- 1 -
RÈN ĐỌC DIỄN CẢM CHO HỌC SINH LỚP 5
I/ PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Tập đọc là phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình Tiếng
Việt ở tiểu học. Dạy tốt phân môn này không những rèn luyện cho học sinh kỹ
năng đọc mà còn phát triển cho các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều kiện để
các em học tốt các phân môn khác. Rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh như: đọc
đúng, đọc nhanh, đọc chính xác, rõ ràng, rành mạch, diễn cảm để học sinh có
những hiểu biết về kiến thức văn học, về ngôn ngữ và ngược lại khi hiểu được
những văn bản đọc sẽ giúp học sinh hiểu được đọc diễn cảm. Vì vậy giữa việc
đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là hai quá trình có liên quan gắn bó mật thiết
với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được văn hoá của dân tộc, tiếp thu
được nền văn minh của loài người thông qua sách vở. Qua việc đọc, học sinh biết
đánh giá cuộc sống xã hội, tư duy. Cũng qua hoạt động đọc, tình cảm, thẩm mỹ
của các em được nâng lên cao, tầm hiểu biết của các em nhìn ra thế giới xung
quanh và quá trình nhận thức cũng có chiều sâu hơn.
Tập đọc là phân môn mang tính chất tổng hợp vì ngoài nhiệm vụ dạy đọc cho
học sinh, nó còn có nhiệm vụ trau dồi kiến thức về Tiếng Việt cho học sinh( phát
âm, từ ngữ, câu văn, đoạn văn ), kiến thức bước đầu về văn học( văn xuôi, văn
vần, nhân vật ), kiến thức về đời sống, về giáo dục tình cảm, thể chất, thẩm mĩ.
Sự phát triển nhiều mặt này tạo điều kiện để trẻ phát huy được mọi khả năng tiềm
tàng, từ đó tạo cơ hội để sau này trẻ giúp ích cho xã hội. Phân môn Tập đọc ở
Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng đặt ra một nhiệm vụ quan trọng: đọc
rành mạch, lưu loát bài văn( khoảng 120 tiếng/ phút), đọc có biểu cảm bài văn,
bài thơ ngắn, hiểu nội dung, ý nghĩa bài đọc. Thông qua các bài văn, bài thơ, học
sinh càng thêm yêu các miền quê của đất nước, đồng cảm với mọi tầng lớp nhân
dân, mọi con người trên đất nước Việt Nam cũng như trên thế giới, biết quý
sinh chưa cao, nhất là việc đọc diễn cảm. Qua việc thử nghiệm ở trường Tiểu
học, tôi thấy kết quả như sau:
- Biết cách đọc thầm để tự hiểu nội dung bài đọc:18% HS đạt yêu cầu.
- Biết đọc phần chú giải để hiểu đúng một số chi tiết trong bài: 8%.
- Biết cách tìm đại ý bài: 10%.
- Biết cách xác định đề tài của bài: 6%.
- Biết cách suy nghĩ tìm ra điều mà tác giả muốn nói với người đọc: 3%.
- Biết biểu hiện điều mình hiểu qua giọng đọc: 6%.
Kết quả trên đây cho thấy cách dạy Tập đọc và tài liệu dạy Tập đọc lớp 5 chưa
làm tốt việc tạo ra năng lực tự đọc ở học sinh vì chưa chú trọng việc dạy học sinh
cách đọc văn bản và ứng xử với những điều đọc được.
Ngày nay, đất nước ta đang từng ngày, từng giờ đổi mới, xã hội ngày càng
phát triển, vì vậy mỗi con người đòi hỏi tri thức ngày càng cao, trong đó phát
triển ngôn ngữ nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy trở nên vô cùng thiết
yếu. Mỗi thành công không phải tự nhiên mà có, nó phải trải qua một quá trình
rèn luyện kiên trì, bền bỉ. Hầu hết mỗi giáo viên đều không ngừng tìm tòi đổi
mới phương pháp để nâng cao hiệu quả giờ dạy Tập đọc. Xuất phát từ những vấn
đề trong thực tiễn và nhu cầu của bản thân trau dồi kiến thức chuyên môn, nâng
cao năng lực của mình, mong phần nào góp phần nâng cao chất lượng đọc cho
học sinh, tôi mạnh dạn đề xuất một phần kinh nghiệm nhỏ về vấn đề“ Rèn đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 5”.
