Tiểu luận tài chính quốc tế Tác động của sự độc lập của ngân hàng trung ương lên diễn biến của chế độ lạm phát mục tiêu - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
BÀI TIỂU LUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA SỰ ĐỘC LẬP
CỦA NHTW LÊN DIỄN BIẾN CỦA
CHẾ ĐỘ LẠM PHÁT MỤC TIÊU
GVHD: Th.S Đinh Thị Thu Hồng
1. Nguyễn Minh Tuấn
2. Nguyễn Trần Chân Lý
3. Châu Ly Pôth
4. Nhan Anh Chi
5. Nguyễn Văn Nam
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
MỤC LỤC
Tóm tắt tr3
I. Giới thiệu tr3
II. Phương pháp nghiên cứu tr8
III. Nội dung và kết quả nghiên cứu tr8
1. Ảnh hưởng của IT và vai trò của CBI tr8
1.1 Dữ liệu tr9
1.2 Tóm tắt kết quả thống kê tr11
2. Kết quả tr16
2.1 Lạm phát ở các nền kinh tế mới nổi tr21
2.2 Các khảo sát tích cực tr22
3. Các kênh tác động tr23
3.1 Các kênh tiềm năng khác tr26
IV. Kết luận tr28
Tài liệu tham khảo tr29
Phụ lục tr33
Nhóm 12_BH01K35 Page 2

nổi áp dụng chế độ này. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, số lượng các nước áp dụng
đã tăng lên đáng kể trên toàn thế giới. Có thể thấy được các nước đã thấy được
những lợi ích đáng kể từ việc áp dụng chế độ này. Kết quả đạt được bao gồm
lạm phát và biến động lạm phát thấp hơn, trong khi vẫn giữ tính linh hoạt đủ để
phản ứng với những cú sốc kinh tế vĩ mô và có khả năng ổn định được đầu ra.
Thị trường các quốc gia mới nổi nói riêng đã tìm được một cái “neo”danh nghĩa
thay thế cho chế độ tỷ giá hối đoái cố định, mà không có sự bất ổn như chế độ tỷ
giá hối đoái cố định.
Khi số lượng của các quốc gia áp dụng IT đã tăng lên, các nhà khoa học
ngày càng quan tâm đến ảnh hưởng của chế độ này. Các bài nghiên cứu cố gắng
xác định các tác động của IT tới : lạm phát trung bình, biến động lạm phát, tăng
trưởng trung bình, và biến động tăng trưởng. Tuy nhiên có sự khác nhau nhất
định trong cách chọn mẫu.
Nghiên cứu ban đầu tập trung vào các nước công nghiệp (cf Ball và
Sheridan, 2005), kết quả cho thấy IT có cải thiện hiệu suất kinh tế vĩ mô, nhưng
không đưa ra được các bằng chứng thuyết phục. Các công trình nghiên cứu gần
đây, cùng với việc mở rộng mẫu bao gồm cả các nền kinh tế mới nổi và có xu
hướng tìm thấy bằng chứng thuyết phục hơn (Batini và Laxton, 2007; Gonçalves
và Salles, 2008; Lin và Ye, 2009; Mishkin và Schmidt-Hebbel, 2007). Tuy
nhiên, nghiên cứu của Brito và Bystedt (2010) đã cho kết quả hơi khác. Nghiên
cứu này sử dụng hệ thống ước tính GMM trái ngược với các ước tính thường
được sử dụng trong Ball và Sheridan (2005). Họ chỉ ra tác dụng hỗ trợ yếu đi
của IT lên: lạm phát trung bình, biến động lạm phát, biến động tăng trưởng. Và
cung cấp bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình thấp dưới chế độ
Nhóm 12_BH01K35 Page 4
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
IT. Trải qua nhiều năm nghiên cứu, Ball (2010) tuyên bố chưa thể kết luận gì về
bằng chứng của các tác động có lợi của IT trong các nền kinh tế mới nổi. Mặc
dù tác động của nó là mạnh mẽ hơn các quốc gia tiên tiến.
