Chính sách lãi suất của NHTW Việt Nam
I. Tổng quan về lãi suất
Trong thời gian qua, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn nhất là trong lĩnh vực
kinh tế với chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN .Trong sự
phát triển đó, NHTW đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hướng nền kinh tế, điều tiết
các mối quan hệ trong nền kinh tế, chống lạm phát, thiểu phát và các nhược điểm phát sinh trong
nền kinh tế thị trường. Một trong những công cụ được NHTW sử dụng nhiều nhất để thực hiện
các chức năng của mình là công cụ lãi suất. Đây là một công cụ của chính sách tiền tệ được
nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm và được nhiều quốc gia sử dụng như một công cụ hữu
hiệu để điều tiết nền kinh tế. Đồng thời, đây cũng được coi là một công cụ nhạy cảm nhất và là
vấn đề nóng bỏng thu hút được nhiều sự quan tâm của các thành phần dân cư trong xã hội. Là
một công cụ có vai trò quan trọng như vậy, nên lãi suất là một trong những biến số được theo dõi
một cách chặt chẽ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến mỗi người dân và có những ảnh hưởng rất to lớn
tới nền kinh tế. Nó tác động mạnh đến quyết định tiết kiệm hay chi tiêu dùng của người dân , đầu
tư công nghệ hay giảm thiểu chi tiêu của Doanh nghiệp đồng thời có thể ảnh hưởng đến rất
nhiều thị trường trong nền kinh tế mà đặc biệt là thị trường chứng khoán. Trên thực tế, vào ngày
19-05-2008 Ngân hàng Nhà nước ra quyết định tăng lãi suất cơ bản đồng thời huỷ bỏ mức lãi
suất trần huy động vốn và khi quyết định này có hiệu lực thì thị trường chứng khoán đã chao đảo
mạnh vì các nhà đầu tư rút tiền khỏi thị trường chứng khoán và gửi vào ngân hàng. Đây là một
cú sốc mạnh và thị trường vẫn chưa thể phục hồi tại thời điểm này.
Trong từng thời kỳ nhất định, việc tìm ra và thi hành một chính sách lãi suất phù hợp là vô cùng
phức tạp mà vai trò quyết định thuộc về ngân hàng nhà nước. Cùng với sự thay đổi và phát triển
không ngừng của nền kinh tế, chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương cũng thường xuyên
được điều chỉnh cho phù hợp với các tình hình mới của nền kinh tế, tạo điều kiện cho phát triển
cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức kinh tế khác.
II. Khái niệm lãi suất và các vấn đề liên quan đến lãi suất
1. Khái niệm
Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến các phạm trù kinh tế khác,
phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay vốn) với chủ thể sở hữu vốn (người
cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm theo lãi ở thị trường vốn ở một thời điểm nhất
định.
nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
3. Vai trò : Trước đây, trong nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp thì vai trò của lãi suất hết
sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều yếu tố. Nhiều khi được hiểu như là một sự phân phối cuối cùng
của sản phẩm giữa người đi vay và người cho vay. Ngày nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường, lãi suất đã giữ một vai trò hết sức quan trọng, tác động đến tất cả lĩnh vực của nền kinh
tế.
a. Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết kiệm của các chủ thể
kinh tế tạo nên quỹ cho vay phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế . Theo lý thuyết tài chính ta có
phương trình về thu nhập như sau :
Thu Nhập = Tiết Kiệm + Tiêu dùng
Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia đình mà còn đúng với
cả nền kinh tế quốc gia. Giả sử trong một nền kinh tế bình thường, khi lãi suất vốn tăng lên thì
trước hết các hộ gia đình sẽ giảm các khoản chi tiêu dùng hoặc trì hoãn một số khoản chi để tăng
mức tiết kiệm. Như vậy, lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia tie lệ giữa tiêu
dùng và tiết kiệm. Tuy nhiên, nâng lãi suất đến mức nào thì cần phải có sự tính toán lỹ lưỡng
nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền kinh tế.
b. Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước nhằm điều tiết lưu
thông tiền tệ, kích thích và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Lãi suất
phải trả cho các khoản vay là chi phí của doanh nghiệp. Do vậy, lãi suất thấp sẽ khuyến khích
doanh nghiệp đẩy mạnh vay vốn đầu tư mở rộng sản xuất và ngược lại lãi suất cao sẽ khiến
doanh nghiệp hạn chế vay vốn đầu tư. Lãi suất là công cụ của Nhà nước nhằm khuyến khích các
Doanh nghiệp đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát
triển kinh tế thông qua các ưu đãi về lãi suất, về điều kiện cung cấp tín dụng và thời hạn thanh
toán
c. Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Chúng ta thấy rằng, lãi suất là khoản chi phí của người đi vay, nên sự thay đổi của lãi suất sẽ ảnh
hưởng tới quyết định đến đầu tư và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp và các thành phần
kinh tế khác. Do đó có thể tác động đến mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô :
Trung ương công bố, được lấy làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng xác định mức lãi suất kinh
doanh còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất mà Ngân hàng Trung ương quy định đối với các khoản
vay cuối cùng trong các trường hợp sau :
- Ngân hàng trung ương cho vay chiết khấu và tái chiết khấu.
- Ngân hàng trung ương cho vay đối với giá trị hợp đồng tín dụng chưa đến hạn của Ngân hàng
thương mại
- Ngân hàng trung ương cho vay cầm cố bất động sản và thế chấp các chứng từ có giá của Ngân
hàng thương mại.
Hơn nữa, thực tế tình hình lãi suất của Việt Nam hiện nay chưa cho phép sử dụng lãi suất tái cấp
vốn để điều hành chính sách tiền tệ được.
b. Quan điểm 2 : Duy trì lãi suất trần như hiện nay và xem đó là lãi suất cơ bản, trong quá trình
xác định lãi suất có thể cộng thêm mức biên độ dao động của lãi suất cơ bản. Quan điểm này bất
hợp lý ở chỗ khi cộng thêm biên độ dao động vào trần lãi suất sẽ làm lãi suất cao hơn lãi suất
trần, điều này không phù hợp với nền kinh tế Việt Nam.
c. Quan điểm 3 Lãi suất cơ bản là loại lãi suất xác định dựa vào lãi suất đầu vào và công bố
giới hạn tối đa để các NHTM và các tổ chức tín dụng xác định mức lãi suất kinh doanh. Với
quan điểm này, lãi suất cơ bản tạo ra khả năng chủ động giảm lãi suất của các NHTM, đặc biệt là
lãi suất cho vay.Cũng do đó, NHTM có điều kiện tốt hơn để huy động vốn với lãi suất thấp còn
đối với những vùng khó khăn thì cao hơn trong việc huy động vốn.
III. Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam
1. Điểm lại chặng đường sau hơn 10 năm đổi mới chính sách lãi suất
a. Giai đoạn 1986 - 1992, giai đoạn chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất thực dương : Ở giai
đoạn này người gửi tiền không những không có lãi mà giá trị của đồng vốn họ bỏ vào Ngân hàng
còn không được đảm bảo. Lãi suất ở thời kỳ này la lãi suất âm và thấp hơn nhiều so với lạm
phát. Bước sang năm 1992, lạm phát đã được đẩy lùi và luôn ở mức thấp đã tạo điều kiện để
chúng ta chuyển sang lãi suất thực dương. Bên cạnh việc xác định mức lãi suất tiền gửi và cho
vay cụ thể, Ngân hàng nhà nước còn có sự phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế, lãi suất
cho vay đối với các doanh nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, vẫn còn có hạn chế là lãi suất cho vay
ngắn hạn cao hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn.
b. Giai đoạn Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất tiền gửi , lãi suất cho vay và lãi suất thoả
với sự đi xuống của tốc độ lạm phát vừa đảm bảo khuyến khích tiết kiệm vừa đẩy mạnh đầu tư vì
mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
+ Từ năm 1996, bằng việc kiềm chế thành công lạm phát khi đẩy lùi lạm phát về mức một chữ số
(1996 là 4,5%, năm 1997 là 3,7%) là điều kiện để thi hành chính sách lãi suất thực dương gắn
liền với việc điều chỉnh toàn diện lãi suất cả về cơ cấu mặt bằng cũng như loại hình lãi suất huy
động tiền gửi và cho vay (bao gồm cả nội và ngoại tệ). Từ đó đến nay, chính sách lãi suất bắt đầu
linh hoạt hơn cả mức lãi suất trần về huy động vốn và cho vay. Qua đó, chúng ta rút ra được một
số nhận xét về chính sách lãi suất ở Việt Nam như sau :
Một là : Chúng ta đã liên tục theo đuổi chính sách lãi suất chủ động từ khi bắt đầu công cuộc đổi
mới chính sách lãi suất và theo đó là cơ cấu của các loại hình lãi suất khi được định hình đúng
đắn đã có tác động tích cực đến tiến trình phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam.
