Tiểu luận môn tài chính quốc tế Sự tăng giá của đồng Nhân dân tệ sẽ ảnh hưởng như thế nào lên thặng dư của Trung Quốc trong thương mại gia công chế biến - Pdf 27

5
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
KẾT LUẬN – HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 37
DANH MỤC TƯ LIỆU THAM KHẢO 39
5
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tỷ giá hối đoái đóng một vai trò rất quan trọng, nó có tác động đáng kể tới những
biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói
riêng. Nó có thể thay đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc
tế. Tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu có quan hệ mật thiết với nhau.
Hãy xét đến Trung Quốc, là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, với có tốc độ tăng
trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, có lượng dự trữ ngoại hối lớn, có tốc độ và kim
ngạch tăng trưởng thương mại hàng đầu thế giới, có thị trường nội địa rộng lớn và
đầy tiềm năng…Vài nét sơ qua như vậy cũng có thể đánh giá tầm quan trọng trong
ảnh hưởng của Trung Quốc tới nền kinh tế toàn cầu.
Qua phân tích ta thấy, lượng thặng dư thương mại khổng lồ là một vấn đề cho
Trung Quốc và các nước còn lại trên thế giới. Và nó bắt nguồn chủ yếu từ thương
mại gia công chế biến. Vậy khi thay đổi tỷ giá hối đối sẽ ảnh hưởng như thế nào đến
nhập khẩu để gia công chế biến và chế biến xuất khẩu của Trung Quốc.
Thấy rõ được tầm quan trọng của việc nghiên cứu ảnh hưởng tỉ giá hối đoái đến
hoạt động xuất nhập khẩu tại Trung Quốc, nhóm chúng tôi xin được thực hiện bài
thuyết trình với tên gọi: “Sự tăng giá của đồng Nhân dân tệ sẽ ảnh hưởng như
thế nào lên thặng dư của Trung Quốc trong thương mại gia công chế biến”
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
• Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhập khẩu để gia công chế biến cũng

5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Kết quả cho thấy rằng một sự tăng giá trong chuỗi các quốc gia cung ứng Đông Á
sẽ làm giảm thặng dư trong thương mại của Trung Quốc.
5
6. HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Bằng chứng chưa rõ ràng liên quan đến việc liệu sự tăng giá của đồng nhân dân tệ
không kèm theo sự tăng giá tại phần còn lại của châu Á có gây nên hiệu ứng này.
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử phát triển và vai trò của tỷ giá hối đoái luôn gắn liền với quá trình lớn mạnh
không ngừng của nền kinh tế thế giới. Cũng giống như vai trò của giá cả trong nền
kinh tế thị trường, tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể tới những biến đổi của nền
kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Nó có thể thay
đổi vị thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Có thế thấy tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu có quan hệ mật thiết với
nhau. Qua việc phân tích mối quan hệ mật thiết giữa hai nhân tố này sẽ giúp thể
hiện vai trò của chính sách tỷ giá trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất
nhập khẩu.
Có thể thấy, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa đã duy trì một chế độ tỷ
giá cố định mục tiêu so với đồng đô la Mỹ (USD). Trong quá trình này, Trung Quốc
đã tích lũy được hơn 2.4 nghìn tỷ đô la Mỹ trong dự trữ ngoại hối. Ngân hàng Nhân
Dân Trung Quốc đã vô hiệu hóa những biện pháp can thiệp và ngăn chặn tăng lạm
phát. Tuy nhiên, trong quá trình này đã buộc các ngân hàng thương mại nắm giữ
nhiều hơn những trái phiếu của ngân hàng trung ương (trái phiếu chính phủ), đồng
thời phân bổ lại tín dụng. Họ cũng phân phối ngày càng không hiệu quả các nguồn
lực khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại dành để đầu tư của khu vực tư nhân và xã hội hơn cao
hơn so với đầu tư vào trái phiếu kho bạc Mỹ. Do đó, nhiều người ủng hộ một chế độ
tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn cho Trung Quốc.
Kết quả của sự biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến thặng dư của Trung Quốc
và các nước còn lại trên thế giới như thế nào? Trong trường hợp của Trung Quốc,

