nặng. Sau
biến thành từng mảng viêm nặng, hoá mủ, nhanh chóng để lại vết loét không
gọn. Vị trí chủ yếu ở lưng, ngực, nếu ở mặt thường là nhẹ hơn.Thể này cần có
phương pháp điều trị đặc biệt [13],[8],[11],[18].
1.2.3.7. Trứng cá do thuốc (Acne Itrogenic)
Nhiều loại thuốc có thể gây nên thương tổn dạng trứng cá, khó có thể
phân biệt với trứng cá thực sự. Tìm được nguyên nhân do thuốc rất khó, tuy
nhiên có thể dựa vào đặc điểm lâm sàng, điều kiện xuất hiện và tiến triển của
bệnh để nghĩ đến trứng cá do thuốc. Các loại thuốc và hoá chất có thể gây
trứng cá nh: Các hormon Androgen, ACTH, Testosterone, Progesterone… các
Halogen nh muối Iode, Brome, các thuốc chống lao, thuốc chống động kinh,
thuốc hướng thần, thuốc chống phân bào, Corticosteroid…
1.2.3.8. Trứng cá nghề nghiệp (Occupational Acne)
Nhiều loại dầu hắc Ýn có thể gây thương tổn dạng trứng cá. Thương tổn
loại này gần giống nh trứng cá thường: nhân, sẩn, mụn mủ và nang. Dấu hiệu
phân biệt của trứng cá nghề nghiệp là vị trí phát tổn thương, tuổi bệnh nhân
và lịch sử có tiếp xúc với hoá chất.
11
Bệnh thường gặp ở những công nhân, thợ sửa chữa máy do tiếp xúc với
dầu thô, sáp và các loại carbure hydro no hoặc không no. Tổn thương thường
tương ứng với vị trí tiếp xúc của da và thấy ở cánh tay, đùi, thân mình, đặc
biệt ở những công nhân quần áo bị ngấm dầu mỡ, vì vậy gọi là trứng cá hạt
dầu.
1.2.3.9. Trứng cá trước tuổi thành niên (Preadolescent acne)
Thể này được phân làm 3 loại đó là:
- Trứng cá sơ sinh (Neonatal acne): Xuất hiện trong 4 tuần đầu của thời
kỳ sơ sinh và trẻ trai hay bị hơn trẻ gái. Tổn thương có thể tồn tại vài tuần,
bệnh tự khỏi không để lại vết tích gì.
- Trứng cá trẻ em hay trứng cá tuổi Êu thơ (Infantile acne): Xuất hiện từ
tháng thứ 2 và có thể là do trứng cá sơ sinh tồn tại dai dẳng. Loại trứng cá này có

do ảnh hưởng của LH ở đỉnh cao kích thích tổ chức đệm của buồng trứng tiết
Androgen. Dùng viên tránh thai có Estrogen sẽ làm giảm bớt trứng cá loại này…
1.2.4. Dịch tễ học bệnh trứng cá thông thường
1.2.4.1. Tuổi
Bệnh trứng cá thông thường hay gặp ở tuổi thanh niên, 90% bệnh nhân ở
lứa tuổi từ 13 đến 19, nhưng cũng có thể bắt đầu ở tuổi 20 đến 30 hoặc muộn
hơn nữa [18],[25]. Một số tác giả khác thấy gặp chủ yếu ở tuổi 13 đến 25, nữ
có thể muộn hơn là từ 30 đến 40 tuổi [8]. Bệnh có thể bắt đầu sớm ở tuổi 8
đến 12, trẻ gái thường xuất hiện sớm hơn trẻ trai 1 tuổi và xuất hiện trước khi
có kinh 1 năm [13]. Nhưng nhìn chung cả hai giới bệnh thường giảm đi ở tuổi
20, đôi khi tồn tại đến tuổi 30, thậm chí ở tuổi 50 đến 59 tuổi còn thấy các tổn
thương [3], [13],[11].
13
1.2.4.2. Giới:
Nhìn chung các tác giả đều nhận xét rằng nữ giới gặp nhiều hơn nam
giới [3],[13],[11]. Theo Goulden thống kê tại một khoa Da liễu ở Anh thì tỷ lệ
bệnh nhân nam chiém 24%, nữ chiếm 76% [27].
14
1.2.5. Nguyên nhân của bệnh trứng cá
Nguyên nhân của bệnh trứng cá cũng khá phức tạp, có liên quan tới
nhiều yếu tố như nội tiết, tiêu hoá đặc biệt là tuyến sinh dục…Vai trò của các
tạp khuẩn trên da, trong đó tụ cầu, liên cầu và nhất là Corinebacterium cũng
được đề cập đến. Các vi khuẩn này thường ở trong nang lông, có khả năng
thuỷ phân chất bã thành acid béo, gây kích thích và gây viêm tổ chức nang
lông.
Ngoài ra, trứng cá có thể do dị ứng một số thức ăn, thuốc (Bromua,
corticosteroid, thuốc bôi goudon…) hoặc do tiếp xúc với một số hoá chất
(Dầu, mỡ, nhựa đường…) hoặc do thiếu vitamin B
2
.

