Đề tài: Đánh giá tình trạng mực nước biển dâng và phân tích khả năng thích nghi dựa vào cộng
đồng tại các vùng ven biển tỉnh Trà Vinh
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng mực nước biển dâng
(MNBD) (triều cường, xâm nhập mặn) và đánh giá các phương thức thích nghi dựa vào cộng
đồng tại các vùng ven biển tỉnh Trà Vinh. Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
1. Đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng MNBD (triều cường, xâm nhập mặn) tại các vùng
ven biển tỉnh Trà Vinh.
2. Đo lường và phân tích mức độ tổn thương do triều cường và xâm nhập mặn gây ra.
3. Đo lường và phân tích khả năng thích nghi cấp độ hộ gia đình và cấp độ cộng đồng đối
với hiện tượng MNBD (triều cường, xâm nhập mặn).
4. Lựa chọn và đề xuất các phương án thích nghi cấp độ hộ gia đình và cấp độ cộng đồng.
Tổng quan tài liệu
Ngoài nước:
Wall và Marzall (2006) tiến hành nghiên cứu về khả năng thích nghi cấp độ cộng đồng ở
nông thôn Canada. Các tác giả sử dụng các biến số và chỉ số tập trung vào tác động của biến đổi
khí hậu (BĐKH) và khả năng thích nghi của cộng đồng. Một nhóm chỉ số phản ánh tình trạng xã
hội, con người, định chế, nguồn lực kinh tế và tài nguyên được đưa vào mô hình nghiên cứu liên
hệ với hiện tượng BĐKH và sự thích nghi của cộng đồng.
Swanson và ctv (2007) đã phát triển một phương pháp nghiên cứu khả năng thích nghi đối
với tác động của BĐKH ở các khu vực bị tổn thương ở nông thôn Canada. Nghiên cứu đã phát
triển các chỉ số dựa trên hệ thống thông tin địa lý- GIS về khả năng thích nghi của cộng đồng sống
bằng nông nghiệp. Nghiên cứu sử dụng 20 chỉ số về khả năng thích nghi. Các chỉ số này được
chia thành sáu nhóm là nguồn lực kinh tế (economic resources), kỹ thuật (technology), thông tin
kỹ năng (information & skills), cơ sở hạ tầng (infrastructure), định chế (institutions), và công
bằng (equity). Ngoài ra, phân tích không gian (spatial analysis) các chỉ số khả năng thích nghi và
các định thức của nó cho 53 địa bàn nghiên cứu đã cho thấy khả năng thích nghi của hộ gia đình
và cộng đồng đối với tác động của BĐKH tạo ra.
Ivey và ctv (2004) đã phát triển một mô hình nghiên cứu về xây dựng khả năng cho cộng
đồng để đối phó với vấn đề thiếu hụt nguồn nước do tác động của BĐKH tại vùng Ontario,
Canada. Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra các tiêu chuẩn trong mô hình nghiên cứu của mình
thích nghi cấp độ cộng đồng đối với cơn lụt lớn năm 2007 tại thủ đô Jakarta của Indonesia. Trong
nội dung nghiên cứu về khả năng thích nghi cấp độ chính quyền địa phương và cấp độ cộng đồng,
các tác giả tiến hành đánh giá các yếu tố định chế và thể chế, đánh giá rủi ro, sự điều hành và hệ
thống cảnh báo thiên tai, các yếu tố về kiến thức, giáo dục và thông tin, các kỹ thuật thích nghi,
nguồn lực kinh tế, định chế và mạng lưới, kiến thức và kỹ năng, cơ sở hạ tầng, và các chiến lược
thích nghi cấp độ chính quyền và cộng đồng. Về phương diện ứng dụng chính sách, kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra những cách thức thích nghi phù hợp với địa bàn nghiên cứu.