Hai là : chế độ kiểm soát lãi suất cứng nhắc đã dần dần được nới rộng, các mức lãi suất được quy
định cụ thể theo mục đích và ngành nghề kinh doanh đã được xoá bỏ để dành quyền tự chủ cho
các NHTM trong một mức độ linh hoạt nhất định.
Ba là : Thực tế đang đã cho thấy chừng nào có được loại hình lãi suất chủ đạo (lãi suất cơ bản)
đồng thời xây dựng được cơ chế đảm bảo mức độ bao quát và cách thức can thiệp linh hoạt của
NHNN đối với quan hệ cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế thì khi đó mới kiểm soát tốt lượng tiền
trong lưu thông.
Ngoài ra, chính sách lãi suất thời kỳ này cũng còn nhiều điểm bất cập cần phải khắc phục. dù cho
có thể biện minh việc kiểm soát lãi suất trong những điều kiện nhất định vù mục tiêu của chính
sách tiền tệ nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiệt hại xét trên tổng thể nền kinh tế. Điều
này khuyến khích sự vay mượn, chiếm dụng vốn, trốn tránh sự kiểm soát của NHNN làm méo
mó chế độ lãi suất được NHTW quy định. Mức độ toàn dụng vốn trong nền kinh tế thấp, tình
trạng đầu cơ trục lợi và cạnh tranh bất tương xứng về lãi suất vẫn diễn ra, nhiều nguồn vốn bị sử
dụng kém hiệu quả. Chúng ta chuyển sang lãi suất trần là một bước tiến song vẫn chưa phản ánh
đúng quan hệ cung - cầu vốn của nền kinh tế.
Lãi suất cơ bản của NHNN hiện nay
Theo điều 9 khoản 12 của luật NHNN Việt Nam lãi suất cơ bản được định nghĩa như sau : "Lãi
suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh
doanh". Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất của thị trường liên ngân hàng, lãi
vay của các NHTM quốc doanh. Mức lãi suất của các NHTM đều thấp hơn từ 10-15% so với
mức lãi suất trần nói trên, chỉ cho vay với lãi suất 1-1,05%/tháng, thậm chí hạ đến 0,9-
0,95%/tháng đối với loại hình cho vay ngắn hạn.
Đến tháng 6-1999, NHNN lại có quyết định điều chỉnh lãi suất trong đó quy định lãi suất trần
cho vay là 1,5%/tháng đối với cả ngắn, trung và dài hạn . Như vậy lãi suất ngắn hạn đã tăng thêm
0,05%/tháng so với tháng 2.
Đến 30-05-2000 (thời điểm áp dụng mức lãi suất cơ bản) NHNN quy định lãi suất cơ bản là
7.2%/ năm và đến tháng 6-2008 lại điều chỉnh thành 14%/ năm . Tháng 4-2009 lãi suất cơ bản lại
được ấn định là 7%/ năm.
b. Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất
Việc điều chỉnh lãi suất có rất nhiều nguyên nhân, trong đó mục tiêu chính hướng đến là để giữ
vững an ninh kinh tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định, hệ thống tài chính luôn hoạt động
tốt.