• “The China Currency Exchange Rate Problem: Facts and Policy Options”
(2005) của Ủy ban tổng hợp an ninh và kinh tế Trung Mỹ;
• “Trung Quốc sau 4 năm tham gia WTO – Đánh giá sơ khởi vài nét chính”
(2005) của Đỗ Tuyết Khanh;
• “Kinh nghiệm đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Trung Quốc trong quá
trình gia nhập WTO và quá trình đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối của Việt
Nam hướng tới hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Thị Nhung…
Bài nghiên cứu này, chúng tôi đã tham khảo một số nghiên cứu của các tác giả
trước đây như:
Yoshitomi (năm 2007) chứng minh rằng các bộ phận và các linh kiện trong thương
mại chế biến của Trung Quốc đến chủ yếu từ các quốc gia Đông Á. Do đó ông lưu ý
rằng sự tăng giá của đồng nhân dân tệ sẽ chỉ ảnh hưởng đến chi phí tính bằng ngoại
tệ của giá trị gia tăng trong thương mại gia công chế biến của Trung Quốc, trong khi
sự tăng giá chung ở châu Á sẽ ảnh hưởng đến chi phí tính bằng ngoại tệ của toàn bộ
5
sản lượng hàng gia công của Trung Quốc. Như vậy, một sự tăng giá chung sẽ có
hiệu ứng lớn hơn trên nền xuất khẩu chế biến của Trung Quốc.
Thorbecke and Smith (năm 2010) đã xây dựng một biến tỷ giá hối đoái tích hợp để
đo những thay đổi trong chi phí ngoại tệ không chỉ trên giá trị gia tăng mà còn trên
toàn bộ sản lượng hàng gia công của Trung Quốc. Sử dụng ước động lực học bình
phương nhỏ nhất và dữ liệu bảng hàng năm thiết lập trong giai đoạn 1992-2005, họ
đã báo cáo rằng một sự tăng giá 10% so với khu vực sẽ làm giảm xuất khẩu chế
biến xuống 10%.
Ahmed (năm 2009) đã sử dụng mô hình phân bố trễ tự hồi quy (tự tương quan)
(ARDL) và dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 1996Q1 – 2009Q2 cùng tỷ giá hối đoái
đã phân tách đồng Nhân dân tệ được thay đổi cân xứng với các quốc gia Đông Á và
quốc gia khác. Ông đã báo cáo rằng 10% sự tăng giá đồng nhân dân tệ tương ứng
với các quốc gia không thuộc Đông Á sẽ làm giảm giá trị xuất khẩu chế biến của
Trung Quốc xuống 17% và 10% sự tăng giá đồng tiền của các quốc gia Đông Á
khác sẽ làm giảm giá trị xuất khẩu chế biến của Trung Quốc xuống 15%.

nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ
giữa các quốc gia. Tỷ giá gồm các loại sau đây:
- Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối: tỷ giá mua, tỷ giá bán
- Căn cứ vào cơ chế điều hành chính sách tỷ giá: tỷ giá chính thức, tỷ giá
chợ đen
- Căn cứ vào tính chất tác động đến thương mại quốc tế: tỳ giá danh nghĩa
song phương, đa phương; tỷ giá thực song phương, đa phương
• Nhập khẩu để gia công chế biến
Gia công xuất khẩu là quá trình tạo thêm giá trị thặng dư cho sản phẩm nhưng
không làm thay đổi đặc tính vật lý hoặc hóa học cơ bản của sản phẩm. Lợi ích: Tạo
ra giá trị thặng dư. Chi phí: Có 2 dạng:
+ C1: Người thuê gia công chịu chi phí NVL và chỉ trả tiền gia công.
+ C2: Người gia công mua NVL và sẽ bán cho người thuê gia công theo giá bao
gồm cả NVL và tiền công.
• Độ co giãn
5
Độ co giãn là giá tri dùng để biểu hiện mối quan hệ của yếu tố này so với yếu tố
khác, ví dụ độ co giãn của cầu theo giá thì nó thể hiện độ nhạy của lượng cầu khi
giá thay đổi.
• Hiệp phương sai không đồng nhất phù hợp với Thống kê Z
Hiệp phương sai là độ đo sự biến thiên cùng nhau của hai biến ngẫu nhiên. Nếu 2
biến có xu hướng thay đổi cùng nhau (nghĩa là, khi một biến có giá trị cao hơn giá
trị kỳ vòng thì biến kia có xu hướng cũng cao hơn giá trị kỳ vọng), thì hiệp phương
sai giữa hai biến này có giá trị dương. Mặt khác, nếu một biến nằm trên giá trị kì
vọng còn biến kia có xu hướng nằm dưới giá trị kì vọng, thì hiệp phương sai của hai
biến này có giá trị âm.
• Tỷ giá cố định mục tiêu
Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế
độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một
đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị

tiêu) của chính sách tỷ giá hối đoái từng thời kỳ.
Mỗi quốc gia đều có một chế độ, một khung pháp lý riêng dành cho các giao dịch
tài chính quốc tế của quốc gia đó. Chế độ tỷ giá hối đoái bao gồm các quy tắc xác
định phương thức mua bán ngoại hối đối với các thể nhân và pháp nhân là người cư
trú và người không cư trú. Thông thường có 3 chế độ tỷ giá hối đoái cơ bản mà các
quốc gia trên thế giới đã và đang sử dụng: chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn,
chế độ tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết.
Việc lựa chọn các chế độ tỷ giá thường hướng vào các mục tiêu: i) đảm bảo cân
bằng cán cân bên trong (tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ lạm phát hợp lý, giá trị
đồng tiền được duy trì ổn định trong tương quan các đồng tiền, tỷ lệ thất nghiệp
chấp nhận được và ii) đảm bảo cán cân cân đối bên ngoài như duy trì cán cân thanh
toán.
Tóm lại, kết quả của chính sách tỷ giá hối đoái là những ảnh hưởng, tác động đến
các biến số kinh tế chủ yếu của nền kinh tế như: giá trị xuất nhập khẩu, lạm phát và
tăng trưởng kinh tế, đến đầu tư nước ngoài và nợ nước ngoài…
Tác động của tỉ giá hối đoái lên cán cân xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái là nhân tố rất quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh hưởng đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên thị trường quốc
tế. Tỉ giá hối đoái trực tiếp tác động đến sự thăng bằng trong cán cân thanh toán
quốc tế, mà trước hết là những thay đổi trong cán cân tài khoản vãng lai. Người ta
thường nhận thấy rằng cán cân thương mại (nội dung chủ yếu của cán cân tài khoản
5
vãng lai) của một nước có thể xấu đi hay tốt lên khi có những biến động của tỷ giá
hối đoái, nếu tỷ giá hối đoái tăng (đồng nội tệ mất giá) thì sẽ khuyến khích xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu như vậy cán cân thanh toán quốc tế của một nước sẽ được
cải thiện và ngược lại nếu tỷ giá hối đoái giảm (đồng nội tệ lên giá) thì sẽ hạn chế
xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu làm cho cán cân thanh toán trở nên xấu đi.
Giả thiết cơ bản cho mô hình là một nước sẽ sản xuất một hàng hoá được tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu đồng thời nhập khẩu hàng hoá khác từ phần còn lại của thế
giới, khi đó cân bằng thương mại (xuất khẩu ròng) NX được xác định như sau:

rõ thâm hụt ban đầu trong cán cân thanh toán, sau đó là một sự phục hồi. Nó biểu
diễn khả năng chi trả, lúc đầu đi xuống đột ngột, sau đó tăng lên có hình chữ J. Hiện
tượng nói trên được gọi là hiện tượng đường cong J và hiệu quả của việc phá giá
được gọi là hiệu ứng đường cong J.
Chính sách tỷ giá hối đoái của Trung quốc:
Từ năm 1949 đến nay, Trung quốc đã có những thay đổi lớn về chính sách tỷ giá.
Có thể chia thành 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1949 đến năm 1979: Trung Quốc quản lý kinh tế theo
cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chính phủ thống nhất và tập trung quản lý các hoạt
động ngoại hối. Trung quốc thực hiện chế độ tỷ giá cố định, ngân hàng nhân dân
5
Trung quốc là cơ quan duy nhất công bố tỷ giá mua bán ngoại tệ của cả nền kinh tế.
Giai đoạn này nền kinh tế Trung quốc gặp nhiều khó khăn nếu như không muốn nói
là trì trệ.
Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1979 đến năm 1993: Trung Quốc tiến hành cải cách
kinh tế. Nhiều chính sách kinh tế mới được ban hành nhằm khuyến khích các thành
phần kinh tế phát triển, phát triển cơ sở hạ tầng, các ngành sản xuất công nghiệp
phụ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là Hoa kiều đầu tư vào
trong nước để xuất khẩu thu ngoại tệ. Chính phủ Trung quốc bảo lãnh việc cân đối
ngoại tệ cho các dự án xuất khẩu thu ngoại tệ. Để phù hợp với sự chuyển đổi của
nền kinh tế, chế độ tỷ giá cũng có thay đổi, bên cạnh tỷ giá chính thức do ngân hàng
nhân dân Trung Quốc công bố, sử dụng để hạch toán, tính thuế xuất nhập khẩu, đã
cho phép một loại tỷ giá thứ hai được tồn tại, sử dụng để mua bán, giao dịch trên thị
trường ngoại tệ. Năm 1991, Trung Quốc chuyển từ tỷ giá cố định sang chế độ tỷ giá
thả nổi có quản lý, duy trì hai loại tỷ giá. Do tỷ giá thị trường biến động mạnh đã
tạo ra khoảng cách giữa hai loại tỷ giá. Đến năm 1993, thị trường giao dịch hối đoái
giữa các doanh nghiệp phát triển, làm cho chênh lệch giữa hai loại tỷ giá càng gia
tăng. Trong thời gian này các doanh nghiệp được phép giữ lại một phần ngoại tệ để
sử dụng. Kết quả là ngoại tệ tập trung vào nhà nước ít hơn so với khu vực dân cư
nắm giữ, Trung Quốc gặp khó khăn trong việc cân đối ngoại tệ.

trong đó chính phủ liên bang của Mỹ vay gần 800 tỷ. GDP của Trung Quốc năm
2009 đạt 31,4 nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương với khoảng 4,52 tỷ USD, tăng
trưởng năm 2009 đạt 9,6%. Năm 2011, GDP Trung Quốc tăng trưởng 9,2% so với
năm 2010. Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố số liệu cho thấy trong tháng 7-
2011, xuất khẩu của nước này tăng 20,4% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 175,13 tỉ
đô la Mỹ.
Bảng GDP và thương mại hàng hóa theo vùng giai đoạn 2007 - 2010
Đơn vị: % thay đổi hàng năm
5
a) Bao gồm cả Caribbean.
b) Hong Kong Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore and Đài Loan.
Nguồn: WTO Secretariat.
Các nước châu Âu, Mỹ và Nhật bản cho rằng Trung quốc đang sử dụng chính sách
tỷ giá thấp nhân tạo để đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm với giá rẻ hơn sang các nước,
làm mất cân đối nghiêm trọng thị trường vốn, tài chính quốc tế, đây là nguyên nhân
chính gây nên khủng hoảng. Ngày càng nhiều nước phản đối chính sách tỷ giá của
Trung quốc.
1.3. Thương mại gia công chế biến tại Trung Quốc
Thống kê của cục hải quan Trung Quốc đã chỉ ra sự khác biệt giữa nhập khẩu và
xuất khẩu có liên quan đến thương mại gia công - chế biến và xuất nhập khẩu thông
thường. Hàng nhập khẩu cho gia công - chế biến là những hàng hóa được mang vào
Trung Quốc để gia công sau đó xuất khẩu. Xuất khẩu hàng hóa đã qua chế biến
được phân loại bởi nhà chức trách Trung Quốc, là hang hóa được sản xuất bằng
cách như trên. Nhập khẩu để gia công - chế biến không phải chịu thuế và gồm cả
những nguyên liệu đầu vào cũng như những thành phẩm được đưa vào thị trường
nội địa Trung Quốc. Trái ngược lại, những hàng hóa nhập khẩu thông thường phải
gánh chịu thuế, ngoài ra gánh chịu thuế còn có những hàng hóa mà sử dụng nguyên
liệu từ chính địa phương. Báo cáo của Feentra và Wei (năm 2009) đã chỉ ra rằng
80% hàng hóa chế biến để xuất khẩu đến từ các công ty nước ngoài.
5