II/ PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀI. ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG.
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 5, tôi thấy việc dạy của giáo viên và việc học của
học sinh có một số vấn đề như sau:
Về phía giáo viên: Đối với đa số giáo viên, Tập đọc không phải là phân môn
khó dạy. Hầu hết trong số họ đều có nhiều cố gắng trong việc tìm tòi phương
- Lp 5B u nm hc 2009- 2010
S
s
Hc sinh c nh, chm
Hc sinh c to, lu loỏt
Hc sinh c din cm20 9 HS = 45 % 7 HS =35 % 4 HS = 20%
- Lp 5C u nm hc 2009 - 2010:
Sĩ số
Học sinh đọc nhỏ, chậm
Học sinh đọc to, lu loát
Học sinh đọc diễn cảm
25
10 HS = 40% 9 HS = 36% 6 HS = 24 %
II. PHNG PHP NGHIấN CU:
Trc hin trng trờn, tụi ó suy ngh: Phi lm th no nõng cao cht
lng c cho hc sinh tt hn na, nht l c din cm. thc hin c
thức để có khả năng hiểu đọc những gì đã được đọc. Tập đọc là cách học văn bản
từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm. Dạy Tập đọc chính là việc giáo
viên hướng dẫn hoàn thành 4 phẩm chất trên.
1.2. Ý nghĩa của việc đọc
Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Nó trở thành một đòi
hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Trước tiên, trẻ phải học đọc, sau
đó phải đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và
học tập, nó cũng là công cụ để học các môn khác, nó tạo ra hứng thú và động cơ
trong học tập. Đồng thời nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh
thần học. Đọc là khả năng không thể thiếu được của con người. Trong thời đại
văn minh, biết đọc sẽ giúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái
thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết tư duy.
Như vậy, việc dạy đọc và đọc có một ý nghĩa vô cùng to lớn vì nó bao gồm
nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
1.3. Mục tiêu của phân môn Tập đọc ở sách Tiếng Việt lớp 5.
Phân môn Tập đọc lớp 5 tiếp tục củng cố và nâng cao kĩ năng đọc một cách
đầy đủ, toàn diện cho học sinh nhằm hoàn thiện yêu cầu cần đạt ghi trong
Chương trình Tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành: Đọc rành mạch, lưu
loát bài văn( khoảng 120 tiếng/ phút); đọc có biểu cảm bài văn, bài thơ ngắn;
hiểu nội dung, ý nghĩa của bài đọc. Cụ thể:
- Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở các lớp
dưới; tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt để chọn thông tin nhanh; khả
năng đọc diễn cảm.
- Phát triển kĩ năng đọc - hiểu lên mức cao hơn: nắm và vận dụng được một số
khái niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách, để hiểu ý nghĩa của bài và
phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ.
- Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người để góp phần hình thành
nhân cách của con người mới.
1.4. Nội dung, cấu trúc phân môn Tập đọc lớp 5.
Phân môn Tập đọc ở lớp 5 gồm 66 tiết/ năm, mỗi tuần có hai tiết. 40 bài vă
qua giọng đọc). Phần tìm hiểu bài gồm những câu hỏi, bài tập giúp học sinh hiểu
giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài văn, bài thơ. Ở nhiều bài có thêm
yêu cầu học thuộc lòng từng đoạn, cả bài.
