luận văn thạc sĩ giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại agribank chi nhánh huyện tiên du bắc ninh - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Số liệu được
nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn. Kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN VĂN QUẢ

i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học khóa CH19B chuyên ngành Tài
chính – Ngân hàng tại trường Đại học Thương mại và viết luận văn này, bên
cạnh sự nỗ lực của bản thân, tác giả cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm,
giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trường Đại học Thương mại. Các cán bộ
quản lý Khoa Sau đại học, cô giáo hướng dẫn, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
trong suốt quá trình học tập và công tác.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Trường Đại học Thương mại, Khoa Sau đại học đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tác giả học tập và nghiên cứu.
Các thầy cô giáo Trường Đại học Thương mại đã giảng dạy trong suốt
quá trình tác giả học tập tại trường.
Cô giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thanh Hương, người đã toàn tâm, toàn ý
hướng dẫn về mặt khoa học giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Toàn thể các phòng ban và cán bộ công chức của Ngân hàng Nông Nghiệp và
phát triển nông thôn Huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh.
Các cơ quan hữu quan, các nhà khoa học, đồng nghiệp và bạn bè đã cung cấp tài
liệu, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này.
Mục dù đã có nhiều cố gắng hoàn thành nội dung nghiên cứu bằng tất cả
năng lực và sự nhiệt tình của bản thân, tuy nhiên luận văn này không thể tránh
khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu
của các thầy, cô và đồng nghiệp để hoàn thiện hơn nữa nhận thức của mình.


v
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo lộ trình khi gia nhập WTO năm 2007 thì năm 2011 sẽ mở ra một sân
chơi lành mạnh hơn cho các Ngân hàng khi Việt Nam tháo bỏ mọi rào cản cho các
Ngân hàng nước ngoài. Như vậy, hệ thống Ngân hàng phải tiếp tục xây dựng, hoàn
thiện môi trường pháp lý phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, đặc biệt đối
với các NHTM trong nước phải nâng cao năng lực tài chính, hiện đại hóa công
nghệ, thiết lập hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM,
nhưng cũng hàm chứa nhiều rủi ro. Trong các cuộc họp tại Basel đã đưa ra những
yêu cầu về quản trị rủi ro trong đó chú trọng và đề cao vai trò xếp hạng tín dụng đối
với các Ngân hàng thương mại được quy định trong Hiệp ước Basel I (Năm 1988)
và bổ sung trong hiệp ước Basel II (Năm 2004).
Nhận thức được tầm quan trọng của XHTD, hầu hết các NHTM lớn tại Việt
Nam đã nghiên cứu triển khai Hệ thống xếp hạng tín dụng để phục vụ công tác quản
trị rủi ro tín dụng và thực hiện chính sách khách hàng, một số Ngân hàng đã được
Ngân hàng Nhà nước phê duyệt hệ thống XHTD và cho phép thực hiện phân loại nợ
và trích lập dự phòng rủi ro theo Phương pháp định tính (Điều 7 Quyết định
493/2005/QĐ-NHNN). Nhờ đó việc quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả hơn, khả năng
phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng được cải thiện và dần tiếp cận với thông lệ quốc tế.
Ngày 27/7/2011 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
cũng được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt cho thực hiện chấm điểm và phân loại
nợ theo Điều 7 quyết định 493. Sau hơn một năm triển khai hệ thống xếp hạng tín
dụng đã đạt được một số kết quả khả quan làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách
khách hàng, là căn cứ để phân loại nợ theo Điều 7 Quyết định 450/QĐ-HĐTV-
XLRR của Hội đồng thành viên NHNo&PTNT Việt Nam ban hành ngày 30/5/2014
“Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong hệ thống
NHNo&PTNT Việt Nam” và đáp ứng yêu cầu của công tác quản trị rủi ro dần phù

- Khách hàng của Agribank Chi nhánh huyện Tiên Du Bắc Ninh chỉ có tổ chức
kinh tế và hộ gia đình/cá nhân không có khách hàng là định chế tài chính; hơn nữa