Trong nước:
Tuấn và ctv (2009) đã sử dụng cùng cách tiếp cận và khung nghiên cứu của EEPSEA ở
trên để nghiên cứu về khả năng thích nghi cấp độ cộng đồng và chính quyền địa phương đối với
thiên tai như bão và lũ ở Miền Trung Việt Nam. Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu
định tính như thảo luận nhóm FGD và phỏng vấn KII để đánh giá khả năng thích nghi trước-
trong-sau thiên tai bão và lũ. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có nhiều cách thích nghi được áp
dụng bởi chính quyền địa phương và cộng đồng để đối phó với hiện tượng bão lũ trong đó trung
tâm kiểm soát bão lũ đóng một vai trò quan trọng trong việc lên kế hoạch và chuẩn bị đối phó
giảm nhẹ và thích nghi với thiên tai. Cộng đồng là nhân tố chính trong quá trình chuẩn bị đối phó
và thích nghi với bão lũ. Ngoài ra, việc thiếu hụt ngân sách, chuyên môn sâu, và phương tiện, thiết
bị là những trở ngại chính cho quá trình thích nghi của cộng đồng. Có sự phối hợp tốt giữa chính
quyền địa phương và các tổ chức xã hội với cộng đồng trong việc đối phó với thiên tai xãy ra. Để
đối phó và thích nghi, nhiều biện pháp thích nghi đã được sử dụng trước, trong, và sau bão lũ.
Từ các tổng quan tài liệu ở trên có thể thấy rằng BĐKH-MNBD là vấn đề mang tính toàn
cầu. Ở Việt Nam vấn đề này đã được quan tâm nghiên cứu vào những năm 1990. Các nghiên cứu
trong thời gian này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu bản chất, nguyên nhân, diễn biến và đề xuất
các nguyên tắc, giải pháp chung để thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐHK-MNBD. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một chương trình nghiên cứu BĐKH một cách toàn diện ở cấp độ
khu vực và quốc gia (Hoàng Văn Huân, 2010). Đặc biệt, trong những năm gần đây, tác động của
BĐKH-MNBD ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Do đó, cần thiết có những nghiên cứu hiện tượng
BĐKH-MNBD một cách cụ thể hơn ở cấp độ khu vực, vùng, và quốc gia. Trà Vinh là một trong
các tỉnh nằm ở vùng ven biển ĐBSCL, nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất về ngập và xâm nhập mặn
dưới tác động của BĐKH-MNBD, rất cần có những nghiên cứu thuộc loại này nhằm phục vụ cho
Tỉnh Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu mát mẻ quanh năm, ít bị ảnh hởng bởi
lũ. Trà Vinh là một trong số ít tỉnh của Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi cho các họat động
sản xuất, kinh doanh và du lịch quanh năm. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, lợng nớc bốc
hơi và lợng ma đợc phân bổ đều khá rõ rệt giữa hai mùa ma (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô
(từ tháng 11 đến tháng 4). Nhiệt độ trung bình giữa các tháng từ 26 - 27,6
0
C, cao nhất vào tháng 4
và thấp nhất vào tháng 1. Số giờ nắng trong năm từ 2.236 đến 2.877 giờ. Tỉnh Trà Vinh có trị số
bức xạ trên 15.106 kcal/ha/năm đợc xếp vào mức cao so với các nơi khác của ĐBSCL nên tiềm
năng về năng suất còn cao hơn và thực tế nếu giải quyết đủ nớc tới, kiểm sóat tình trạng ngập úng
cục bộ, ngăn mặn có thể trồng trọt quanh năm. Lợng ma trung bình năm 1.526,16 mm, cao nhất
1.862,9 mm, thấp nhất 1.209 mm, phân bố không đều theo không gian và thời gian, có xu thế
giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Những biến động phân bố ma thờng gây rủi ro cho vụ lúa