1.5. Phương pháp dạy đọc diễn cảm cho học sinh lớp 5.
Trong thực tế mỗi bài tập đọc gồm có hai phần lớn: tìm hiểu nội dung và luyện
đọc. Hai phần này có thể cùng tiến hành một lúc đan xen vào nhau hoặc cũng có
thể dạy tách hai phần tuỳ theo từng bài mà giáo viên lựa chọn. Dù dạy theo cách
nào thì hai phần này cũng luôn có mối quan hệ tương hỗ khăng khít với nhau.
Phần tìm hiểu bài giúp cho học sinh hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài, từ đó
các em đọc diễn cảm tốt hơn. Ngược lại, học sinh đọc hay, đọc diễn cảm để thể
hiện tốt nội dung của bài, thể hiện những điều hiểu biết xung quanh bài đọc.
Như vậy, việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm trong dạy Tập đọc rất quan trọng góp
phần giúp học sinh biết cách xác định ngữ điệu từng loại văn bản, làm giầu vốn
kiến thức ngôn ngữ và kiến thức văn học cho học sinh, từ đó góp phần hình thành
ở các em ý thức được cách đọc nhằm diễn tả nội dung một cách tốt nhất.
Để bài dạy đạt kết quả cao, cần quan tâm đến cách tổ chức và lôgíc các nội
dung bài trong giờ học không bị ngắt quãng, gián đoạn. Giáo viên phải lấy học
sinh làm trung tâm. Vai trò của giáo viên trong mỗi tiết học chỉ là người tổ chức,
dẫn dắt học sinh tự tìm ra tri thức. Ngoài ra, để phần tìm hiểu bài tiến hành được
tốt thì cần phải có yếu tố như: cơ sở vật chất đầy đủ, tranh ảnh minh hoạ cho bài
tập phải đẹp, phong phú và cuối cùng là trình độ giáo viên phải đáp ứng được
yêu cầu của môn học. Nếu phối hợp được các yếu tố nói trên sẽ giúp học sinh
- 6 -
hiểu bài nhanh và sâu, hiểu một cách có hệ thống và làm tăng hiệu quả giờ học.
Các em hứng thú học, thích học Tiếng Việt, biết yêu cuộc sống qua từng bài học.
2. NHỮNG CÔNG VIỆC THỰC TẾ ĐÃ LÀM.
Từ những hiểu biết của mình về phân môn Tập đọc nói chung và rèn kĩ năng
đọc cho học sinh lớp 5 nói riêng, tôi đã suy nghĩ tự đặt ra cho mình phải nhận
thức được tầm quan trọng của phân môn. Đặc biệt quan tâm nhiều đến việc rèn
qua quá trình luyện đọc theo cặp đôi và theo nhóm bàn để các em cùng tiến bộ.
Công việc tiếp theo, tôi giới thiệu với học sinh về cấu trúc chương trình phân
môn để các em nắm được các chủ điểm chính trong từng học kỳ và trong cả năm
học. Đặc biệt tôi đã nêu tầm quan trọng, yêu cầu kỹ năng cơ bản về việc rèn kĩ
năng đọc diễn cảm. Hướng dẫn học sinh lưu lại những câu, đoạn văn, đoạn thơ,
bài văn, bài thơ hay trong sổ tay của mình, giao trách nhiệm cho một số em đọc
khá, đọc tốt thường xuyên kèm cặp giúp đỡ những em đọc yếu ở mọi bài học,
mọi môn học chứ không chỉ dừng lại ở phần đọc theo cặp đôi hay đọc theo
nhóm, đọc phân vai
Sau khi đã tiến hành như trên, tôi đã bước vào giảng dạy như sau:
a.Chuẩn bị:
- 7 -
- Đối với giáo viên: Phải nghiên cứu tài liệu, nắm nội dung bài giảng, đọc tài
liệu tham khảo để soạn bài được chu đáo. Ở mỗi bài tập đọc, giáo viên phải đọc
kĩ bài, sau đó suy nghĩ xác định yêu cầu của bài, phân tích nội dung và hình thức
bài đọc để tìm ra cái hay, cái đẹp của tư tưởng tình cảm, của nghệ thuật ngôn từ
để tìm ra cách đọc diễn cảm.