thành nang lông. Tóm lại, quá trình viêm là do một phản ứng đối với dị vật và
phản ứng độc tế bào của chất bã [13],[11],[32].
1.2.6. Điều trị bệnh trứng cá
Do trứng cá là bệnh có nguyên nhân phức tạp nên việc điều trị phải được
tính đến nhiều yếu tố [13], đó là:
Kiểu trứng cá: Trứng cá đơn thuần, trứng cá viêm nhiễm hay trứng cá
phối hợp. Sự phân loại đúng sẽ dẫn tới việc lựa chọn phương pháp điều trị
thích hợp.
Mức độ trầm trọng của bệnh sẽ hướng tới có nên chỉ định điều trị toàn
thân hay không.
Xem xét tìm hiểu các yếu tố khác mà bệnh nhân có liên quan tới như:
Thuốc đã dùng, môi trường làm việc…
Bệnh nhân cần được giải thích một cách rõ ràng về bệnh tật để họ sử
dụng thuốc một cách phù hợp, không tự ngừng điều trị, không tự làm cho
16
thương tổn nặng thêm như nặn, bóp trứng cá… Cần phải cho bệnh nhân biết
rằng trứng cá không phải là bệnh thoáng qua, không thể chữa khỏi trong vòng
vài tuần mà kéo dài trong nhiều tháng, nhiều năm sau tuổi trưởng thành. Sau
khi điều trị ổn định bệnh nhân cần phải điều trị duy trì với một phương thức
nhất định.
Mục đích của điều trị trứng cá là nhằm giải quyết những vấn đề sau:
Giảm bít sự tiết bã nhờn.
Ngăn chặt sự ứ đọng chất bã.
Hạn chế quá trình viêm.
Việc sửa chữa sẹo chỉ tiến hành khi bệnh trứng cá đã ổn định.
* Các thuốc sử dụng trong điều trị trứng cá:
- Thuốc làm giảm da dầu:
+ Thuốc bôi tại chỗ: Thuốc kháng Androgen về mặt lý thuyết có tác
dụng nhất định nhưng thực tế điều trị Ýt có kết quả. Do vậy, thuốc đó chỉ
được coi là thuốc phụ, Ýt người dùng.