Hè Thu và lúa Mùa. Độ ẩm tơng đối trung bình năm: 83 - 85%, tháng khô nhất: tháng 2 và tháng
3. Lợng bốc hơi nớc bình quân nhiều năm của các tháng biến thiên từ 48 mm vào tháng 7 đến 111
mm vào tháng 3. Lợng bốc hơi cao nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, trong thời gian này
lợng ma thấp không đáng kể. Gió Tây Nam từ tháng 5 - 10 mang nhiều hơi nớc và gây ra ma, tốc
độ 3 - 4 m/s. Gió chớng (gió mùa Đông Bắc hoặc Đông Nam) từ tháng 11 năm trớc đến tháng 3
năm sau, tốc độ 2,3 m/s có hớng song song với các cửa sông lớn, là nguyên nhân gây ra việc đẩy
nớc biển dâng cao và truyền sâu vào nội đồng. Nhìn chung khí hậu tỉnh Trà Vinh với đặc điểm
nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt độ cao ổn định, nắng và bức xạ mặt trời rất thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp, nếu có đủ nớc ngọt và vốn đầu t có thể thâm canh 2 - 3 vụ cây ngắn ngày trong năm,
cho năng suất cao. Tuy nhiên, yếu tố hạn chế đáng kể nhất của khí hậu là lợng ma ít, lại tập trung
theo mùa, kết hợp với địa hình thấp, đỉnh triều cao, đã gây ngập úng cục bộ một số vùng trong
mùa ma, hoặc hạn cục bộ có khi là hạn Bà Chằng cuối mùa khô (tháng 3 và 4) thúc đẩy bốc phèn,
gia tăng xâm nhập mặn, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt việc cấp nớc ngọt trong
mùa khô không đáng kể, có trên 40.000 ha lúa một vụ mùa nhờ nớc trời.
Da trờn mụ t trờn cho thy s phỏt trin ca tnh Tr Vinh, c bit l trong lnh vc sn
xut nụng nghip, chu nh hng rt ln bi cỏc iu kin t nhiờn nh võy. Hin tng BKH-
MNBD s l mt thỏch thc ln i vi Tnh. ng phú vi hin tng thiờn nhiờn ny l cụng
EEPSEA.
IPCC (2001). Climate Change 2001: the Scientific Basis. Cambridge University Press,
Cambridge, UK.
Ivey, J., Smithers, J., de Loe¨, R. C. & Kreutzwiser, R. D. (2004) Community capacity for
adaptation to climate-induced water shortages: linking institutional complexity and local actors,
Environmental Management, 33(1), pp. 36–47.
Swanson, D., J. Hiley and H. D. Venema (2007). Indicators of Adaptive Capacity to Climate
Change for Agriculture in the Prairie Region of Canada: An Analysis based on Statistics Canada’s
Census of Agriculture. IISD Draft Working Paper.
Tran Huu Tuan, Bui Dung The, Phong Tran, and Bui Duc Tinh. 2009. Adaptation Behaviors of
Local Government Units and Local Organization to Extreme Disasters in Quang Nam Province:
Towards a Set of Possible Adaptation Measures to Bridge the gaps. Research Report. EEPSEA.
Yueqin Shen, Zhen Zhu, Lanying Li, Min Huang, Youjian Wang, and Xian Pao, Zheng. 2009.
Analysis on Vulnerability and Adaptation Behavior to Typhoon “Saomai” in Zhejiang Province,
China. Research Report. EEPSEA.
4
Wall, E. and K. Marzall (2006). Adaptive Capacity for Climate Change in Canadian Rural
Communities. Local Environment Vol. 11, No. 4, 373–397, August 2006.
Cách tiếp cận nghiên cứu
Có ba cách tiếp cận đánh giá khả năng thích nghi cấp độ hộ gia đình và cấp độ cộng đồng:
1. Cách tiếp cận dựa trên tình huống (Scenario-Based Approach) xem xét sự thích nghi trong
tương lai như là một yếu tố đầu ra. Cách tiếp cận này nhằm mục đích đánh giá những tác
động có thể xãy ra của BĐKH theo một tình huống/kịch bản cho trước và trên cơ sở đó
đánh giá nhu cầu cho sự thích nghi để giảm thiểu những tổn thương do rủi ro khí hậu
(Cater et al. 2007).