- Đối với học sinh: Phải có sự chuẩn bị bài chu đáo, hoàn thành tốt những công
việc cô giáo giao trong phần dặn dò của tiết tập đọc trước như soạn bài, sưu tầm
tranh, ảnh có liên quan đến bài đọc
b. Tiến hành:
Khi đã chuẩn bị chu đáo về nội dung, phương pháp của tiết dạy, tôi đã tiến
hành rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
Phương pháp rèn đọc cho học sinh lớp 5
Trong kinh nghiệm này tôi xin được trình bày các biện pháp để rèn đọc đúng,
đọc hay (đọc diễn cảm) một văn bản cho học sinh lớp 5.
3. NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN:
nhưng ngắt hơi trong thời gian bao lâu thì cũng là điều cần phải hướng dẫn các
em. Thông thường, tôi hướng dẫn các em ngắt hơi sau cụm từ bằng thời gian
- 8 -
ngắt nghỉ khi gặp dấu phẩy hoặc dấu chấm phẩy và đương nhiên thời gian đó
phải ít hơn thời gian nghỉ khi đọc gặp dấu chấm. Tránh tình trạng học sinh ngắt
nghỉ quá lâu làm cho người nghe cảm thấy rời rạc.
Số học sinh mắc lỗi đọc ê a, ngắc ngứ hoặc đọc liến thoắng không nhiều nên
chỉ sau 3 tuần kiên trì rèn đọc cho các em( gọi cho các em đọc nhiều hơn, sửa
cho các em kỹ hơn) thì loại lỗi này không còn trong lớp tôi nữa, các em đọc đã
khá trôi chảy, lưu loát.
3.2. Khắc phục tình trạng đọc sai những tiếng, từ có phụ âm đầu hay nhầm
lẫn l - n; s – x ; ch – tr; d – r- gi…; âm hay nhầm lẫn: thanh ngã/ thanh sắc.
Những tiếng, những từ này thường là những từ khó đối với học sinh. Cho
nên, trong bước rèn đọc đúng cho học sinh, tôi cho các em đọc thầm toàn bài để
tự phát hiện ra những tiếng, từ mà học sinh cảm thấy khó có trong bài. Trong
thực tế, nhiều khi giáo viên quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn mà ép học sinh
phải chỉ ra những từ khó giống như trong sách nêu ra là không nên bởi những từ
đó với học sinh có thể chưa phải là khó. Song từ, tiếng khó đọc mà tự các em
phát hiện ra có thể là rất nhiều. Do vậy, giáo viên cần kết hợp với việc quan sát
theo dõi của mình trong tất cả các giờ học để thấy học sinh lớp mình hay nhầm
lẫn ở những cặp phụ âm nào, vần nào để tập trung rèn cho các em những tiếng
khó, từ khó ở các loại đó.
Ví dụ: Ở lớp tôi ngay từ khi mới nhận lớp, qua theo dõi trong các tiết học và
trong khi giao tiếp với học sinh tôi thấy các em còn hay nhầm lẫn khi phát âm:
Các lỗi l/ n x/ s ch/ tr d/ r/ gi Thanh ngã/ Thanh sắc
Tỷ lệ mắc lỗi
73% 15% 21% 45% 70%
phát âm thật cụ thể, chi tiết.
+ Tôi hướng dẫn các em cách phát âm phụ âm l nh sau:
Phụ âm l là phụ âm tắc, khi phát âm phụ âm này, đầu lưỡi cong lên tiếp giáp
với vòm lợi trên, luồng hơi bị cản lại nên phải len qua hai cạnh lưỡi để thoát ra
ngoài, do vậy luồng hơi bật ra mạnh.