2
hệ thống xếp hạng tín dụng đã triển khai từ năm 2010 nhưng đến quý 1/2012 mới
chính thức thực hiện xếp hạng để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đối với
khách hàng là tổ chức kinh tế và hộ gia đình/cá nhân trên 500 triệu đồng. Vì vậy
luận văn tập trung vào nghiên cứu các quy định của Agribank Việt Nam và việc tổ
chức thực hiện của Agribank chi nhánh Tiên Du Bắc Ninh về xếp hạng tín dụng đối
với tổ chức kinh tế và hộ gia đình/cá nhân.
- Hệ thống xếp hạng tín dụng của Agribank được thực hiện thống nhất trong
các Chi nhánh, Phòng giao dịch của Agribank. Đó là một hệ thống chấm điểm tự
động và chi tiết tới từng ngành nghề, quy mô, loại khách hàng vì vậy phạm vi
nghiên cứu chỉ tập trung vào những khách hàng đặc thù của Chi nhánh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ đạo thực hiện luận văn là phép duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Thông qua phương pháp phân tích tài liệu, các báo cáo, đồng thời sử
dụng phương pháp logic, lý thuyết hệ thống để tìm ra nguyên nhân cũng như giải
pháp thực hiện mục tiêu của đề tài. Mặt khác, thông qua khảo sát thực tế ở một số
Phòng trực thuộc, trao đổi, phân tích các vấn đề liên quan đến hệ thống xếp hạng tín
dụng của Ngân hàng thương mại.
5. Kết cấu của luận văn
Đề tài: “Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại Agribank Chi
nhánh huyện Tiên Du Bắc Ninh”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xếp hạng tín dụng trong ngân hàng
thương mại.
- Chương 2: Thực trạng công tác xếp hạng tín dụng tại Agribank Chi nhánh
huyện Tiên Du Bắc Ninh.
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống xếp hạng

chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản
là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn

4
cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ
của xã hội.
b. Tín dụng của Ngân hàng thương mại
Khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng về tín dụng. Vì vậy tùy theo góc độ
nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này.
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng
có một nội dung riêng. Nhưng chung quy lại, có thể hiểu:
Tín dụng nói chung được định nghĩa là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển
nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở
hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị
lớn hơn giá trị ban đầu.
Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, “Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch
về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa NH và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và
các chủ thể khác), trong đó, NH chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong
một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều
kiện vốn gốc và lãi cho NH khi đến hạn thanh toán”.
Ngày nay, TD không chỉ đơn thuần là việc chuyển giao quyền sử dụng vốn
bằng hình thái tiền tệ, hình thái tài sản tài chính (leasing) mà còn sử dụng cả uy tín
của NH (hình thức bảo lãnh - tín dụng chữ ký) để cung cấp cho khách những dịch
vụ tốt nhất như chiết khấu, bao thanh toán, thấu chi, cho vay theo hạn mức, vay
trung dài hạn, đầu tư dự án
1.1.1.2.Vai trò và đặc điểm của hoạt động tín dụng ngân hàng
a- Vai trò của Tín dụng ngân hàng
Trong hoạt động của các NHTM, hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ truyền

suất, hạn mức, thời hạn, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh…mà TDNH đã có tác động giúp
thực hiện các mục tiêu vĩ mô của quốc gia trong từng thời kỳ theo sự điều tiết của
Nhà nước. Cụ thể, khi các NHTM mở rộng TD cấp vốn ra thị trường, sẽ tạo điều

6
kiện tốt cho các KH tiếp cận nguồn vốn rẻ để tăng cường sản xuất kinh doanh. Từ
đó đóng góp chung vào sức tăng trưởng GDP của cả nước, ổn định giá cả, tạo thêm
công ăn việc làm và ổn định xã hội. Hoạt động TD cũng có vai trò trong việc tác
động đến hoạt động huy động các nguồn lực, hình thành và biến nguồn vốn thành
đầu tư, tăng trưởng kinh tế và tạo các bước nhảy vọt về công nghệ.
b- Đặc điểm của Tín dụng ngân hàng
- Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi
Ngân hàng có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu
quả và có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn.
- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần
trong xã hội, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm
cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động.
- Tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Giá trị hoàn trả
phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc
khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, có như vậy mới bù đắp được chi
phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
- Hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở niềm tin, vì vậy hoạt động tín dụng tiềm
ẩn rủi ro cao, việc thu hồi vốn phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng mà
còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như
sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường,
thiên tai…
Chính vì hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu chính nhưng cũng chứa đựng
nhiều rủi ro và mức độ ảnh hưởng lớn đối với hoạt động ngân hàng vì vậy đòi hỏi
các nhà quản trị ngân hàng phải có những biện pháp, công cụ hữu hiệu để giảm

công nghệ, như việc ứng dụng các phần mềm chuyên ngành dẫn đến đưa ra các
quyết định cho vay không đúng cũng sẽ gây ra RRTD cho NH.