2. Cách tiếp cận chuẩn tắc (Normative policy approach) khám phá loại thích nghi nào là có
lợi về phương diện xã hội và phương diện môi trường. Cách tiếp cận này sử dụng các
phương pháp phân tích như là phân tích tổn thương (vulnerability analysis), phân tích tình
huống (scenarios), phân tích chi phí lợi ích (cost-benefit analysis), phân tích đa tiêu chuẩn
(multi-criteria analysis) và đánh giá rủi ro kỹ thuật (technology risk assessments) (Lim et
planning) và phân tích định tính cho thực hiện thích nghi (adaptation implementation) sẽ tạo ra
các chiến lược thích nghi thích hợp (Huq và Reid 2007; Rahman và Baas 2007; Hossain và
5
Parvez 2007; và Hettige 2007).
Khung nghiên cứu đối phó với biến đổi khí hậu và khả năng thích nghi (Climate change
response framework and adaptive capacity):
Uỷ ban BĐKH thế giới (IPCC) đã phân loại cả hai loại chiến lược giảm nhẹ (mitigation) và
thích nghi (adaptation) như là các chiến lược đối phó với BĐKH. Trong khi chiến lược giảm nhẹ
nói đến ảnh hưởng của con người lên BĐKH, chiến lược thích nghi lại liên quan đến việc điều
chỉnh những tác động hay tổn thương của hệ thống lên BĐKH và những hậu quả của nó. Phân
tích thích nghi cần chỉ định các điều kiện và các chiến lược thích nghi xãy ra (thích nghi với cái
gì?). Phân tích thích nghi cũng cần chỉ định hệ thống các thích nghi (ai và cái gì thích nghi?).
Điều này có thể là con người, các hoạt động kinh tế và xã hội, hệ thống sinh thái và tự nhiên, tiến
trình hay cấu trúc của hệ thống. Nó cũng cần xác định quá trình thích nghi diễn ra như thế nào.
Thích nghi được xem là quá trình thích nghi và kết quả hay điều kiện thích nghi. Phát triển một
chiến lược thích nghi liên quan đến quá trình đánh giá các phương án lựa chọn thích nghi tiềm
năng (sự thích nghi tốt như thế nào?). Việc đánh giá thích nghi dựa trên các tiêu chuẩn như chi
phí, lợi ích, công bằng, hiệu quả, sự khẩn cấp, và khả năng thực hiện.
Smit và ctv (2001) đã nhận dạng 6 yếu tố phản ánh khả năng thích nghi với BĐKH: nguồn
lực kinh tế (economic resources), kỹ thuật (technology), thông tin kỹ năng (information & skills),
cơ sở hạ tầng (infrastructure), định chế (institutions), và công bằng (equity). Bảng 1 trình bày tóm
tắt nội dung các yếu tố này.
Bảng 1: Các định thức/yếu tố về khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu
T Yếu tố Nội dung
1 Nguồn lực
kinh tế
Nguồn lực kinh tế lớn hơn sẽ làm tăng khả năng thích nghi. Thiếu
hụt nguồn lực tài chính làm giới hạn lựa chọn thích nghi.
2 Kỹ thuật Thiếu kỹ thuật làm hạn chế lựa chọn thích nghi.
3 Thông tin và
Nội dung nghiên cứu
Đối với mục tiêu 1: Đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng mực nước biển dâng (triều cường,
xâm nhập mặn) tại các vùng ven biển tỉnh Trà Vinh.
1. Thu thập dữ liệu về khí tượng-thuỷ văn từ các trạm quan sát trong khu vực nghiên cứu về
nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, gió, MNBD, xâm nhập mặn, …v.v, để tiến hành phân tích xu
hướng thay đổi (cả mức độ và tần suất) của hiện tượng BĐKH nói chung và MNBD (triều
cường, xâm nhập mặn) nói riêng tại địa bàn nghiên cứu.
2. Điều tra dữ liệu về thiệt hại liên quan đến các loại thiên tai do MNBD (triều cường, xâm
nhập mặn) gây ra.
