Pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và thực tiễn thực hiện tại các doanh nghiệp khí hóa lỏng - Pdf 27

Khóa luận tốt nghiệp
TÓM LƯỢC
Trong những năm qua, công tác xây dựng pháp luật của Việt Nam đã từng bước
được củng cố và tăng cường nhằm tạo lập một khung pháp lý cơ bản phục vụ cho sự
phát triển bền vững của đất nước. Trong đó, pháp luật ngành nghề kinh doanh có điều
kiện nói chung và về hoạt động kinh doanh khí hóa lỏng nói riêng được coi là những
lĩnh vực khá mới mẻ và còn nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật.
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện nói chung và các
lĩnh vực được nói riêng, Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề
bức xúc mà thực tiễn đặt ra, đảm bảo thực hiện có hiệu quả pháp luật điều chỉnh hoạt
động kinh doanh khí hóa lỏng giúp phần hoàn thiện pháp luật về ngành nghề kinh
doanh có điều kiện.
Phần đầu giới thiệu các khái niệm cơ bản, quy định của pháp luật hiện hành về
ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kinh doanh khí hóa lỏng để có một cái nhìn
tổng quát về vấn đề nghiên cứu, đồng thời tiến hành đánh giá khái quát về các quy
định điều chỉnh lĩnh vực chuyên môn.
Phần còn lại của đề tài tiếp tục đi sâu phân tích các quy định của pháp luật điều
chỉnh hoạt động kinh doanh khí hóa lỏng gắn với việc tìm hiểu thực trạng thực thi
pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh khí hóa lỏng để tìm ra các hạn chế của
pháp luật cũng như việc thực thi pháp luật của doanh nghiệp, sau đó tổng kết lại quá
trình nghiên cứu đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu
quả của việc thực thi pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kinh doanh
khí hóa lỏng.
Cuối cùng là một số kết luận rút ra từ quá trình nghiên cứu và hướng phát triển
cho đề tài.
SVTH: Lâm Văn Đạo
i
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương Mại, và sự

DANH MỤC BẢNG BIỂU
-Bảng 1: Số lượng các cửa hàng kinh doanh Gas của Thương nhân trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn.
- Phụ lục III: DANH MỤC HÀNG HÓA, DỊCH VỤ KINH DOANH CÓ ĐIỀU
KIỆN (Ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính
phủ)
-Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6223:2011 Cửa hàng khí dầu mỏ hoá lỏng (LGP) -
Yêu cầu chung về an toàn
SVTH: Lâm Văn Đạo
iv
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Giải nghĩa
1 ANTT An ninh trật tự
2 ĐKKD Đăng ký kinh doanh
3 HTX Hợp tác xã
4 LPG Khí dầu mỏ hóa lỏng
5 UBND Ủy ban nhân dân
6 PCCC Phòng cháy chữa cháy
7 QLTT Quản lí thị trường
8 TTTM Trung tâm thương mại
SVTH: Lâm Văn Đạo
v
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam của chúng ta đang trên con đường đổi mới nền kinh tế, phát triển và
hội nhập. Nền kinh tế thị trường đang vận động theo những qui luật vốn có của nó. Sự
đa dạng của nền kinh tế tạo điều kiện cạnh tranh, thúc đẩy ngày một phát triển.
Tuy nhiên chính sự đa dạng đó cũng tạo nên khó khăn, bất cập trong quản lý .