Trong bài nghiên cứu này, nhóm tác giả muốn chứng minh rằng, tất cả

phạm vi mà những nhân tố này đang thiếu ở nước có CBI thấp, hoàn toàn có thể
kỳ vọng ảnh hưởng lớn của IT lên nhân tố CBI thấp. Chúng tôi gọi đây là "tác
động cải thiện" của mức CBI thấp. Ngược lại, khi các yếu tố này đã được thực
hiện tốt (ở các nước phát triển), có ít điều kiện để IT cải thiện.
Một ví dụ khác của hiệu ứng này, CBI thấp có thể cho thấy sự tín nhiệm
đối với NHTW thấp, và các kỳ vọng lạm phát thả nổi là yếu, đây là yếu tố giúp
IT có thể có tác động lớn hơn (Bernanke et al, 1999; Mishkin, 1999; Svensson,
1997), trong khi đó nếu một ngân hàng trung ương có uy tín, nó không cần sự tin
cậy và kỳ vọng lạm phát cố định (ball, 2010; Gonçalves và Salles, 2008). Một
lần nữa, chúng tôi mong đợi để xem hiệu ứng mạnh mẽ của IT ở các nước không
có các ngân hàng trung ương độc lập.
Hiệu ứng tác động của CBI thấp tới hiệu quả của IT, phụ thuộc vào sức
mạnh tương đối của các điều kiện tiên quyết và các tác động cải thiện. Nghĩa là
sự chênh lệch về so sánh sức ảnh hưởng của điều kiện tiên quyết và tác động cải
thiện, quyết định đến mức độ ảnh hưởng của CBI lên IT. Bằng cách phân tích
thực nghiệm tác động của CBI đối với diễn biến của chế độ IT, chúng tôi hy
vọng làm sáng tỏ cuộc tranh luận này. Để kiểm tra kết quả, chúng tôi không tìm
thấy bằng chứng về tác dụng có lợi của IT ở các quốc gia tiên tiến hoặc các quốc
gia đang phát triển với mức độ cao của CBI (điều kiện tiên quyết > tác động cải
thiện). Tuy nhiên chúng tôi phát hiện các tác động đáng kể ở các quốc gia đang
phát triển với mức CBI thấp (tác động cải thiện > điều kiện tiên quyết). Những
kết quả trên cho ta nhận định mới về quan điểm cho rằng CBI là một điều kiện
Nhóm 12_BH01K35 Page 6
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
cần thiết cho hiệu quả IT. Hoàn toàn trái ngược, IT chỉ có hiệu quả khi các
NHTW không phải là độc lập, cho thấy tác dụng cải thiện là quan trọng hơn hiệu
ứng điều kiện tiên quyết. Ý nghĩa của nó là các nền kinh tế mới nổi nên áp dụng
IT như là một chiến lược chính sách tiền tệ trước khi CBI tăng cao.
Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích các kênh mà qua đó CBI thấp tại
các nền kinh tế mới nổi, làm tăng hiệu quả của IT (giảm lạm phát). Đặc biệt, sau

trước đây cũng như kết quả đạt được trên lý thuyết.
III. Nội dung và kết quả nghiên cứu:
1. Ảnh hưởng của IT và vai trò của CBI
Trong phần này, chúng tôi giới thiệu mô hình chuẩn của chúng tôi và các dữ liệu
được sử dụng để kiểm tra tác động của IT vào hoạt động kinh tế vĩ mô và vai trò
của CBI. Chúng tôi xem xét một hồi quy của một số chỉ số kết quả kinh tế vĩ
mô:
Yi,t = β1 . Yi,t – 1 + β2 . ITi,t + β3 . CBIi,t + β4 . ( ITi,t * CBIi,t )
+ β5 . HIGHINFLi,t + δt + αi + εi,t
Khi chỉ số i của quốc gia và chỉ số t cùng thời điểm. Các biến kiểm soát
bao gồm một biện pháp của ngân hàng trung ương độc lập, CBI, tương tác với
CBI, và một biến giả cho thấy lạm phát cao, HIGHINFL. Thuật ngữ tương tác IT
* CBI cho phép tác động của IT trên hiệu suất kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào CBI.