3. Xây dựng các mô hình dự báo thiệt hai ứng với các kịch bản thiên tai dự kiến xảy ra.
Đối với mục tiêu 2: Đo lường và phân tích mức độ tổn thương do triều cường và xâm nhập mặn
gây ra.
4. Xây dựng chỉ số đánh giá mức độ tổn thường SVI do MNBD (triều cường, xâm nhập
mặn).
- Thu thập số liệu điều tra hộ gia đình.
- Đo lường và đánh giá mức độ tổn thương xã hội SVI.
Đối với mục tiêu 3: Đo lường và phân tích khả năng thích nghi hiện tại và nhu cầu tăng
cường khả năng thích nghi cấp độ hộ gia đình và cấp độ cộng đồng.
- Tổ chức các cuộc họp tư vấn tại địa bàn nghiên cứu với các cá nhân chủ chốt ở cơ sở để
phối hợp triển khai đề tài nghiên cứu.
- Thực hiện các cuộc thảo luận nhóm FGD/PRA và phỏng vấn KII.
- Tiến hành điều tra chính thức hộ gia đình và cộng đồng (ấp) tại các cộng đồng được chọn
nghiên cứu. Phân tích mối liên hệ giữa các nhóm bị tổn thương, các yếu tố thể chế và xã
hội (hệ thống xã hội, thể chế), nguồn lực và các hoạt động kinh tế, và các loại đe doạ
(cũng như cơ hội) từ tác động của MNBD (triều cường, xâm nhập mặn).
- Phân tích khả năng thích nghi hiện tại.
- Đánh giá nhu cầu của hộ gia đình và cộng đồng đối với việc tăng cường khả năng thích
nghi lâu dài.
Đối với mục tiêu 4: Xây dựng cơ chế đối phó và các lựa chọn chính sách nhằm nâng cao khả
năng thích nghi cấp độ hộ gia đình và cấp độ cộng đồng.
một vài đối tượng điều tra bổ sung bao gồm: đại diện chính quyền cấp xã, các tổ chức đoàn thể tại
địa phương như hội chữ thập đỏ, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, và hội nông dân.
Phương pháp điều tra số liệu
Đối với hộ gia đình, căn cứ vào các nội dung nghiên cứu (xem Mục 13) một bảng hỏi
được soạn thảo bao gồm đầy đủ các thông tin về thực trạng chung, đánh giá mức độ tổn thương,
và khả năng thích nghi của đối tượng hộ gia đình. Quá trình điều tra hộ gia đình được tiến hành tại
ba huyện Cầu Ngang, Trà Cú, và Duyên Hải. Tại mỗi huyện, một số xã được chọn ngẫu nhiên để
điều tra. Cụ thể là, tại huyện Cầu Ngang trong tổng số 15 xã (bao gồm 2 thị trấn) có 10 xã được
chọn điều tra. Tại huyện Duyên Hải trong tổng số 10 xã (bao gồm 1 thị trấn có 7 xã được chọn
ngẫu nhiên để điều tra. Tại huyện Trà Cú trong tổng số 17 xã (bao gồm 1 thị trấn có 13 xã được
chọn ngẫu nhiên để điều tra. Tổng cộng sẽ có 30 đơn vị (xã) được chọn để điều tra. Tại mỗi đơn
vị điều tra tiến hành điều tra 60 hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm.
Kết quả là một mẫu điều tra bao gồm 1.800 hộ gia đình sẽ được chọn phỏng vấn.
Đối với cộng đồng (đơn vị ấp), cũng căn cứ vào nội dung nghiên cứu ở Mục 13 ở trên, một
bảng hỏi được soạn thảo để tiến hành thu thập thông tin. Tại mỗi huyện, tất cả xã được chọn để
điều tra. Tại mỗi xã, tiến hành chọn ra một ấp để điều tra. Ngoài ra, đối với đối tượng nghiên cứu
8
này, các cuộc điều tra PRA được tiến hành bổ sung tiếp theo nhằm bổ sung thêm thông tin điều tra
và kiểm chứng thông tin từ các cuộc điều tra từ hộ gia đình. Như vậy, đối với điều tra cấp độ cộng
đồng (ấp) sẽ có 30 cuộc điều tra thảo luận nhóm và 30 cuộc điều tra PRA.