SVTH: Lâm Văn Đạo
1
Khóa luận tốt nghiệp
gian qua thường thiếu và không kịp thời, làm cho công tác kiểm tra, xử phạt đối với
những vụ vi phạm trong kinh doanh LPG của các cơ quan chức năng của nhà nước rất
khó xử lý, mặt khác các gian lận thương mại trên thị trường LPG ngày càng gia tăng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Pháp luật và thực thi pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện là một vấn
đề khá mới mẻ vẫn còn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm để hoàn chỉnh dần. Kinh
nghiệm lập pháp cũng như thực thi pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều hạn chế nên
đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay, đã có những công
trình nghiên cứu đề cấp đến vấn đề pháp luật và thực thi pháp luật có liên quan đến
ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cụ thể như:
Luật Doanh nghiệp sửa đổi: Không phải đăng ký ngành nghề kinh doanh,
Báo Lao Động điện tử (http://laodong.com.vn), số 50/2014 của Tiến sỹ. Nguyễn
Đình Cung - quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương.
Theo T.S Nguyễn Đình Cung việc sửa đổi Luật doanh nghiệp hướng tới giảm
điều kiện, thủ tục đối với doanh nghiệp khi gia nhập thị trường. Theo đó, hồ sơ và nội
dung được giảm và đơn giản hóa hơn trước đây, bởi lẽ việc đăng ký ngành nghề kinh
doanh đem lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Rủi ro thứ nhất là doanh nghiệp kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ không có trong giấy ĐKKD sẽ là vi phạm và xử lý hành
chính hoặc thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự, mặc dù doanh nghiệp được phép
kinh doanh những gì pháp luật không cấm.Rủi ro tiếp thuộc về phía đối tác, nếu hợp
đồng hợp tác được ký mà doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh thì rất dễ bị tuyên
vô hiệu khi xảy ra tranh chấp.
Ngoài ra, trong thực tế triển khai nhiều ngành nghề kinh doanh không có trong
danh mục của cơ quan quản lý nhà nước dẫn tới việc doanh nghiệp phải xin ý kiến bộ
ngành liên quan mất rất nhiều thời gian, tiền bạc để có thể đăng ký. Thậm chí có doanh
nghiệp phải đăng ký ngành nghề kinh doanh không đúng với thực tế hoạt động.
Việc sửa đổi Luật doanh nghiệp theo hướng đơn giản hóa, thông thoáng hơn

nghiên cứu là Tp.Hồ Chí Minh), nêu và phân tích đặc điểm, đề xuất một số kịch bản
sự cố trong sử dụng LPG ở Việt Nam; đề xuất quy trình đánh giá sự cố môi trường
trong sử dụng LPG ở Việt Nam trên cơ sở xây dựng, hoàn thiện các cơ sở lý thuyết
phù hợp với đặc điểm trong sử dụng LPG ở Việt Nam.
Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã tiếp cận vấn đề liên quan đến
việc thực hiện pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện ở những phạm vi và
mức độ khác nhau, cho đến nay chưa một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một
cách có hệ thống, đồng bộ, gắn với việc khảo sát thực tiễn.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Trước tình hình còn nhiều hạn chế trong việc tìm hiểu pháp luật của chủ thể thực
thi pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và những tồn tại còn gặp phải của
các chủ thể kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) tôi quyết định lựa chọn đề tài:
“Pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và thực tiễn thực hiện tại các
doanh nghiệp khí hóa lỏng” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp để kiến
nghị và hoàn thiện giúp cho các quy định của pháp luật phù hợp hơn với thực tiễn hoạt
động kinh doanh của các chủ thể.
SVTH: Lâm Văn Đạo
3
Khóa luận tốt nghiệp
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài hướng đến là các quy định của pháp luật về
ngành nghề kinh doanh có điều kiện, về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) và
thực trạng việc thực thi pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh khí hóa lỏng
(LPG), từ đó đề xuất vấn đề cần sửa đổi, bổ sung, đưa ra các giải pháp, kiến nghị đối
với các chủ thể thực thi pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về kinh doanh khí hóa
lỏng (LPG) của các cơ sở, chủ thể kinh doanh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Về thời gian: Khi đánh giá thực trạng chỉ khảo sát ở tỉnh Lạng Sơn với tư cách là

hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
- Đề xuất được những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ngành nghề kinh
doanh có điều kiện và hoạt động kinh doanh khí hóa lỏng (LPG)
6. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp
luật của Nhà nước về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, áp dụng các phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn về ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại Việt Nam.
Ngoài ra còn áp dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng
hợp, nghiên cứu thực tiễn(thu thập số liệu)… để giải quyết những vấn đề mà đề tài
nghiên cứu.
- Thu thập các tài liệu, số liệu về hoạt động kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh
Lạng Sơn trong thời gian qua (từ năm 2005 đến nay)
- Tổng hợp, thống kê và phân tích kết quả số liệu để đánh giá thực trạng tình hình
kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Dựa trên nền tảng các số liệu và tài liệu thực tiễn thu thập được, tiến hành tổng
hợp các kết quả đánh giá từ các nguồn tài liệu, tổng hợp thực trạng thực thi pháp luật
của các doanh nghiệp, qua đó phân tích rút kinh nghiệm, nêu xu hướng hoàn thiện
pháp luật.
Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành
những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát
hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu
được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ
những yếu tố bộ phận ấy.
Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được
nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy
muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia
nó theo cấp bậc.
Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông

SVTH: Lâm Văn Đạo
6
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH
NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VÀ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH KHÍ HÓA LỎNG
1.1. Khái quát chung về ngành nghề kinh doanh có điều kiện
1.1.1. Khái niệm ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là ngành nghề mà pháp luật về đầu tư và
pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh
doanh các ngành nghề đó khi có đủ điều kiện.
Tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 (quy định chi
tiết Luật Thương Mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và
kinh doanh có điều kiện) quy định về Điều kiện kinh doanh hàng hóa, dịch vụ kinh
doanh có điều kiện như sau:
a) Hàng hóa, dịch vụ kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp
luật;
b) Chủ thể kinh doanh phải là thương nhân theo quy định của Luật Thương mại;
c) Cơ sở kinh doanh phải đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật, trang thiết bị, quy
trình kinh doanh và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật; địa điểm đặt cơ
sở kinh doanh phải phù hợp với quy hoạch phát triển mạng lưới kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ kinh doanh có điều kiện;
d) Cán bộ quản lý, cán bộ ký thuật và nhân viên trực tiếp mua bán hàng hóa,
nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ phải đảm bảo các yêu cầu về trình độ nghiệp vụ,
chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và sức khỏe theo quy định của pháp luật;
đ) Thương nhân kinh doanh phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
trong trường hợp pháp luật quy định phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
do cơ quan có thẩm quyền cấp khi kinh doanh.
Như vậy khi đăng ký kinh doanh ngành, nghề mà pháp luật quy định điều kiện
kinh doanh thì các thương nhân phải có đầy đủ các điều kiện đã được quy định trên

động kinh tế một cách tốt hơn và hiệu quả hơn, nhà nước đã phân chia ra các nhóm
ngành nghề kinh doanh, tạo lập nên một khung pháp lý để các chủ thể kinh doanh có
quyền tự do kinh doanh trong đó. Hơn nữa thông qua pháp luật về ngành nghề kinh
doanh nhà nước điều tiết được hoạt động sản xuất giữ được sự phát triển ổn định và
bền vững cho nền kinh tế bằng cách nhà nước đề ra các chính sách có thể tạo điều kiện
ưư đãi để ngành nghề đó phát triển hoặc hạn chế sự phát triển của ngành nghề đó.
1.1.2. Các điều kiện
Đối với một số ngành nghề Nhà nước cần hạn chế hoặc đặc biệt hạn chế kinh
doanh do có liên quan đến vấn đề môi trường, vấn đề trật tự an toàn xã hội hoặc phải
tuân theo những quy tắc nghề nghiệp chặt chẽ pháp luật không cấm kinh doanh nhưng
kiểm soát chủ thể kinh doanh bằng việc buộc họ phải đáp ứng đủ các điều kiện kinh
doanh cần thiết. Quá trình này được thực hiện thông qua thủ tục xin cấp giấy phép
kinh doanh/giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc thủ tục cam kết thực hiện
đầy đủ các điều kiện kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
1.1.2.1. Giấy phép kinh doanh
a.Khái niệm: Giấy phép kinh doanh là loại giấy tờ do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền cấp, cho phép chủ thể kinh doanh tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh
doanh nhất định.
SVTH: Lâm Văn Đạo
8
Khóa luận tốt nghiệp
+ Giấy phép kinh doanh tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau như: giấy chứng
nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh, giấy xác nhận, giấy phê duyệt,
quyết định phê duyệt, thông báo chấp nhận về bản chất, tất cả những loại giấy tờ trên
đều được coi là giấy phép kinh doanh vì ngoài thủ tục chung là đăng ký kinh doanh,
doanh nghiệp sẽ không được tiến hành những hoạt động kinh doanh nếu không có
những loại giấy phép này.
+ Theo quy định của pháp luật hiện hành quy định: Doanh nghiệp có quyền hoạt
động kinh doanh kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với những
ngành nghề kinh doanh điều kiện thì doanh nghiệp được quyền kinh doanh các ngành