Cuộc điều chỉnh lãi suất năm 1999 là do sự bất hợp lý về lãi suất đối với các thành phần kinh tế
và các khu vực trong nền kinh tế. Mặt khác, lãi suất thực trước khi điều chỉnh là quá cao, gây
khó khăn cho các Doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn dẫn đến việc nền kinh tế không
được đẩy mạnh sản xuất, dẫn đến tình trạng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và nhiều hệ quả
xấu khác. Vì vậy, khi đó NHNN buộc phải hạ mức lãi suất cho vay xuống bằng biện pháp quy
định mức lãi suất trần cho vay đối với các NHTM quốc doanh, như vậy sẽ khiến các Doanh
nghiệp dễ dàng hơn trong việc vay vốn mở rộng sản xuất , thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Cuộc điều chỉnh lãi suất năm 2008 lại chủ yếu nhằm kiềm chế lạm phát đang có xu hướng tăng
mạnh thời điểm đầu năm. Việc tăng lãi suất sẽ khiến lượng tiền trong lưu thông giảm xuống vì
người có vốn thay vì đem vốn đầu tư hoặc mua chứng khoán sẽ mang đến gửi ở ngân hàng nhiều
hơn. Đối với các Doanh nghiệp, việc các tăng lãi suất sẽ khiến họ hạn chế vay vốn mở rộng đầu
tư và sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn trong chi tiêu. Chính vì vậy, nó sẽ có tác dụng giảm lượng tiền
trong lưu thông, giúp Nhà nước có thể kiềm chế được lạm phát ổn định nền kinh tế. Tháng 1-
2009, nhà nước lại đưa ra gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD theo hình thức : các cá nhân, doanh
nghiệp, hộ gia đình và các hợp tác xã khi vay vốn sẽ được các ngân hàng trừ 4% lãi vay (lãi vay
này sẽ được Ngân hàng nhà nước sẽ trả thay cho người đi vay cho các Ngân hàng thương
mại). Đến tháng 4-2009, lãi suất cơ bản lại được ấn định còn 7%/năm. Các chính sách này nhằm
tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên khi tình trạng lạm phát diễn ra (lên đến 12.63%) thì NHNN vẫn
duy trì mức lãi suất cơ bản như năm 2006 là 8,25% trong khi mức độ lạm phát năm 2006 chỉ là
6,6%. Tiếp đó vào thời điểm lạm phát được kiểm soát vào khoảng cuối năm 2008 thì lãi suất cơ
bản không những không giảm mà còn tiếp tục tăng lên (lên đến 14% năm), điều này đã đẩy nhiều
Doanh nghiệp vào thế khó khi lãi suất quá cao gây khó khăn cho việc vay vốn trong khi giá sản
phẩm đã giảm xuống do tác động của lạm phát đã được đẩy lùi. Mặt khác, nếu NHNN thi hành
ngay việc tăng lãi suất cơ bản vào cuối năm 2007 thì lạm phát đã không thể bùng phát mạnh mẽ
như vậy và kéo dài sang cả năm 2008.
Thêm nữa, trong ngành nông nghiệp dù được sự quan tâm của Nhà nước thì việc cho vay đối với
từng hộ gia đình là điều cần thiết. Tuy nhiên, thực tế đây lại là một khu vực nhạy cảm, có mức
độ rủi ro cao, nợ gốc khó đòi nên dễ gây thua lỗ cho các Ngân hàng, ảnh hưởng đến tâm lý đối
với các cán bộ tín dụng và làm ảnh hưởng đến các hoạt động của Ngân hàng. Chính sách hỗ trợ
lãi suất của ngân hàng Nhà nước vào năm nay cũng chưa đạt được hiệu quả mong muốn bởi vì
trên thực tế thủ tục cũng khá phức tạp lại không được hướng dẫn cụ thể từ phía Ngân hàng nhà
nước, và các ngân hàng thương mại lo ngại rằng khi đoàn thanh tra của Ngân hàng Nhà nước kết
luận họ cho vay không đúng đối tượng sẽ không nhận được tiền hỗ trợ lãi suất của Ngân hàng
nhà nước. Mặt khác, các Doanh nghiệp cũng không mấy mặn mà bởi hàng tồn trong kho còn
nhiều nên họ cũng không mấy hào hứng mở rộng sản xuất, hơn nữa đối tượng hỗ trợ lãi suất chỉ
là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với lượng vốn vay ít nên mức giảm này cũng không nhiều ý
nghĩa đối với chi phí bỏ ra để giải trừ hàng tồn kho.
4. Giải pháp định hướng việc điều hành lãi suất ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang xây dựng một nền kinh tế hàng hóa thị trường nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, vì thế việc nghiên cứu để có một chính sách lãi suất cho phù hợp là vô cùng
cần thiết để xây dựng nền kinh tế. Trên thực tế, trong suốt thời gian qua chúng ta đã không
ngừng thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp : năm 1990 chúng ta đã chuyển từ cơ chế
lãi suất âm ang cơ chế lãi suất dương, đồng thời duy trì lãi suất vượt trên lạm phát và điều chỉnh
theo biến động của nền kinh tế thị trường, có tham khảo sự thay đổi của các nước trong khu vực
và quốc tế. Đầu năm 1996 lại có sự thay đổi theo hướng tự do hóa, hủy bỏ quy định về lãi suất
tiền gửi điều chỉnh trần lãi suất cho vay phù hợp với cung cầu vốn và mức độ lạm phát.
Vì vậy, có thể thấy rằng chúng ta không thể quy định lãi suất một cách cứng nhắc theo kiểu hành