Giáo viên làm mẫu hai lần, sau đó cho học sinh khá phát âm, gọi học sinh hay
nhầm lẫn về phụ âm này tập phát âm. Lưu ý nên cho các em phát âm cá nhân để
dễ phát hiện những em phát âm sai để sửa; Tiếp theo cho học sinh đọc tiếng khó
có chứa phụ âm n.
Phụ âm n là phụ âm xát, khi phát âm phụ âm này mặt lưỡi tiếp giáp với vòm
lợi trên, luồng hơi không bị lưỡi cản lại nên thoát ra nhẹ nhàng hơn. Cách tiến
hành cũng như hướng dẫn phát âm phụ âm l.
Để học sinh có được thói quen phát âm đúng, tôi yêu cầu học sinh phát âm và
đọc theo kiểu đối nhau: đó là l/ n ; loãng/ mảng nắng; lần lượt/ mảng nắ
ng, .
Đưa ra cách rèn như vậy là tôi muốn cho học sinh có phản ứng nhanh nhậy để
tìm ngay ra được cách đọc đúng những từ có chứa các cặp phụ âm hay nhầm lẫn.
Nếu chỉ rèn như vậy thì cũng chưa đủ mà việc luyện đọc từ khó cần phải được
đặt trong văn cảnh, trong môi trường ngôn ngữ thì học sinh đọc những từ đó mới
đúng hơn. Bởi nhiều khi đọc riêng từ học sinh, có thể đọc đúng nhưng khi đặt từ
đó vào trong câu văn, đoạn văn thì chưa chắc học sinh đã đọc đúng. Chính vì thế,
sau khi rèn phát âm luyện đọc từ khó có chứa âm khó, tôi lại phải yêu cầu học
sinh tìm những câu văn, câu thơ thậm chí đoạn văn, đoạn thơ có chứa từ khó đó
cho học sinh đọc vì mục đích của rèn đọc đúng là rèn phát âm đúng để đọc đúng
văn bản.
Một số đồng chí giáo viên có hỏi: Trong một giờ tập đọc nếu chỉ tập trung
hướng dẫn đọc những từ có chứa phụ âm l- n thì những tiếng khó khác rèn vào
lúc nào?
Tôi cho rằng: Một cặp phụ âm hay nhầm lẫn l/ n và nó đã trở thành cố tật
không chỉ ở học sinh mà cả nhân dân đĩa phương. Nếu trong một tiết tập đọc có
Câu cảm, cầu cầu khiến: ở cuối câu có dấu chấm than khi đọc cần phải lên
giọng ở cuối câu.
Ví dụ: Trong bài" Tác phẩm của Si- le và tên phát- xít”(TV5, tập 1, tr.58) tôi
hướng dẫn học sinh cách đọc các loại câu này như sau:
- Chép đoạn văn đó lên bảng phụ.
- Hỏi học sinh trong đoạn văn đó có những câu văn nào là câu hỏi, câu kể, câu
cảm, câu cầu khiến và cách đọc của từng loại câu này, giáo viên dùng phấn mầu
ghi ký hiệu lên giọng , xuống giọng ở cuối mỗi loại câu.
Bực mình vì ông cụ biết tiếng Đức nhưng không thèm chào bằng tiếng Đức,
hắn liền hỏi:
(câu kể)
- Lão thích nhà văn Đức hơn lời chào của người Đức chăng?
( câu hỏi).
- Sao ngài lại nói thế? Si- le là nhà văn quốc tế chứ!
( câu cảm)- Ông già
điềm đạm trả lời.
( câu kể )
Nhận thấy vẻ ngạc nhiên của tên sĩ quan, ông già nói tiếp:
( câu kể )
- Ngài thử xem Si- le đã dành những tác phẩm của mình cho ai nào?
( câu hỏi)
Nhà văn đã viết Vin- hem Ten cho người Thuỵ Sĩ, Nàng dâu ở Mét- xi- na cho
người I-ta- li- a, Cô gái Oóc- lê- ăng cho người Pháp,
Chắt trong / vị ngọt mùi hương
Lặng thầm thay những / con đường ong bay.