8
Nhóm nguyên nhân chủ quan, bao gồm nguyên nhân từ phía người vay và
bản thân ngân hàng.
Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
Trước hết, phải nói đến việc NH còn thiếu một chính sách TD nhất quán,
chính sách TD ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ TD
ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về đảm bảo tiền vay, danh mục lựa chọn
KH trong từng giai đoạn… Nguyên nhân gây ra RRTD từ phía NH có thể khái quát
từ các nguyên nhân sau:
- NH không có đủ thông tin về các số liệu thống kê để phân tích và đánh giá
KH… dẫn đến đánh giá sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn
cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của NH.
- Sự nới lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không
phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn vay sai mục đích.
- Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm… coi đó là vật bảo
đảm chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay.
- Chạy theo số lượng hoặc theo kế hoạch mà sao nhãng việc coi trọng chất
lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh
doanh của KH.
- NH không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và nguồn
vốn sử dụng, cụ thể là: dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh toán, từ đó
dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu KH có nhu cầu rút vốn quá nhiều; hoặc dữ trữ
vốn quá nhiều gây ứ đọng, lãng phí trong sử dụng vốn; hoặc lấy vốn ngắn hạn cho
vay trung dài hạn quá mức quy định.
- Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số CBTD NH chưa đủ tầm và vấn
đề quản lý sử dụng và đãi ngộ cán bộ NH chưa thỏa đáng.
- Cạnh tranh giữa các TCTD chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy

làm NH mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn TD giảm làm cho hiệu quả
kinh doanh của NH giảm, chi phí tăng lên so với dự kiến. Đến một mức nào đó, NH
không đủ vốn để trả cho người gửi tiền, thì sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh

10
toán. Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy
tín, sức cạnh tranh giảm, kết quả kinh doanh ngày càng xấu, điều này có thể dẫn NH
đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản. RRTD ở một NH xảy ra ở mức độ khác
nhau: nhẹ nhất là NH bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng
nhất là khi NH không thu hồi được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến NH
bị thua lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài và không khắc phục được, NH sẽ
bị phá sản và gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống NH
nói riêng.
Có thể nói, RRTD là không thể tránh khỏi, nó theo sát quá trình kinh doanh
của NH; có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Thông qua tìm ra những
nguyên nhân căn bản của RRTD để đưa ra các giải pháp giải quyết đảm bảo an toàn
trong hoạt động TD là nhu cầu quản lý ngày càng trở nên cấp bách.
1.1.2.2. Quản trị rủi ro tín dụng
- Khái niệm Quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các
chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và
giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm
chi phí và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và
dài hạn của NHTM.
Quản trị rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng, một trong
những hoạt động chủ đạo của NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào việc
đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt
động tín dụng của NHTM ngay cả trong những điều kiện thị trường đầy biến động,
nguy cơ rủi ro không ngừng gia tăng. Cụ thể quản trị rủi ro tín dụng phải nhằm vào

o Thẩm quyền phê duyệt các thiệt hại có thể xảy ra và các khoản nợ có khả
năng mất vốn;
o Giá cả tín dụng;

12
o Vai trò và trách nhiệm của các đơn vị/cá nhân liên quan đến tổ chức và
quản lý tín dụng;
o Quản lý tín dụng (hồ sơ tín dụng, hợp đồng tín dụng, tài liệu, tài sản bảo
đảm và bảo lãnh);
o Kiểm tra tín dụng;
o Hướng dẫn và xử lý các khoản cho vay có vấn đề;
o Hướng dẫn rõ ràng về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
+ Giới hạn cấp tín dụng:
Để hạn chế rủi ro, mỗi ngân hàng nên quy định hạn mức cấp tín dụng tối đa
cho từng cấp quản trị (mức phán quyết). Mức phán quyết có thể được quy định cho
các chi nhánh ngân hàng, các phòng giao dịch, tùy theo quy mô hoạt động, năng lực
làm việc của chi nhánh; theo loại sản phẩm tín dụng, tính chất có hay không có tài
sản bảo đảm của khoản vay.
Ngoài ra, ngân hàng cũng cần xác định một mức giới hạn tín dụng đối với
từng khách hàng riêng biệt. Nó được hiểu là mức tín dụng an toàn tối đa trong đó
khách hàng quản trị hiệu quả được hoạt động của mình và ở mức này, rủi ro ngân
hàng có thể chịu đối với khách hàng là thấp nhất.
Giới hạn tín dụng được xác định trên cơ sở chính sách tín dụng từng thời kỳ,
xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp, ngành nghề và quy mô hoạt động của họ, khả
năng cung ứng và quản trị vốn của ngân hàng.
+ Định giá khoản vay:
Định giá khoản vay là một công cụ vô cùng quan trọng trong tiến trình
quản trị rủi ro tín dụng khi quyết định cho vay đã được đưa ra. Thông thường,
thu nhập mà một khoản vay mang lại cho ngân hàng gồm: tiền lãi vay và phí.
Về cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải được xác định ở mức bảo đảm bù

phương pháp khác:
Thứ nhất, Cho phép ngân hàng nhận định chung về danh mục cho vay trong
bảng cân đối của ngân hàng. Xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng phát hiện sớm các