Quốc nhập siêu khoảng 100 tỷ USD từ các nước Đông Á, thặng dư 100 tỷ USD từ
các nước Châu Âu 130 tỷ USD từ Mỹ và Hong Kong.
2. MÔ HÌNH – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – DỮ LIỆU
2.1. Xác định hàm số của xuất khẩu và nhập khẩu:
Theo mô hình thay thế bất hoàn hảo của Goldstein và Khan (năm 1985), các hàm
xuất khẩu, nhập khẩu có thể được miêu tả như sau:
Trong đó:
• ex
t
đại diện cho xuất khẩu thực
• rer
t
đại diện cho tỉ giá hối đoái thực
• y
t
* đại diện cho thu nhập từ nước ngoài thực
• im
t
đại diện cho nhập khẩu thực
• y
t
đại diện cho thu nhập từ nội địa thực
5
Các biến số được đo lường trong hệ số logarit tự nhiên.
Trong trường hợp của thương mại gia công chế biến Trung Quốc, thực sự cần thiết
phải sửa đổi các phương trình trên. Dưới đây tôi xin xem xét một trong những yếu
tố khác ảnh hưởng đến nhập khẩu sản phẩm để gia công chế biến và xuất khẩu sản
phẩm đã gia công chế biến.
Đối với các hàng hóa nhập khẩu dùng để gia công chế biến, Quỹ Tiền tệ Quốc tế
(IMF) (năm 2005) lưu ý rằng độ co giãn với giá nhỏ vì các hàng hóa trung gian

và Koivu (2007) thừa nhận rằng vị thế của Trung Quốc trong WTO đã bắt đầu ảnh
hưởng đến thương mại của Trung Quốc khi Trung Quốc bắt đầu gia nhập WTO vào
đầu năm 2000. Do đó biến giả WTO bắt đầu được thiết lập kể từ năm 2000.
Đối với hàng hoá xuất khẩu gia công chế biến, nhiều giá trị đã gia tăng từ các đơn
vị nhập khẩu, đặc biệt là tại các nước Đông Á khác. Sự gia tăng tại khu vực Đông Á
đã gây ảnh hưởng lớn hơn lên các chi phí hàng xuất khẩu của Trung Quốc được đo
lường bằng tiền tệ của quốc gia nhập khẩu hơn là sự tăng giá đơn phương của đồng
nhân dân tệ. Tăng giá đơn phương có thể sẽ chỉ làm thay đổi giá trị đồng ngoại tệ
liên quan giá trị gia tăng của Trung Quốc trong xuất khẩu gia công chế biến. Một tỷ
giá hối đoái tích hợp vì thế bao gồm lượng thay đổi của tỷ giá hối đoái ở chuỗi các
quốc gia cung ứng đo bằng giá trị gia tăng của quốc gia trong ngành gia công chế
biến.
2.2 Xây dựng một tỷ giá tích hợp
Theo Tong và Zheng (năm 2008), giá trị gia tăng của Trung Quốc trong thương mại
gia công chế biến có thể được xem như là sự chênh lệch giữa giá trị hàng gia công
chế biến xuất khẩu của Trung Quốc (VPEt) và giá trị nhập khẩu để gia công chế
biến từ tất cả các chuỗi quốc gia cung ứng (Σ
i
VIP
i, t
):
Với VA
Chin, t
tương đương với giá trị gia tăng của Trung Quốc trong thương mại gia
công chế biến. Dữ liệu hàng năm trên tổng giá trị hàng gia công chế biến xuất khẩu
và tổng giá trị hàng nhập khẩu để gia công chế biến được sử dụng để tính toán giá
trị gia tăng của Trung Quốc.
5
Để tính toán giá trị gia tăng ở chuỗi các quốc gia cung ứng, bài viết này tập trung
vào chín nhà cung cấp hàng đầu về các sản phẩm nhập khẩu để gia công chế biến