Trải qua mưa nắng / vơi đầy
Men trời đất đủ làm say / đất trời.
Bầy ong / giữ hộ cho người
Những mùa hoa / đã tàn phai / tháng ngày
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc nhấn giọng và ngắt nhịp như sau:
Chắt trong vị ngọt / mùi hương
Lặng thầm thay / những con đường ong bay.
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất / đủ làm say đất trời.
Bỗy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa / đã tàn phai tháng ngày.
Trong bài "Cao bằng", cần hướng dẫn học sinh đọc chú ý ngắt giọng, nhấn
giọng tự nhiên giữa các dòng thơ.
Cao Bằng rõ thật cao!
Rồi dần / bằng bằng xuống
Đầu tiên là mận ngọt
Đón môi ta dịu dàng.
Rồi đến chị rất thương
Rồi đến em rất thảo
Ông lành / như hạt gạo
Bà hiền / như suối trong.
Do vậy, tôi muốn nói khi hướng dẫn học sinh ngắt nhịp thơ thì giáo viên cần
phải cho học sinh nhận biết bài thơ đó được viết ở thể thơ nào? Cách ngắt nhịp
chung của toàn bài ra sao? Song cũng cần phải phát hiện những câu, những đoạn
có cách ngắt nhịp khác biệt trong bài để hướng dẫn học sinh. Thực chất ngắt nhịp
thơ cũng được dựa trên cơ sở ngắt nhịp theo cụm từ. Do vậy, ngắt nhịp thơ không
đúng câu thơ sẽ trở nên tối nghĩa, mất hết ý vị còn đâu có thể cảm nhận được nội
biết lên, xuống giọng. Đọc diễn cảm đòi hỏi người đọc phải nắm chắc nội dung
từng đoạn từng bài, tâm tình và lời nói của từng nhân vật để diễn tả cho đúng tinh
thần của câu văn, bài văn, tức là đi sâu vào bản chất của câu văn, bài văn. Cho
nên, mục đích đọc diễn cảm là bộc lộ ra được cái bản chất của nội dung và trên
cơ sở đó muốn truyền đạt đúng những ý nghĩ và tình cảm của tác giả. Muốn đọc
diễn cảm tốt phải hiểu kỹ nội dung của bài tập đọc và phải truyền đạt tốt sự hiểu
biết của mình tới người nghe. Học sinh đọc diễn cảm chưa tốt là do nguyên nhân:
giáo viên chưa giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc và nguyên nhân
cũng không kém phần quan trọng là khả năng đọc mẫu của giáo viên còn hạn
chế.
Muốn đọc diễn cảm tốt, ta cần:
4.1. Giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc. Muốn vậy cần phải chú
ý
a, Bám sát yêu cầu của bài tập đọc
Yêu cầu của bài tập đọc phải được xác định từ khi soạn bài ở nhà.
VD: + Đọc trôi chảy, lưu loát bài thơ, đúng nhịp của thể thơ tự do. Biết đọc
diễn cảm bài thơ thể hiện niềm xúc động của tác giả khi nghe tiếng đàn trong
đêm trăng, ngắm sự kì vĩ của công trình thuỷ điện sông Đà, mơ tưởng về một
tương lai tốt đẹp khi công trình hoàn thành.
+ Hiểu ý nghĩa bài thơ: Ca ngợi vẻ kì vĩ của công trình, sức mạnh của những
người đang chinh phục dòng sông và sự gắn bó, hoà quyện giữa con người với
thiên nhiên.
+ Gd học sinh yêu thiên nhiên, trân trọng những người đã chinh phục được thiên
nhiên.