Đối với đối tượng điều tra là các tổ chức đoàn thể tại xã, bảng hỏi bán cấu trúc KII sẽ
được sử dụng. Đối tương điều tra là đại diện chính quyền cấp xã, hội chữ thập đỏ, hội cựu chiến
binh, hội phụ nữ, và hội nông dân. Sẽ có 5 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc KII tại mỗi xã. Kết quả là
150 cuộc phỏng vấn (30 x 5) tại 30 xã của ba Huyện.
Ngoài ra, các thông tin thứ cấp có liên quan cũng được tiến hành thu thập.
Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu quan trọng của phân tích số liệu trong nghiên cứu này là đo lượng mức độ tổn
thương, đánh giá và xây dựng các chỉ số tổn thương xã hội, khả năng thích nghi cấp độ hộ gia
đình, và cấp độ cộng đồng. Tất cả thông tin điều tra số liệu sẽ được lưu trữ bằng phần mềm Excel
và sau đó được sử dụng và phân tích bằng phần mền SPSS. Các kết quả phân tích dữ liệu được
-
-
-
Khả năng tự phục hồi - Tiếp cận tín dụng
- Tiếp cận với trợ giúp khác sau thiên tai
- Thu nhập hộ gia đình
-
-
-
9
- Các biện pháp thích nghi trong lúc thiên tai xãy ra
- Các biện pháp thích nghi sau thiên tai
-
-
Thành phần thứ nhất – Tổn thất tiềm năng tối đa, phản ánh mức độ bị ảnh hưởng của hộ
gia đình đối với triều cường và xâm nhập mặn. Giá trị sản xuất và giá trị tài sản đo lường mức độ
tổn thất tiềm năng hộ gia đình phải gánh chịu. Do đó, giá trị của các đại lượng này càng lớn thì
giá trị của SVI càng cao. Thành phần thứ hai – Khả năng chống đỡ của hộ gia đình, trái lại, phản
ánh phạm vi hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai. Các biến số ảnh hưởng đến khả năng chống
đỡ thiên tai bao gồm tỷ số phụ thuộc của hộ gia đình, tổn thất do triều cường và xâm nhập mặn, sự
chuẩn bị của hộ gia đình, sự tiếp cận thông tin, và các biện pháp đối phó làm giảm thiểu thiệt hại
do thiên tai gây ra. Hai yếu tố đầu chỉ ra tác động cùng chiều đối với sự tổn thương trong khi ba
yếu tố sau chỉ ra tác động nghịch chiều. Thành phần thứ ba – Khả năng tự phục hồi, phản ảnh khả
năng hộ gia đình đối phó lại những thiệt hại và tác động của triều cường và xâm nhập mặn. Vì
vậy, các yếu tố của thành phần có ảnh hưởng nghịch chiều với mức độ tổn thương. Lưu ý rằng các
yếu tố của thành phần này là dựa trên tiến trình, nghĩa là, chỉ tập trung vào đầu vào hơn là đầu ra
hay kết quả.
Để tính chỉ số SVI, thủ tục chuẩn hoá được tính toán. Đối với các biến có đóng góp thuận
chiều (dấu +) đến mức độ tổn thương thì Phương trình (1) được sử dụng. Ngược lại, ối với các
biến có đóng góp nghịch chiều (dấu -) đến mức độ tổn thương thì Phương trình (2) được sử dụng.