Như nêu ở trên, CBI được cho là có thể làm cho IT hiệu quả nhiều hơn hoặc ít
hơn tùy thuộc vào sức mạnh tương đối của các hiệu ứng điều kiện tiên quyết và
tác động cải thiện, do đó hệ số của các thuật ngữ tương tác là mơ hồ. Cuối cùng,
đề cập đến một hiệu ứng thời gian, và một quốc gia cụ thể là thành phần của sai
số.
Để tạo điều kiện thuận lợi so sánh với kết quả trước đó và độc lập bổ
Nhóm 12_BH01K35 Page 8
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
sung thông tin được cung cấp bởi các biện pháp của CBI, chúng tôi sử dụng
cùng một phương trình hồi quy (trừ CBI và thời hạn tương tác của nó) và dự
toán các bước giống như Brito và Bystedt (2010), do đó chúng tôi ước lượng mô
hình sử dụng ước tính hệ thống GMM phát triển trong Arellano và Bover (1995)
và Blundell và Bond (1998) .
I.1 Dữ liệu
Dữ liệu từ năm 1980 đến năm 2006. Sau Brito và Bystedt (2010), chúng
tôi mất khoảng ba năm thực hiện lấy dữ liệu, kết quả là một mẫu với 9 giai đoạn.
Điều này làm giảm hàm số, là bậc hai trong IT, và cũng tao ra điều kiện hợp lý

khác cân bằng, một quốc gia IT có lạm phát ít hơn so với quốc gia không áp
dụng It là một khoảng β
2
. Nói cách khác, nếu một quốc gia áp dụng IT nó sẽ
giảm lạm phát trung bình β
2
%.
Đối với tác động của CBI, chúng ta xem xét các chỉ số CBI của
Cukierman và các đồng nghiệp (1992), mà là dựa trên khía cạnh độc lập về pháp
lý của NHTW (LEGAL) và chỉ số nhiệm kỳ 10 năm của các thống đốc NHTW
(biến TURNOVER). Các chỉ số nói chung là có sẵn cho đến năm 1989 cho cả
hai nền kinh tế tiên tiến và phát triển và giả định một giá trị mỗi thập kỷ. Các chỉ
số biến thiên từ 0 đến 1, hàm ý rằng giá trị LEGAL càng cao (điều kiện pháp lý
cao) và TURNOVER càng thấp ( nhiệm kỳ thống đốc càng ngắn) thì CBI càng
cao.
Chỉ số LEGAL được mở rộng ra năm 2002 cho 24 nước Mỹ Latinh và
Caribbean bởi Jácome và Vázquez (2005), người cũng đã thêm một vài quốc gia
mới vào mẫu, và thông qua năm 1999 đối với các nước tiên tiến Siklos (2008).
Chỉ số TUNOVER đã được bổ sung với các dữ liệu sau năm 1990 từ Crowe và
Meade (2007) và Dreher, và các đồng nghiệp (2008).
Có ba điểm về những chỉ số trên cần được lưu ý. Đầu tiên, không phải tất
cả các quốc gia áp dụng IT đều có một mức độ CBI cao, và nếu biến CBI thay
Nhóm 12_BH01K35 Page 10
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
đổi đáng kể thì hoàn toàn có thể được khai thác để xác định vai trò của CBI. Thứ
hai, phương pháp phân tích này cung cấp thêm thông tin về CBI, CBI bây giờ
không phải là công cụ độc lập. Theo Batini và Laxton (2007) các NHTW vẫn tồn
tại sự độc lập pháp lý tương đối tại thời điểm áp dụng IT. Tuy nhiên, nhiều
người vẫn còn các khía cạnh khác của CBI được phản ánh qua các biện pháp
pháp lý, bao gồm cả như quyền tự do mua trái phiếu chính phủ, tầm quan trọng

này cũng trải qua những thời kỳ siêu lạm phát, điển hình là chỉ số INFLATION
tới 317 ở một quốc gia mới nổi.