14
khoản vay vó khả năng bị tổn thất hay chệch hướng chính sách tín dụng mà ngân
hàng đã đặt ra để từ đó có biện pháp tăng cường giám sát và điều chỉnh thích hợp.
Thứ hai, Xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng có chính sách khách hàng phù
hợp, tạo sự hấp dẫn và thu hút ngày càng nhiều khách hàng có uy tín gắn bó lâu dài,
giúp cho hoạt động của ngân hàng được thuận lợi và phát triển ổn định. Thông qua
xếp hạng tín dụng ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro tín dụng nhất quán như
thiết lập mức lãi suất cho vay phù hợp với hạng khách hàng.
Thứ ba, Xếp hạng tín dụng là một công cụ quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến
hiện đang được áp dụng tại nhiều ngân hàng lớn trên thế giới. Đặc biệt trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hiệu quả của xếp hạng tín dụng là một điều
kiện tiên quyết để ngân hàng nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của mình.
1.2. Hệ thống xếp hạng tín dụng tại các Ngân hàng thương mại.
1.2.1.Khái niệm hệ thống xếp hạng tín dụng
Xếp hạng tín dụng được thực hiện bởi ngân hàng hoặc các trung tâm thông tin
tín dụng…để đánh giá khả năng trả nợ các khoản vay ngân hàng của khách hàng,
trong khi xếp hạng tín nhiệm được thực hiện bởi các công ty xếp hạng tín nhiệm
(CRA) riêng biệt.
Hiện nay ở nước ta, có ngân hàng gọi là “Hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ”, có ngân hàng gọi là “chấm điểm tín dụng”, có ngân hàng gọi là “xếp hạng tín
nhiệm”…nhưng bản chất thì những thuật ngữ này đều giống nhau được sử dụng để
chỉ một quá trình gồm hai công đoạn: phân tích, đánh giá để chấm điểm và xếp
hạng khách hàng. Theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và đảm bảo
dần tiến tới chuẩn mực Basel II thì hầu hết các Ngân hàng đều thực hiện xây dựng
hệ thống xếp hạng tín dụng hay hệ thống chấm điểm và xếp hạng khách hàng cho
riêng mình và gọi là Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.

1.2.2. Sự cần thiết của việc xếp hạng tín dụng trong Ngân hàng thương mại
Qua phân tích ở trên thì xếp hạng tín dụng không chỉ là công cụ hữu hiệu để
quản trị rủi ro, thực hiện chính sách khách hàng mà nó còn là yêu cầu bắt buộc
của Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống XHTD là
cần thiết thể hiện trên các khía cạnh sau:
1.2.2.1. Xếp hạng tín dụng phục vụ công tác quản trị rủi ro

16
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với việc đo lường rủi ro phát sinh để có các giải
pháp kiểm soát luôn là nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng. Công tác xếp hạng tín
dụng có vai trò quan trọng trong việc phân tích đánh giá thường xuyên khách hàng
cả trước và sau khi cấp tín dụng.
- Xếp hạng khách hàng trước khi cấp tín dụng: Khi khách hàng đề nghị vay
vốn, ngân hàng dựa nguồn thông tin thu thập được về khách hàng, thực hiện phân
tích các yếu tố định lượng và định tính để đo lường khả năng trả nợ và thiện trí trả
nợ của khách hàng. Số liệu phân tích là cơ sở xếp hạng tín dụng khách hàng vay
vốn và kết quả xếp hạng là một trong những căn cứ quan trọng để quyết định cho
vay hay từ chối cho vay, nếu cho vay thì căn cứ vào xếp hạng này để định giá khoản
vay, áp dụng chính sách tín dụng thích hợp khác để giảm thiểu rủi ro tín dụng trong
quá trình cho vay sau này.
- Tái xét đánh giá và XHTD khách hàng theo định kỳ
Trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực, định kỳ ngân hàng phải tiến hành phân
tích khả năng trả nợ gốc và lãi của khách hàng cho các khoản đã cho vay, dựa vào
nguồn thông tin thu thập được về khách hàng đi vay từ lúc giải ngân cho đến thời
điểm tái xếp hạng, nhằm đánh giá việc thực hiện các cam kết của khách hàng trong
hợp đồng tín dụng, chú trọng đến những vi phạm hợp đồng, từ đó so sánh đánh giá
sự thay đổi rủi ro tín dụng so với ban đầu. Qua đó điều chỉnh mức hạng của khách
hàng. Đồng thời, đó là cơ sở để đưa ra giải pháp xử lý các khoản nợ có vấn đề,
nhằm giảm thiểu nguy cơ rủi ro tín dụng. Nếu rủi ro tín dụng thay đổi theo chiều
hướng tăng, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng đi vay bổ sung vốn tự có hoặc tài