dụng một con số chung. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các biến
tỷ giá hối đoái thực được xây dựng bởi Trung tâm CEPII. Theo CEPII tỷ giá hối
đoái thực giữa quốc gia i và j được tính bằng cách lấy tổng sản phẩm quốc nội (tính
bằng GDP) tính bằng đô la Mỹ chia cho GDP theo sức mua tương đương (PPP) ở
đất nước i và làm tương tự với đất nước j. Kết quả tỉ lệ ở đất nước i sau đó chia cho
tỷ lệ của đất nước j.
5
Biến này đo lường đơn vị hàng hoá tiêu dùng trong nước i cần thiết để mua một đơn
vị hàng hoá tiêu dùng trong nước j. Nó có thể được so sánh giữa các quốc gia cũng
như giữa các thời điểm. Bởi vì tính có thể so sánh được giữa các quốc gia, nó có thể
được sử dụng trong phương trình (2) để tính toán irer. Wrer và irer càng cao càng
đại diện cho tỷ giá hối đoái tăng ở Trung Quốc và các nước cung cấp.
Các biến độc lập khác là vốn cổ đông của Trung Quốc trong sản xuất, vốn FDI, và
một biến giả WTO. Cheung, Chinn, và Fujii (năm 2010) đã tìm ra rằng các vốn cổ
đông của Trung Quốc giúp giải thích biến xuất khẩu tại Trung Quốc. Như đã thảo
luận ở trên, các cổ phiếu FDI và việc gia nhập WTO của Trung Quốc có thể giúp
giải thích sự gia tăng trong ngành gia công - chế biến.
Các biến phụ thuộc là hàng nhập khẩu để gia công chế biến và hàng gia công chế
biến xuất khẩu của Trung Quốc. Chúng được lấy từ Thống kê của cục Hải quan
Trung Quốc. Theo Cheung, Chinn, và Fujii (năm 2010), các chỉ số giá trị đơn vị tái
xuất khẩu trích xuất từ Hồng Kông đến Trung Quốc được sử dụng để giảm nhập
siêu tại Trung Quốc, còn các chỉ số giá trị đơn vị tái xuất khẩu trích xuất từ Hồng
Kông đến Mỹ được sử dụng để giảm xuất khẩu của Trung Quốc. Các dữ liệu được
thảo luận chi tiết hơn trong Phụ lục dữ liệu.
2.3. Mô hình nghiên cứu
Phần A của Bảng 2 báo cáo các kết quả từ công cụ kiểm định nghiệm đơn vị trên số
liệu dạng bảng. Cột (1) thể hiện thống kê Im, Peseran, và Shin, cột (2) là thống kê
tiệm cận phân phối tự do (ADF) chi bình phương, cột (3) là phân phối Phillips-
Perron chi bình phương, cột (4) thể hiện thống kê t của Levin, Lin, và Chu, và cột
(5) là hiệp phương sai không đồng nhất phù hợp với Thống kê Z. Đối với bốn kiểm

đồng liên kết, được sử dụng tại đây.
Bảng B. Kiểm định thặng dư tính đồng liên kết của Kao
Hàm xuất khẩu 7.17 **
Hàm nhập khẩu - 3.18 **
5
(1) Thống kê t từ kiểm định thặng dư tính đồng liên kết của Kao với giả thuyết Ho
là không có đồng liên kết.
Chú ý: sự lựa chọn độ trễ dựa trên tiêu chuẩn thông tin Schwartz.
** Biểu thị mức ý nghĩa 5%.
Nguồn: Ước tính của tác giả.
Ước lượng động lực học theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (DOLS) hồi quy
biến vế trái là một hằng số, biến bên vế phải, biến dẫn dắt và độ trễ bên vế phải. Các
phương trình nhập khẩu riêng lẻ có dạng là:
Trong đó
• im
i,t
đại diện cho nhập khẩu thực để gia công - chế biến từ quốc gia i vào
Trung Quốc
• irer
i,t
đại diện cho tỷ giá hối đoái tích hợp thực
• rgdp
C,t
tương đương với thu nhập thực tế ở Trung Quốc
• tex
t
đại diện cho tổng sản lượng hàng gia công - chế biến xuất khẩu thực tế
trên toàn thế giới của Trung Quốc
• FDI
t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status