Bảng 2 trình bày tóm tắt các số liệu thống kê được chia theo các loại quốc
gia (tiên tiến hoặc mới nổi), chế độ tiền tệ (áp dụng IT hoặc không áp dụng IT,
theo quy định bởi biến IT), và xa hơn nữa bằng thời kỳ (trước-IT với sau-IT).
Đối với quốc gia phát triển (mới nổi) trước đây không áp dụng IT, bình quân
việc áp dụng IT vào năm 1995 (1999), được sử dụng để phân chia mẫu. Với các
nước phát triển, tác động của IT là cho: lạm phát thấp hơn, tốc độ tăng trưởng
cao hơn, và biến động lạm phát và sản lượng thấp hơn. Hiệu quả này cũng đạt
được ở các quốc gia không áp dụng IT nhưng không lớn.
Mô hình này tương tự cho các nền kinh tế mới nổi, mặc dù những cải thiện
qua thời gian ở các nước áp dụng IT thì đáng kể so với các quốc gia không áp
dụng IT. Ví dụ, các nước mới nổi áp dụng IT có sự giảm lạm phát trung bình là
10%, trong khi các quốc gia không áp dụng IT giảm 4%. Điều này gợi nhớ đến
các kết quả trước đó có được trong các tài liệu bằng cách sử dụng các cách ước
lượng difference-in-difference. Tuy nhiên, nhìn vào lạm phát trung bình trước và
sau khi việc áp dụng IT có thể gây hiểu nhầm và phóng đại các tác dụng có lợi
của IT. Theo Brito và Bystedt (2010), các nước áp dụng IT trải qua lạm phát
trung bình cao hơn những nước không áp dụng IT đến cuối những năm 1980.
Nhưng đến giữa những năm 1990, thời điểm trước khi áp dụng IT các nước áp
Nhóm 12_BH01K35 Page 12
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
dụng IT có lạm phát thấp hơn so với quốc gia không áp dụng IT. Xu hướng lạm
phát này có thể gây ra vấn đề đối với cách ước lượng difference-in-difference .
Kết luận: Bảng 2 cho thấy các nền kinh tế mới nổi, mà bắt đầu với lạm phát
trung bình và biến động lạm phát cao hơn nhiều, thì đạt được sự giảm lạm phát
nhanh hơn so với các nền kinh tế tiên tiến.
Trong bảng 3, chúng tôi tập trung chú ý đến những nền kinh tế mới nổi và
đưa ra các số liệu thống kê dựa trên chính sách tiền tệ, khoảng thời gian, mức độ
của CBI sử dụng TURNOVER đại diện. Cụ thể, chúng tôi trình bày bảng thống

bình và trung vị của biến động lạm phát, giảm tương ứng 3% và 1% sau khi áp
dụng IT, trong khi ở các nước không áp dụng IT thì mức giảm tương ứng là 4%
và 2%. Ở các nước áp dụng IT với TURNOVER >0.26, các giá trị này giảm
tương ứng 19% và 3%; ở các nước không áp dụng IT, mức giảm tương ứng là
7% và 2%. Cho nên có thể kết luận: thứ nhất, với những nước có TURNOVER
cao (CBI thấp), biến động lạm phát giảm nhiều hơn các nước CBI cao, không
phụ thuộc vào chính sách tiền tệ. Thứ hai, trong số các nước TURNOVER thấp,
những nước không áp dụng IT có tiến bộ nhiều hơn những nước áp dụng; còn
trong số các nước TURNOVER cao thì ngược lại. Như vậy có nghĩa là IT có
hiệu quả hơn những chính sách tiền tệ khác, ở những nước CBI thấp.
Với các nước áp dụng IT có TURNOVER thấp (CBI cao), giá trị trung bình
và trung vị của tăng trưởng tăng tương ứng 1% và 1.2% sau khi áp dụng IT;
trong khi ở các nước không áp dụng IT thì mức tăng tương ứng là 1.2% và 1%.