phù hợp từ đó hình thành lên một chiến lược trong hoạt động tín dụng đạt chất lượng
cao cụ thể. Đối với khách hàng có độ tín nhiệm cao, định hạng cao ngân hàng sẽ áp
dụng chính sách ưu đãi; cho vay với lãi suất thấp, số lượng vay nhiều, điều kiện cho
vay nới lỏng …Ngược lại, đối với khách hàng có độ tín nhiệm thấp, định hạng thấp
cũng đồng nghĩa với những khoản tín dụng ẩn chứa nhiều rủi ro, ngân hàng sẽ áp dụng
chính sách cho vay và biện pháp chặt chẽ hơn, nhằm hạn chế khả năng rủi ro tín dụng
xẩy ra.
1.2.2.4. Xếp hạng tín dụng góp phần thực hiện nguyên tắc cho vay của ngân hàng
Hai nguyên tắc trong hoạt động tín dụng là khách hàng sử dụng đúng mục đích

18
đã thoả thuận và hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn theo hợp đồng thoả thuận. Việc
XHTD khách hàng vay vốn được tiến hành trước khi hợp đồng tín dụng ký kết, và tái
xét xếp hạng được tiến hành định kỳ (sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết), dựa
trên cơ sở phân tích khả năng và thiện chí trả nợ ngân hàng, với mục đích hạn chế rủi
ro tín dụng. Đây là biện pháp “phòng bệnh” nhằm thực hiện tốt các nguyên tắc cho vay
của ngân hàng, đặc biệt là nguyên tắc “Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng”.
1.2.2.5. Xếp hạng tín dụng giúp ngân hàng xây dựng chính sách phân loại nợ và
trích lập dự phòng rủi ro theo phương pháp định tính
Căn cứ theo điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN “Tổ chức tín dụng có đủ
khả năng và điều kiện thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định tính thì xây
dựng chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro và được sự đồng ý của
NHNN”, theo điều 11 thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày, việc phân loại theo
phương pháp định tính được thực hiện khi NHNN chấp thuận với điều kiện chính là
phải có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, có hiệu lực 01/6/2014.
Phân loại nợ theo phương pháp định tính khác với việc phân loại nợ theo
phương pháp định lượng (dựa vào thời gian quá hạn, số lần cơ cấu nợ của khoản
vay). Việc phân loại các khoản nợ này dựa trên XHTD của NHTM đảm bảo chính
xác, đầy đủ và tiến gần hơn đến Chuẩn mực quốc tế - IAS 39.

thu hẹp phạm vi và đưa ra nội dung cụ thể hơn. Bảng hỏi được tiếp tục gửi tới các
chuyên gia đã tham vấn lần thứ nhất. Trong lần này, nếu thấy cần thiết, các chuyên
gia có thể điều chỉnh ý kiến ban đầu của mình.
Bước 5: Tổng hợp lại các ý kiến đánh giá lần hai của các chuyên gia. Nếu
chưa thấy thỏa mãn thì tiếp tục quá trình nêu trên cho đến khi đạt yêu cầu.
- Ưu, nhược điểm của phương pháp chuyên gia:
Phương pháp chuyên gia có ưu điểm:
+ Tận dụng được kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu của các chuyên gia
trong chuyên ngành của họ.
+ Kết quả đánh giá được tập hợp từ nhiều chuyên gia nên mức độ tin cậy cao,
có thể tránh được ảnh hưởng của những người có ưu thế trong số người được hỏi ý
kiến.

20

Trích đoạn GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH HUYỆN TIÊN DU BẮC NINH Hoàn thiện công tác thu thập và xử lý thông tin cho công tác XHTD. Nâng cao chất lượng công tác tổ chức phân tích, giám sát xếp hạng tín dụng khách hàng vay vốn. Đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ thực hiện xếp hạng tín dụng Nâng cao chất lượng quản trị điều hành
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status