- Bám sát yêu cầu của bài tập đọc, trong 3 yêu cầu ấy phải được toát ra từ bản
thân bài tập đọc và giáo viên phải vận dụng vào thực tế lớp mình giảng dạy thì
việc bám sát yêu cầu của bài tập đọc mới thực sự hiệu quả.
b, Giảng từ và khai thác nghệ thuật.
- Giảng từ: trong bài tập đọc thường có nhiều từ. Vậy ta cần phải giảng những
từ nào?
Phương pháp trực quan là phương pháp rất tốt để học sinh có thể hiểu và nhớ
lâu nghĩa của từ nhưng phương pháp này chỉ dùng để giảng từ cụ thể. Khi gặp
những từ trừu tượng như sắc lệnh, tổng tuyển cử, hữu nghị, khiêm tốn thì rất khó
dùng phương pháp này. Do vậy, ngoài phương pháp này tôi còn sử dụng nhiều
phương pháp khác.
Phương pháp định nghĩa, giảng giải.
Ở lớp 5 nhận thức lý tính tổng quát của học sinh đã phát triển nên trong khi
giảng từ cho học sinh hiểu tôi vẫn thường dùng phương pháp định nghĩa hay
giảng giải xen lẫn các phương pháp khác.
Ví dụ: Khi giảng từ quyến rũ tôi dùng phương pháp giảng giải
- Quyến rũ có nghĩa là có một sức lôi cuốn mạnh mẽ làm cho quyến luyến
không muốn rời xa.
- Mãnh liệt, day dứt ý nói thôi thúc, day dứt, dai dẳng và mạnh mẽ.
Khi giảng về từ truyền thống tôi dùng phương pháp định nghĩa.
Truyền thống là những phẩm chất tốt đẹp hoặc những điều tốt đẹp được giữ
gìn, phát triển và truyền từ đời này sang đời khác.
Ví dụ: Dân tộc ta cóửtuyền thống yêu nước nồng nàn.
Phương pháp so sánh:
Khi giảng về từ lạnh tê tái, tôi nêu lên một loạt các khái niệm lạnh lẽo, lạnh
buốt, lạnh giá để học sinh thấy được lạnh tê tái ở mức độ cao hơn. Mặt khác, tôi
cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ lạnh tê tái là nóng hầm hập để học sinh càng
- 14 -
hiểu rõ hơn về ý nghĩa của từ này.
Khai thác nghệ thuật
Theo tôi bài tập đọc là một thể thống nhất giữa hai mặt nội dung và nghệ thuật,
do vậy, tôi nghĩ chúng ta phải thông qua việc khai thác nghệ thuật để làm toát lên
nội dung tư tưởng. Tôi thấy trong khi dạy tập đọc vốn kiến thức văn học mà học
sinh tích luỹ được chưa nhiều.
Có đ/c hỏi: “Khai thác nghệ thuật của một bài tập đọc là khai thác những gì?”
lên nội dung.
VD: Trong bài “ Hạt gạo làng ta” tác giả có viết:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi hôm nay.
- 15 -
Hỏi: Trong khổ thơ trên tác giả nêu lên hạt gạo quê thơm ngon là nhờ đâu?(
câu hỏi về nội dung) ( nhờ có vị phù sa, có hương sen thơm, có lời mẹ hát)
Hỏi: Trong khổ thơ đó từ nào được lặp lại nhiều lần? Lặp lại nhưvậy để nhằm
mục đích gì?( Từ có được lặp lại nhiều lần, để nhấn mạnh hương vị thơm ngon
của hạt gạo quê hương)
VD: Cho học sinh đọc khổ thơ thứ 3 của bài “Hạt gạo làng ta”
“Hạt gạo làng ta………mẹ em xuống cấy”
Hỏi: Hạt gạo làng ta còn có gì đáng nhớ?
( Có bão tháng 7, có mưa tháng 3khó khăn do thiên nhiên gây ra).
Có giọt mồ hôi của mẹ rơi trong những ngày nắng nóng công sức vất vả của
mẹ đây là câu hỏi về nội dung.