Ở các nước áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26, các giá trị này tăng tương
ứng 0.6% và 1.4%; ở các nước không áp dụng IT với TURNOVER >= 0.26,
mức tăng tương ứng là 0.4% và 1.4%. Như vậy, những kết quả ban đầu cho thấy
các nước có và không áp dụng IT đều có tăng trưởng tăng giống nhau, và xu
Nhóm 12_BH01K35 Page 14
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
hướng tăng này không đáng kể so khi CBI tăng dần.
Cuối cùng, đối với các nước có áp dụng IT có TURNOVER thấp (CBI
cao), biến động của tăng trưởng trung bình (trung vị) giảm 1,3% (0,8)%, trong
khi các nước không áp dụng IT giảm 1,8% (1,1%). Còn các nước áp dụng IT có
TURNOVER cao, biến động của tăng trưởng trung bình giảm 1,2% (1,6%),
trong khi các nước không áp dụng IT giảm 0,5% (0,65%). Theo thời gian, với
các nước có TURNOVER thấp, nước không áp dụng IT được cải thiện hơn
những nước áp dụng IT, điều ngược lại đúng đối với các nước có TURNOVER
cao. Các kết luận sơ bộ đồng ý là IT thực hiện tốt hơn so với các chế độ khác ở
quốc gia CBI thấp.
Bảng 4 trình bày các mối tương quan của mẫu nhỏ với mẫu lớn, ở các

các nghiên cứu trước đây. Trong khi IT được dự kiến sẽ giảm biến động lạm
phát (Cecchetti và Ehrmann, 2002), thì những dữ liệu lại cho thấy rằng IT không
có ảnh hưởng đáng kể trong việc giảm biến động lạm phát. Trong thực tế, kết
quả này phù hợp với Brito và Bystedt (2010), nhưng không phù hợp với Lin và
Ye (2009) và Batini và Laxton (2007), những người cho rằng IT làm giảm biến
động lạm phát. Ảnh hưởng không đáng kể đối với các nền kinh tế tiên tiến phù
hợp với kết luận của Ball (2010).
Phần còn lại bảng 5 nghiên cứu về biến tăng trưởng kinh tế GROWTH. Ta
thấy IT làm giảm tốc độ tăng trưởng trung bình tổng thể (-0.75) và các nền kinh
tế mới nổi (-1.26), nhưng lại là tăng tốc độ tăng trưởng đối với các nền kinh tế
tiên tiến (0.63). Kết quả thực tế cho nền kinh tế mới nổi phù hợp với Brito và
Bystedt (2010), nhưng kết quả đối với các nền kinh tế tiên tiến tương phản với
Ball (2010), cho rằng IT không ảnh hưởng lên nền kinh tế tiên tiến. Cột 4-6
trong bảng cuối cùng chỉ ra rằng IT có tác động tiêu cực nhưng không đáng kể
Nhóm 12_BH01K35 Page 16
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
vào biến động tăng trưởng trong tổng thể (p-value = 0,14) và đối với các nền
kinh tế mới nổi (p-value = 0,24) nhưng hiệu quả tích cực và không đáng kể đối
với các nền kinh tế tiên tiến. Kết quả cho nền kinh tế mới nổi là tương tự như
Brito và Bystedt (2010), Batini và Laxton (2007), và Gonçalves và Salles (2008),
người đã tìm thấy một tác động tiêu cực và ảnh hưởng đáng kể. Kết quả phù hợp
với các nền kinh tế tiên tiến Ball (2010). Cuối cùng, HIGHINFL có mối liên hệ
mật thiết với mức lạm phát trung bình cao hơn, biến động lạm phát, và sự gia
tăng các biến động, nhưng tốc độ tăng trưởng trung bình lại thấp hơn. Đối với
các nền kinh tế tiên tiến, biến trên được bỏ qua do đa cộng tuyến ở một số nước
đã trải qua lạm phát cao trong một thời gian dài.