trình tái tạo biểu mô, tăng sinh sợi, hình thành chất collagen, hình thành tân
mạch và co tổn thương.
+ Tái tạo biểu mô: Đóng vai trò quan trọng trong quá trình liền vết
thương. Quá trình này bắt đầu từ giờ thứ 24, biểu mô phát triển từ xung quanh
mép tổn thương vào hoặc từ các thành phần khác trong lớp sâu (nang lông,
tuyến bã) các lớp tế bào đáy biểu bì tăng sinh và lan dần vào phía trong của
tổn thương, tốc độ tăng sinh này đạt tối đa vào ngày thứ 2 - 3 .
+ Co mạch tại chỗ: Là phản ứng đầu tiên và kéo dài 5 - 10 phót, do tổn
thương lớp nội mạc mạch máu, hệ thống đông máu được khởi động kéo theo
sự ngưng tập tiểu cầu tại nút máu đông. Tiểu cầu giải phóng một loạt các hoạt
18
chất sinh học (prostaglandin, serotonin, histamin, protease, thromboxan ) có
ảnh hưởng tới mạch máu, ngoài ra còn giải phóng các chất hoá hướng động
và yếu tố tăng sinh.
+ Phản ứng tiếp theo là giãn mạch tại chỗ: Do tác dụng của các chất
histamin, serotonin và kinin, tính thấm thành mạch tăng cao trong 48 - 72h đầu.
+ Phản ứng tế bào: Xảy ra chậm hơn các phản ứng của mạch máu. Các
bạch cầu đa nhân, đơn nhân, fibroblasts di tản tới vùng tổn thương. Các đại
thực bào chiếm đa số tại tổn thương vào ngày thứ 3 - 4. Ngoài vai trò thực
bào, các tế bào này tiết ra các chất hoá hướng động và yếu tố phát triển để
tăng sinh tế bào nội mạch, tế bào sợi non .
Phản ứng mạch máu và đáp ứng tế bào tại tổn thương xảy ra xen kẽ với
nhau để chuẩn bị hình thành tổ chức hạt, tổ chức biểu mô và lắng đọng
collagen. Trong những ngày đầu, sức căng tại tổn thương là nhỏ nhất, chỉ khi
có sự lắng đọng collagen thì sức căng tại tổn thương mới tăng dần.
+ Tổ chức hạt: Hình thành từ ngày thứ 3 - 4 và tồn tại cho đến khi kết thúc
biểu mô hoá. Tổ chức hạt bao gồm các tế bào viêm, tân mạch và tế bào sợi non
trên nền của các chất collagen , fibrin, glycoprotein, và glucosaminoglycan. Các
tế bào sợi non xuất hiện tại tổn thương từ ngày thứ 2 hoặc 3 và tạo ra collagen,
elastin, fibronectin, glucosaminoglycan.

đáp ứng quá thừa của mô với tổn thương da.
1.4. Các phương pháp điều trị sẹo lõm
Tuỳ theo mỗi loại sẹo mà có những chỉ định điều trị thích hợp, có thể kết
hợp nhiều phương pháp trên cùng một bệnh nhân [14], [23], [28].
1.4.1. Cắt bỏ sẹo
20
Cắt bỏ toàn bộ sẹo cả chiều sâu và chiều rộng đến lớp mỡ. Sau đó khâu
kín vùng cắt bằng chỉ không tiêu 6/ 0. Khoảng cách cắt bỏ giữa 2 sẹo tối thiểu
cách nhau từ 4 - 5 mm, nhằm tránh sức căng bề mặt của của các vết khâu. Vì
vậy không thể cắt bỏ tất cả sẹo cùng một lúc. Khoảng thời gian giữa 2 lần cắt
sẹo khoảng 4 tuần, dụng cụ dùng để cắt bỏ sẹo có thể dùng Punch Biopsy hoặc
laser CO
2
.
1.4.2. Cắt và nâng cao bề mặt sẹo
Dùng Punch Biopsy hoặc laser CO
2
cắt bỏ toàn bộ chu vi sẹo từ bề mặt
đến lớp mỡ, nâng nhẹ toàn bộ khối sẹo lên trên, cao hơn bề mặt da một chút,
sau đó khâu cố định với mô da xung quanh bằng chỉ 6/ 0.
1.4.3. Cắt mô sợi co kéo
Sử dông kim Nokor hoặc dao mổ số 11, đặc điểm kim Nokor: Đầu mũi
kim thực chất là dao mổ hình tam giác. Sát mũi dao có một lỗ thông. Khi gắn
vào Syringe chứa nước muối sinh lý hoặc thuốc tê. Đâm kim vào vùng chu vi
sẹo luồn song song đáy sẹo sau đó dịch chuyển kim để cắt các sợi co kéo, tiếp
theo là bơm dung dịch nước muối sinh lý hoặc thuốc tê để giải phóng đáy sẹo
ra khỏi các sợi co kéo.
1.4.4. Tái tạo bề mặt da
Sau khi tiến hành các phương pháp đã nêu từ 4 - 6 tuần vết thương sẽ
lành, lúc này các phương pháp tái tạo bề mặt da có thể được đặt ra.