cấp sau khi đã thẩm định kiểm tra các điều kiện kinh doanh mà người kinh doanh bắt
buộc phải đáp ứng. Xuất phát từ đặc điểm này, có thể xác định giấy phép kinh doanh
được cấp theo từng ngành, lĩnh vực.
+ Giấy phép kinh doanh thuộc ngành thương mại, ví dụ: Giấy phép kinh doanh
thuốc lá, giấy phép kinh doanh rượu, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xăng
dầu, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh khí đốt hóa lỏng, giấy chứng nhận kinh
doanh cửa hàng miễn thuế…
+ Giấy phép kinh doanh thuộc ngành văn hóa thông tin, ví dụ giấy phép thực
hiện quảng cáo, giấy phép hoạt động karaoke vũ trường, giấy phép hoạt động ngành
in, giấy phép cung cấp thông tin lên mạng internet…
+ Giấy phép kinh doanh thuộc ngành tài chính, ngân hàng ví dụ giấy phép thành
lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; giấy
phép hoạt động kinh doanh chứng khoán; giấy phép thành lập và hoạt động của công
ty tài chính cổ phần, giấy phép thành lập và hoạt động của công ty cho thuê tài chính,
giấy phép kinh doanh vàng tiêu chuẩn quốc tế, giấy phép sản xuất vàng miếng, giấy
phép hoạt động ngoại hồi…
+ Giấy phép kinh doanh thuộc ngành công nghiệp ví dụ như giấy phép khảo sát,
khai thác, chế biến khoáng sản; giấy phép kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp, quyết
định cho phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp…
+ Giấy phép kinh doanh thuộc ngành công an: giấy xác nhận đủ điều kiện về an
ninh trật tự. Giấy phép vận chuyển vật liệu nổ.
+ Và nhiều giấy phép kinh doanh thuộc các ngành kinh tế khác.
* Thẩm quyền cấp:
Xuất phát từ phân ngành để quản lý và căn cứ vào tính phức tạp của hoạt động
kinh doanh, giấy phép kinh doanh có thể do cơ quan cấp bộ, cấp sở, cấp huyện hoặc
một số cơ quan khác…. cấp cho người kinh doanh. Một số quy định cụ thể như:
+ Bộ công an (cục quản lý hành chính về trật tự xã hội) có thẩm quyền cấp giấy
xác nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự.
+ Bộ công thương (hoặc sở thương mại được Bộ công thương ủy quyền) có thẩm
quyền cấp giấy phép kinh doanh cho thương nhân mua thuốc lá từ các doanh nghiệp

+ Đối tượng áp dụng: chứng chỉ hành nghề chỉ được cấp cho các cá nhân có đủ
trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về một ngành nghề nhất định.
+ Thẩm quyền cấp: chứng chỉ hành nghề là văn bản do cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cấp ví dụ như các bộ, ngành hoặc hiệp hội nghề nghiệp được Nhà nước ủy
quyền.
+ Ý nghĩa pháp lý: chứng chỉ hành nghề là một loại giấy tờ cần phải có trong hồ
sơ đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề mà pháp
luật đòi hỏi có chứng chỉ hành nghề. Vì vậy chứng chỉ hành nghề có tính chất là điều
kiện thành lập doanh nghiệp (điều kiện đăng ký kinh doanh) hơn là một điều kiện để
hoạt động kinh doanh trên thực tế bởi vì ở thời điểm được cấp chứng chỉ hành nghề,
chủ thể kinh doanh chưa ra đời và người được cấp văn bản này mới chỉ được Nhà
nước cho phép hành nghề mà chưa thể hoạt động kinh doanh trên cơ sở chứng chỉ
hành nghề đó.
SVTH: Lâm Văn Đạo
11
Khóa luận tốt nghiệp
c. Các ngành nghề yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề
Theo quy định hiện hành thì những ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ
hành nghề bao gồm:
- Kinh doanh bất động sản
- Kinh doanh dịch vụ pháp lý
- Kinh doanh dịch vụ khám, chữa bệnh và kinh doanh dược phẩm
- Kinh doanh dịch vụ thú y và kinh doanh thuốc thú y
- Mua bán di vật, cổ vật quốc gia
- Kinh doanh dịch vụ thiết kế công trình
- Kinh doanh dịch vụ kiểm toán
- Kinh doanh dịch vụ môi giới chứng khoán
- Kinh doanh dịch vụ thiết kế phương tiện vận tải.
- Kinh doanh dịch vụ kế toán
- Sản xuất, gia công, sang chai đang gói, mau bàn thuốc bảo vệ thực vật