Bảng 6 trình bày kết quả từ dự báo của phương trình (1) với mức lạm phát
trung bình là biến phụ thuộc, lúc này bao gồm CBI và tương tác của nó tới IT.
Chúng tôi đưa ra kết quả cho tổng thể, các nước tiên tiến, và các nền kinh tế mới
nổi bằng cách sử dụng hoặc LEGAL hoặc TURNOVER là đại diện cho ảnh

lớn hơn hoặc bằng 0,06 (bốn quốc gia và 11 quan sát). Ngược lại, hiệu quả là
đáng kể tiêu cực ở mức 10% khi doanh thu là lớn hơn hoặc bằng 0,26 (25 quốc
gia và 114 quan sát), là mức trung bình của các nền kinh tế mới nổi. Đối với các
quan sát với doanh thu từ 0,06 và 0,26 (34 quốc gia, 175 quan sát), IT không có
tác dụng đáng kể. Điều này được mô tả trong Bảng số liệu 1, trong đó trình bày
tác động biên của IT đối với lạm phát tại các nền kinh tế mới nổi cho các giá trị
khác nhau của doanh thu và độ tin cậy khoảng 90%.
Tóm lại, các kết quả trong bảng (6) có nghĩa là, hầu như không có ảnh
hưởng đáng kể khi TURNOVER ít hơn 0,26, nhưng đóng vai trò quan trọng
trong việc giảm lạm phát đối với các chế độ tiền tệ khác, cho nhiều nền kinh tế
mới nổi với kim ngạch trên 0,26. Khoảng tác động dự đoán về lạm phát khi
TUNOVER bằng 0,26 -4,6 điểm phần trăm. Hiệu ứng này làm tăng
TURNOVER tối đa 46,6 điểm phần trăm khi TUNOVER bằng một.
Cuối cùng, hệ số LEGAL không đáng kể trong cả ba mẫu. Các hệ số
TUNOVER có dấu hiệu dự đoán tích cực và có ý nghĩa quan trọng trong các
Nhóm 12_BH01K35 Page 18
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
mẫu đầy đủ và đối với các nền kinh tế đang nổi lên, ngụ ý rằng CBI thấp có liên
quan với lạm phát cao hơn. Tuy nhiên, trong các mẫu đầy đủ và các nền kinh tế
mới nổi, các hệ số của doanh thu và IT *TUNOVER tương đương về độ lớn
nhưng ngược nhau. Điều này cho thấy rằng IT có thể để trung hòa ảnh hưởng
của CBI thấp về lạm phát.
Như đã đề cập ở trên, chúng tôi tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng IT làm
giảm lạm phát tương đối so với các chế độ khác trong các mẫu đầy đủ, khi
chúng ta sử dụng TURNOVER như là ảnh hưởng của CBI. Biến LEGAL không
có hiệu lực đối với các nước tiên tiến, dường như không ảnh hưởng từ IT. Nó
cũng không có ảnh hưởng tới các nền kinh tế mới nổi, mặc dù nhiều nền kinh tế
nhận được tác động có ích từ IT, có lẽ là bởi vì các biện pháp pháp lý độc lập ít
chính xác hơn ở các nước đang phát triển (Cukierman,và các đồng nghiệp,
1992). Trong khi đó, TUNOVER có ảnh hưởng mạnh mẽ tại các nền kinh tế mới

Hiệu quả là không đáng kể cho tất cả các giá trị TURNOVER. Đối với các nền
kinh tế mới nổi, tác động của IT là không đáng kể cho tất cả các giá trị của
LEGAL. Tuy nhiên, hiệu quả là tiêu cực đáng kể cho TURNOVER lớn hơn hoặc
bằng 0,13. Hiệu ứng này dao động từ -0,9 điểm phần trăm khi TUNOVER bằng
0,13 - 4,3 điểm phần trăm khi TURNOVER bằng một. Vì vậy, một số lượng lớn
của các nền kinh tế tiên tiến với mức CBI thấp được hưởng mức tăng trưởng cao
hơn so với các chế độ khác là một kết quả của IT, trong khi một số lượng lớn
của các nền kinh tế mới nổi có CBI thấp, tăng trưởng thấp hơn. Lưu ý rằng các
giả định lạm phát cao vẫn còn bao gồm trong dự toán để dễ dàng so sánh với các
tài liệu trước đây đã bao gồm biến này và bởi vì lạm phát cao có thể tăng tác
động thực tế.