i
: giá trị tối thiểu của thành phần thứ i cho tất cả hộ gia đình
MaxX
i
: giá trị tối đa của thành phần thứ i cho tất cả hộ gia đình
Đối với mỗi thành phần SVI, các chỉ số tương ứng đầu tiên được tính trị trung bình để xác
định mức độ tổn thương của từng thành phần. Mỗi chỉ số được cho quyền số bằng nhau. Để có
được chỉ số SVI chung, các chỉ số SVI thành phần sẽ được tính trung bình. Mỗi thành phần được
cho quyền số là 1/3. Giá trị của chỉ số SVI nằm trong khoảng [0,1]. Giá trị SVI càng gần 1 thì
mức độ tổn thương càng cao. Sau đây là bảng phân loại mức độ tổn thương:
0.0 ≤ SVI ≤ 0.19 : Tổn thương rất thấp
0.2 ≤ SVI ≤ 0.39 : Tổn thương thấp
0.4 ≤ SVI ≤ 0.59 : Tổn thương trung bình
0.6 ≤ SVI ≤ 0.79 : Tổn thương cao
0.8 ≤ SVI ≤ 1.00 : tổn thương rất cao
Đối với chỉ số đánh giá khả năng thích nghi cấp độ hộ gia đình (HACI):
Công thức được trình bày như sau:
10
5
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
l
q
l
ll
p
k
k
p
k
kk
o
j
j
o
j
jj
n
i
i
n
i
ii
w
Iw
w
Nw
w
Pw
w
Ew
, P
k
, N
l
, và I
m
. Các trọng số này sẽ
được xác định cho mỗi chỉ số. Các trọng số này được xác định bởi cả các cư dân cộng đồng và
nhóm nghiên cứu dựa trên sự xếp hạng ưu tiên về tầm quan trọng của những yếu tố trong việc xây
dựng khả năng thích nghi của cộng đồng đối với tác động của MNBD (triều cương, xâm nhập
mặn) và mức độ thiệt hại của các loại thiệt hại này gấy ra. Chẳng hạn, đối với yếu tố S trong công
thức HACI, chúng ta có các biến số về sức khoẻ, giáo dục, kiến thức, và nhận thức. Giữa bốn biến
số này, các cư dân cộng đồng sẽ xếp hạng ưu tiên biến số nào ở mức độ quan trọng (hay bị ảnh
hưởng) nhiều và biến số nào ở mức độ quan trọng (hay bị ảnh hưởng) ít nhất. Khi đó, giá trị của
các trọng số sẽ được tính toán. Tiêu chuẩn xếp hạng sẽ được sử dụng theo thang đo Likert mức độ
5. Trong công thức HACI, chỉ số trung bình trọng số (Weighted Mean Index-WMI) sẽ được xác
định cho từng biến số S, E, P, N, và I. Tiếp theo, chỉ số trung bình trọng số tổng (Aggregated
Weighted Mean Index-AWMI) của được xác định. Cuối cùng chỉ số HACI được tính toán cho
phân tích khả năng thích nghi cấp độ hộ gia đình.
Đối với chỉ số khả năng thích nghi cấp độ cộng đồng (CACI):
Công thức tính CACI được trình bày như sau:
5
11111
n
HACII
n
HACIN
n
HACIP
n
Đề tài nghiên cứu này cũng sử dụng các công cụ GIS và GPS với phần mềm ArcInfo để
định vị vị trí của các hộ gia đình và các cồng động được điều tra. Phân tích không gian (spatial
analysis) sẽ được thể hiện trong bản đồ khả năng thích nghi thể hiện vị trí của hộ gia đình và các
tính chất về khả năng thích nghi của hộ gia đình và cộng đồng. Các chỉ số đo lường khả năng
thích nghi bao gồm:
1. Chỉ số chung HACI và CACI.
2. Khả năng thích nghi của hộ gia đình và cộng đồng cụ thể nào đó theo các chiều kích thích
11
nghi khác nhau của HACI và CACI.
3. Danh mục các yếu tố chủ yếu (key determinants) của khả năng thích nghi.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thích nghi
Về phương diện phân tích định lượng, đề tài sẽ sử dụng Mô hình xác xuất tuyến tính –
LPM để đo lường ảnh hưởng của các yếu tố/định thức đến năng lực/khả năng thích nghi cấp độ hộ
gia đình và cấp độ cộng đồng. Mô hình LPM có dạng như sau:
Y
i
= a
0
+ a
1
X
1i
+ a
2
X
2i
+ . . . + a
k
X
ki