doanh nghiệp.
- Vốn pháp định khác với góp của các chủ sở hữu khác với vốn kinh doanh. Vốn
góp, vốn kinh doanh phải lớn hơn vốn pháp định hoặc bằng vốn pháp định.
b. Các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cần có vốn pháp định
Theo pháp luật hiện hành, chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đến
tài chính mới có quy định về vốn pháp định.
- Kinh doanh chứng khoán
- Kinh doanh bảo hiểm
- Kinh doanh vàng
- Kinh doanh tiền tệ
- Kinh doanh dịch vụ đòi nợ
- Kinh doanh nữ hành
- Kinh doanh dịch vụ giới thiệu việc làm
1.1.2.4. Các yêu cầu mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới được quyền
kinh doanh ngành nghề đó mà không cần xác nhận, chấp thuận dưới bất kỳ hình
thức nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
* Điều kiện kinh doanh không cần giấy phép là các điều kiện mà thương nhân
phải đáp ứng khi kinh doanh một hoặc một số ngành nghề nhất định do pháp luật quy
định và không thông qua cơ chế cấp giấy phép kinh doanh.
* Ý nghĩa việc áp dụng "điều kiện kinh doanh không cần giấy phép" có ý nghĩa
làm tăng tính chịu trách nhiệm của thương nhân trong hoạt động kinh doanh, bởi vì với
phương thức quản lý kinh doanh này, Nhà nước chỉ ghi nhận chứ không chịu trách
nhiệm về các điều kiện kinh doanh do đó thương nhân kê khai. Thương nhân phải có
trách nhiệm cao và thường xuyên về những cam kết kinh doanh đã đăng ký. Cơ quan
Nhà nước có vai trò giám sát thực hiện và tạo ra cơ chế giám sát thực hiện hoạt động
kinh doanh một cách khoa học và hiệu quả.
* Cơ quan có thẩm quyền ban hành
Điều kiện kinh doanh có điều kiện không cần giấy phép thường do các bộ ngành
quy định cụ thể. Trong ngành thương mại, quyết định số 1363/2000/QĐ-BTM quy
định 4 ngành nghề, mặt hàng kinh doanh có điều kiện không cần giấy phép. Ngoài

3
H
8
) và Butane (công thức hóa học: C
4
H
10
) có nguồn gốc từ dầu mỏ, tên tiếng Anh:
Liquefied Petroleum gas (viết tắt là LPG); tại nhiệt độ, áp suất bình thường LPG ở thể
khí và khi được nén đến một áp suất, nhiệt độ nhất định LPG chuyển sang thể lỏng,
được tồn chứa tại các bồn bể cố định, xe bồn, hoặc tầu thủy chuyên dụng hoặc đường
ống, còn gọi là LPG rời (sau đây gọi chung là LPG), dùng làm chất đốt, nhiên liệu
động cơ, nguyên liệu phục vụ sản xuất, dân sinh.
Là sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ, LPG có đặc tính ưu việt là một loại nhiên
liệu sạch, tồn chứa dưới dạng lỏng, sử dụng dưới dạng hơi, vận chuyển dễ dàng, nhiệt
trị cao. Ứng dụng của LPG là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp (hoá chất,
SVTH: Lâm Văn Đạo
14
Khóa luận tốt nghiệp
mỹ phẩm, thực phẩm) và nông nghiệp; sử dụng cho quá trình đốt sinh nhiệt và làm nhiên
liệu.
- Kinh doanh LPG là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các hoạt
động trong chuỗi kinh doanh LPG: sản xuất, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu, tồn chứa,
nạp, phân phối, tạm nhập tái xuất, cho thuê kho, cảng, giao nhận và vận chuyển nhằm
mục đích sinh lời.
- Thương nhân phân phối LPG cấp I là thương nhân mua LPG của thương nhân
xuất khẩu, nhập khẩu hoặc thương nhân sản xuất, chế biến LPG để phân phối cho tổng
đại lý, đại lý kinh doanh LPG.
- Thương nhân kinh doanh LPG đầu mối bao gồm: thương nhân xuất khẩu, nhập
khẩu, thương nhân sản xuất, chế biến và thương nhân phân phối LPG cấp I.

- Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết
Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh
doanh có điều kiện;
- Nghị định số 107/2009/NĐ-CP ngày 26/11/2009 của Chính phủ về kinh doanh
khí dầu mỏ hóa lỏng;
- Nghị định số 105/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011 của Chính phủ Quy định xử
phạt vi phạm hành chính về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng;
- Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2009 Quy định điều kiện về
an ninh, trật tự đối với một số ngành,nghề kinh doanh có điều kiện;
- Quyết định số 28/2006/QĐ-BCN ngày 16/8/2006 của Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp về Ban hành quy chế quản lý kỹ thuật an toàn về giao nhận, vận chuyển khí
dầu mỏ hóa lỏng bằng bồn chứa;
- Quyết định số 36/2006/QĐ-BCN ngày 16/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp về Ban hành quy chế quản lý kỹ thuật an toàn về nạp khí dầu mỏ hóa lỏng vào
chai;
- Tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 6223-2011: Yêu cầu chung về an toàn cửa hàng
kinh doanh khí hóa lỏng.
- Thông tư số 41/2011/TT-BCT ngày 16/12/2011 của Bộ Công Thương về việc
ban hành quy định về quản lý an toàn trong lĩnh vực khí dầu mỏ hoá lỏng
- Thông tư số 11/2010/TT-BCT ngày 29/3/2010 của Bộ Công Thương về việc
ban hành Quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng;
- Thông tư số 12/2010/TT-BKHCN ngày 30/7/2010 của Bộ Khoa học và Công
nghệ hướng dẫn về quản lý đo lường, chất lượng trong kinh doanh khí dầu mỏ hóa
lỏng và một số văn bản khác có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng
như quản lý kinh doanh mặt hàng khác đã được ban hành nhằm tuyên truyền, hướng
dẫn các cơ sở kinh doanh hoạt động đúng theo quy định của pháp luật.
b, Điều kiện kinh doanh khí đốt hóa lỏng
Dựa trên các căn cứ pháp lý quy định về hoạt động kinh doanh khí hóa lỏng ta có
các điều kiện đối với chủ thể kinh doanh khí hóa lỏng như sau:
- Điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu LPG

theo đúng quy hoạch, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt cho phép đầu tư xây
dựng,
3. Có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kỹ thuật sản xuất, chế biến LPG.
4. Có phòng thử nghiệm chất lượng LPG đủ năng lực để kiểm tra chất lượng
LPG theo quy định hiện hành.
5. Có kho LPG (ngoài sức chứa kho đã được phê duyệt trong dự án đầu tư) với
tổng dung tích các bồn chứa tối thiểu 5.000 m
3
(năm nghìn mét khối) được xây dựng
theo quy hoạch, bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật hiện hành để tiếp nhận LPG nhập khẩu từ
tầu hoặc phương tiện vận chuyển khác.
- Điều kiện đại lý kinh doanh LPG
1. Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký đại lý kinh
doanh LPG.
2. Có cửa hàng bán LPG chai hoặc trạm nạp LPG vào ô tô được cơ quan Công an
có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện phòng cháy và chữa cháy, Giấy xác
nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật.
SVTH: Lâm Văn Đạo
17
Khóa luận tốt nghiệp
3. Có hợp đồng đại lý với thương nhân kinh doanh LPG đầu mối hoặc tổng đại lý
đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Nghị định này; thời hạn hợp đồng đại lý tối thiểu: 01
(một) năm, còn hiệu lực thi hành.
- Điều kiện cửa hàng bán LPG chai
Cửa hàng bán LPG chai đáp ứng đủ các điều kiện dưới đây được cấp Giấy chứng
nhận đủ điều kiện kinh doanh LPG:
1. Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có đăng ký bán LPG chai.
2. Có hợp đồng mua LPG chai với đại lý hoặc tổng đại lý hoặc thương nhân kinh
doanh LPG đầu mối đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Nghị định này; thời hạn hợp
đồng tối thiểu là 01 (một) năm, còn hiệu lực thi hành.