Bảng 9 trình bày các kết quả từ phương trình (1) với biến động tăng trưởng
là biến phụ thuộc. Đối với mẫu đầy đủ, IT có một hiệu ứng nhỏ nhưng đáng kể
Nhóm 12_BH01K35 Page 20
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
tiêu cực cho các giá trị TURNOVER rất thấp. Đối với các nền kinh tế phát triển,
IT có một hiệu ứng nhỏ nhưng có ý nghĩa tích cực cho các giá trị trung bình của
LEGAL. Đối với các nền kinh tế mới nổi, không có hiệu lực bất kể LEGAL hay
TURNOVER.
2.1 Lạm phát ở các nền kinh tế mới nổi:
Các hệ số IT lớn như TURNOVER, và IT *TUNOVER trong cột (6) của
Bảng 6 cho thấy rằng các quan sát có lạm phát cao có thể có ảnh hưởng lớn đến
kết quả, mặc dù bao gồm các biến giả lạm phát cao. Sau đây, chúng tôi không
tập trung đến biến TURNOVER như một tác động của CBI. Như đã đề cập trước
đây, chúng tôi không tìm thấy bằng chứng cho thấy nó có tác động tới lạm phát
bằng cách sử dụng LEGAL, nó không phản ánh chính xác CBI đối với các nền
kinh tế mới nổi. Trong Bảng 10, chúng tôi trình bày kết quả bỏ qua các quan sát
lạm phát lớn hơn 100% hoặc 40%. Nếu bỏ qua lạm phát lớn hơn 100% (40%)
kết quả sẽ mất đi 23 (56) quan sát. Kết quả nhìn chung là tương tự nhưng ít
chính xác hơn so với những báo cáo trong bảng 5 và 6. Đặc biệt, trong cột (1),

tăng trưởng ổn định, kết quả là hầu như giống hệt nhau. Vì vậy, đối với hầu hết
các phần, kết quả là rất tương tự khi cho vào biến nội sinh có thể của IT hay cả
IT và CBI.
Thứ hai, độ trễ lạm phát và TURNOVER là tương quan tích cực. Mặc dù
chúng tôi đã dùng lạm phát có độ trễ như là một biến độc lập, chúng tôi bỏ qua
thời kỳ tương tác IT * INFLt-1 trong hồi quy chuẩn. Điều này có thể gây ra sự
chênh lệch giảm ước tính hệ số IT*TUNOVER, kể từ khi áp dụng IT có thể có
hiệu quả hơn trong việc giảm lạm phát khi tỷ lệ lạm phát có độ trễ cao (tức là hệ
số của IT * INFLt-1 là âm). Do đó, chúng tôi thêm biến IT * INFLt-1 như là một
biến độc lập bổ sung. Các kết quả trong hồi quy lạm phát không thay đổi.
Nhóm 12_BH01K35 Page 22
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
Thứ ba, chúng ta sử dụng ngày bắt đầu thay thế cho việc áp dụng IT từ
Gonçalves và Salles (2008), một chút khác nhau từ Batini và Laxton (2007),
những người chỉ phân loại một quốc gia đã thông qua IT sau khi sử dụng đầy đủ
các mục tiêu khác với mục tiêu lạm phát (Mishkin, 2000).
Kết quả là hầu như giống hệt nhau.Cuối cùng, chúng tôi tìm thấy kết quả
tương tự như khi chúng ta loại trừ biến giả cho lạm phát tăng cao.