2
Cơ chế tác động laser CO
2
lên tổ chức sống bao gồm 2 hiệu ứng:
- Hiệu ứng quang đông: Khi năng lượng bức xạ laser không quá
lớn và được giải phóng trong thời gian không quá nhanh, khi nhiệt độ vùng
chiếu tác động từ 60-100
0
C thì tổ chức sinh học bị đông kết và hoại tử.
- Hiệu ứng bốc bay tổ chức: Khi năng lượng laser tăng, nhiệt độ
vùng chiếu > 300
0
C khi đó các tổ chức sinh học nhận đủ năng lượng để bốc
hơi, đó là cơ sở ứng dụng của dao mổ laser .
- Phương pháp này có hạn chế là do không được trang bị thiết bị vi xử lý
cắt lớp 3 chiều nên việc xác định độ sâu cần bào tuỳ thuộc rất nhiều vào kỹ
22
năng thao tác của người sử dụng. Việc xác định mật độ năng lượng dựa vào
tính toán thủ công và kinh nghiệm có thể cho sai số lớn.
1.4.6. Thuốc chấm tại chỗ dung dịch Acid Trichloracetic 100% (TCA)
Acid Trichloracetic được Jean Baptiste Dumas phát hiện ra năm 1840
[19],[29]
23
- Thành phần: Acid Trichloracetic có
công thức hóa học: CCL
3
COOH, phân tử
lượng: 163,4 g/mol, tỷ trọng: 1,63g/cm
3
,

ntent.IE5/BM
W908TF/Tric
hloroacetic
%20acid
%20-
%20Wikipedi
a,%20the
%20free
%20encyclop
edia_files/10
0px-
Trichloroacet
INCLUDE
PICTURE
" /Documents
%20and
%20Settings/cus
tomer/Local
%20Settings/Te
mporary
%20Internet
%20Files/Conte
nt.IE5/Documen
ts%20and
%20Settings/PH
AM
%20QUANG
%20LONG/Loc
al
%20Settings/Te

1.4.7. Sản phẩm tế bào gốc (Thuốc bôi Juvian)
Tế bào gốc là những tế bào không chuyên biệt (chưa biệt hoá) nhưng có
khả năng trở thành những tế bào chuyên biệt và có những chức năng mới
tương ứng. Tế bào gốc của da có khả năng mở ra nhiều hướng nghiên cứu
khác nhau cho các bệnh rối loạn ở da như: Rụng tóc, sẹo do trứng cá, bỏng,
bạch biến, các bệnh da có bọng nước … Tế bào gốc làm việc như một hệ
thống sửa chữa, tái tạo bằng cách phân chia không giới hạn để biệt hóa thành
các loại tế bào khác. Dựa vào nguồn gốc, tế bào gốc được phân thành 4 dạng
chính đó là: Tế bào gốc phôi, tế bào gốc thai, tế bào gốc từ dây rốn và tế bào
gốc từ người trưởng thành.
Sản phẩm Juvian được sản xuất từ môi trường nuôi cấy tế bào gốc của
dây rốn. Juvian bao gồm các thành phần dinh dưỡng quan trọng cho da như
Collagen, type 1, acid Hyaluronic, L-Glutamine, Soybean extract, Vitamin C,
L-Proline, L-Cystein hydrochloride-H2O, L- Lysin hydrochloride, L –
Argirine hydrochloride, Cholin Chloride, I – Inositol,…Vì thế, Juvian hỗ trợ
tế bào gốc của da tăng cường hoạt động, tăng sinh các chất ngoại bào, các
chất nền tảng của trung bì do đó làm tái tạo da nhanh chóng. Sản phẩm còn có
tác dụng đặc biệt tốt cho những trường hợp da thiểu dưỡng, teo nhẽo, khô,
bong vảy hoặc bị tổn thương do ánh năng mặt trời, do dị ứng thuốc hoặc mỹ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status