Khóa luận tốt nghiệp
- 01 chậu nước xà phòng 2 L.
4. Tất cả thiết bị chữa cháy phải để ở nơi thuận tiện gần cửa ra vào hoặc tại vị trí
an toàn trên các đường giữa các chồng chai LPG để sẵn sàng sử dụng khi cần thiết.
5. Phát hiện và xử lý chai LPG khi bị rò rỉ.
- Phải thường xuyên kiểm tra để phát hiện rò rỉ. Khi phát hiện mùi gas, hoặc thiết
bị báo động phát tín hiệu, phải nhanh chóng xác định nơi bị rò rỉ. Dùng nước xà phòng
bôi lên những nơi nghi rò rỉ để xác định có bị rò rỉ hay không. Tuyệt đối không được
dùng ngọn lửa để tìm chỗ rò rỉ;
- Đánh dấu chai bị rò rỉ và chỗ rò rỉ;
- Phải loại trừ ngay bất kỳ nguồn gây cháy nào gần khu vực chai LPG;
- Bịt chặt chỗ rò rỉ lại và kịp thời di chuyển chai bị rò rỉ ra ngoài, đặt xa nguồn
lửa và nơi đông người;
- Phải thông báo cấm hút thuốc và các nguồn gây cháy;
- Không được tháo bỏ hoặc sửa van chai đã bị hư hỏng, mà chuyển cho cơ sở nạp
xử lý;
- Khoanh vùng xếp đặt các chai bị rò rỉ, có treo biển cấm người qua lại và thông
báo ngay sự cố cho người cung cấp hàng.
6. Cấm tiến hành việc sửa chữa, bảo dưỡng chai LPG tại cửa hàng. Các chai hư
hỏng cần sửa chữa phải được chuyển đến bộ phận có chức năng.
7. Cấm mọi hình thức sang chiết nạp chai LPG tại các cửa hàng.
8. Cấm bán chai LPG mini nạp lại (đối với chai LPG mini chỉ sử dụng một lần
không được phép nạp lại).
- Chịu sự Thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng có thẩm quyền
1. Thương nhân kinh doanh LPG phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan
chức năng có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kinh doanh LPG.
2. Việc thanh tra, kiểm tra cơ sở kinh doanh LPG của thương nhân phải thực hiện
đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra.
3. Cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo, tổ

gia (Chi Ma, Bình Nghi) và 7 cặp chợ biên giới tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành
điểm giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của tỉnh trong cả nước với
Trung Quốc, sau đó sang các nước Trung Á, châu Âu.
- Điều kiện về kinh tế
+ Dân số, lao động – việc làm: Theo kết quả tổng quan kinh tế - xã hội tỉnh Lạng
Sơn năm 2012 của Cục Thống kê tỉnh, ước tính dân số của tỉnh Lạng Sơn có khoảng
745 nghìn người. Trong đó nam là 372 nghìn người, chiếm 49,95% tổng dân số cả
tỉnh; nữ là 373 nghìn người chiếm 50,05 %. Dân số khu vực thành thị 143,3 nghìn
người chiếm 19,22 % tổng dân số; dân số khu vực nông thôn 602,1 nghìn người chiếm
80,7%, đây sẽ là nguồn lao động dồi dào phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của
địa phương.
Cơ cấu dân số tỉnh Lạng Sơn trẻ, nguồn lao động khá dồi dào. Lực lượng lao
động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 490,6 nghìn người tăng 2,38 % so với năm 2011;
trong đó lao động nam chiếm 50,16%, nữ chiếm 49,84%. Cơ cấu lao động trong khu
vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 78,05%; khu vực công nghiệp - xây dựng
chiếm 4,65 %; khu vực dịch vụ chiếm 17,3%.
Các ngành và địa phương đã triển khai nhiều chương trình dạy nghề cho lao
động nông thôn nhằm giải quyết việc làm tại chỗ và cung cấp lao động cho các khu
vực công nghiệp.
SVTH: Lâm Văn Đạo
20

Trích đoạn Những hạn chế, tồn tại của pháp luật về điều kiện kinh doanh LPG Những tồn tại của các quy định pháp luật về kinh doanh khí hóa lỏng Nguyên nhân HOẠT ĐỘNG KINH DOANH KHÍ HÓA LỎNG 3.1 Quan điểm và định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước Các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh LPG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status