3. Các kênh
Trong phần này, chúng tôi nghiên cứu các kênh mà qua đó mức độ CBI
thấp tại các nền kinh tế mới nổi làm tăng tương đối hiệu quả so với các chế độ
tiền tệ khác. Chúng tôi quan tâm đến lạm phát trung bình trong phần này. Chúng
tôi cho rằng CBI thấp có thể tác động làm cho một số yếu tố góp phần trong sự
thành công của chính sách tiền tệ bị mất đi. Bởi vì việc áp dụng IT có thể thúc
đẩy sự phát triển của một số yếu tố này (Batini và Laxton, 2007; Friedman và
Ötker-Robe, 2009; Mishkin, 1999), có nhiều nơi để cải thiện môi trường CBI
thấp. Vì vậy, IT có thể có tác động mạnh mẽ hơn khi CBI thấp là một kết quả
của hiệu ứng cải thiện.
Đầu tiên, IT có thể thúc đẩy sự nới lỏng của CBI. Đặc biệt, bằng cách nhấn
mạnh khả năng của các NHTW để kiểm soát lạm phát trong thời gian dài và

value = 0,34). Điều này cho thấy thâm hụt ngân sách thấp hơn là một kênh thông
qua đó IT giúp giảm lạm phát trong nước có CBI thấp.
Thứ ba, đô la hóa trách nhiệm mở rộng làm thay đổi việc truyền tải chính
sách tiền tệ và tạo ra khó khăn trong việc thực hiện IT (Mishkin, 2003). Đặc biệt,
việc giảm lãi suất có nghĩa là để kích thích tổng cầu có thể có tác dụng ngược lại
nếu nó giảm giá tỷ giá hối đoái. Cả hai IT và CBI có thể ảnh hưởng đến mức độ
đô la hóa như chính sách tiền tệ đáng tin cậy có thể làm giảm nhu cầu các khoản
Nhóm 12_BH01K35 Page 24
Tiểu Luận tài Chính Quốc tế. GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
vay bằng đô la (IMF, 2006). Vì vậy, để mức độ CBI thấp làm tăng đô la hóa
trách nhiệm, có thể có nhiều nơi cho đô la giảm sau khi áp dụng IT. Để làm rõ
được đô la hóa trách nhiệm, chúng tôi thêm vào tiền gửi ngoại tệ như là một
phần của tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng trong nước. Hệ số tương quan
giữa các biến này và doanh thu là 0,14, cho thấy mối liên hệ giữa hai biến. Sự
bao gồm của biến này và tương tác của nó với IT, tuy nhiên kết quả không thay
đổi, cho thấy rằng đây không phải là một kênh thông qua đó CBI ảnh hưởng đến
hiệu suất IT.
Thứ tư, thị trường tài chính không hoàn hảo ảnh hưởng đến sự thành công
của IT vì hạn chế khả năng của các NHTW để ảnh hưởng đến lãi suất đối với
các hộ gia đình và các công ty (IMF, 2006). Vì lý do này, việc thực thi IT trong
một số trường hợp được đi kèm với bảo đảm an toàn quy định và giám sát để
tăng cường hệ thống tài chính. Trong phạm vi cải cách tài chính xảy ra nhiều
hơn trong quốc gia áp dụng IT, IT có thể có thành công hơn so với các chính
sách khác, đặc biệt là khi hệ thống tài chính ban đầu là kém phát triển. Hơn nữa,
CBI cao có thể thúc đẩy phát triển hệ thống tài chính bằng cách cung cấp lạm
phát thấp và ổn định. Chúng tôi sử dụng các cổ phiếu giao dịch tỷ lệ doanh thu
(tương quan với TUNOVER = -0,13) và vốn hóa thị trường chứng khoán như là
một phần của GDP (tương quan với TUNOVER= -0,17) để kiểm tra sự phát
triển hệ thống tài chính. Một lần nữa, kết quả là không thay đổi, cho rằng điều
này không phải là một kênh thông qua đó CBI ảnh hưởng đến hiệu suất IT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status