Tác giả dùng hình ảnh gì để diễn tả nỗi vất vả khó nhọc của người mẹ?đây
là câu hỏi về nghệ thuật.
( Đó là: Cua ngoi lên bờ – mẹ em xuống cấy). Sự đối lập giữa hoạt động
của con cua với hoạt động của mẹ được rõ thêm qua cặp từ trái nghĩa lên – xuống
để càng giúp ta thấy rõ nỗi vất vả gian truân của mẹ cùng các bác xã viên khi làm
ra hạt gạo.
VD: Cho học sinh đọc khổ thơ cuối, hỏi câu cuối “ Hạt vàng làng ta” ý nói gì?
Câu hỏi nặng về giảng ý để toát lên nội dung bài.
phát hiện ra những điểm nhấn, giáo viên gạch chân những từ cần nhấn và gọi học
sinh khác luyện đọc lại.
Nghệ thuật đọc diễn cảm thể hiện ở việc nhấn giọng, cao giọng hay hạ giọng
trong một bài, một đoạn, bài không phải đọc với giọng đều đều như nhau mà có
từ ngữ đọc nhấn giọng hơn. Việc nhấn gọng hay hạ giọng phải đúng, chính xác,
nhằm vào những từ mấu chốt, những từ có ý nổi bật, bộc lộ rõ nội dung câu văn,
câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ, bài văn, bài thơ.
Cái gốc để giúp cho học sinh có thể đọc diễn cảm tốt là phải giúp học sinh
cảm thụ tốt nội dung bài tập đọc. Cách thức giúp học sinh cảm thụ tốt nội dung
bài tập đọc chính là các bước tiến hành mà tôi đã nêu ra ở trên. Song, học sinh có
thể đọc diễn cảm tốt hơn nếu như học sinh được nghe cô giáo mình đọc hay, đọc
tốt. Cách đọc của cô chính là một thứ phương tiện trực quan có hiệu quả nhất góp
phần minh chứng cho những gì mà cô và trò cùng thống nhất ở trên. Để rèn cho
mình khả năng đọc diễn cảm tôi thường soạn bài thật kỹ (bài soạn của tôi dựa
trên những gợi ý của sách giáo viên song cũng phải căn cứ vào tình hình thực tế
của lớp mình về trình độ nhận thức cũng như khả năng đọc của học sinh để có
một bài soạn phù hợp nhất, cân đối nhất giữa hai phần rèn đọc và cảm thụ). Xem
lại toàn bộ nội dung bài soạn trước khi lên lớp để nắm chắc nội dung bài, thẩm
thấu toàn bộ nội dung của bài và nắm được suy nghĩ, tình cảm của tác giả được
gửi gắm trong bài văn và đặt mình vào hoàn cảnh của tác giả để nhằm truyền tới
người nghe hiểu biết của mình và tình cảm của tác giả. Với các bước tiến hành
rèn luyện như vậy cùng với sự kiên trì tập luyện mà mỗi lần tôi đọc mẫu đã thực
sự cuốn hút các em chú ý vào nội dung của bài.
Trước những việc làm nêu trên, ngoài ra trong giờ tập đọc, tôi thường xuyên
quan tâm đến những em rụt rè, nhút nhát, kịp thời khuyến khích động viên để các
em có hứng thú đọc tốt hơn. Đối với những em đọc nhỏ, chậm, ngoài việc hướng
dẫn chung đọc diễn cảm cho cả lớp, tôi đã có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ đầu
như: thường xuyên uốn nắn việc phát âm tiếng có vần khó, hướng dẫn đọc dứt
khoát từng từ, từng ngữ. Với những câu văn dài tôi cho học sinh này dùng bút chì
vạch sẵn những chỗ ngắt nhịp vào sách giáo khoa, giúp các em ngắt nhịp đúng
, ch
ậ
m
H
ọ
c sinh
đ
ọ
c to, l
ư
u lo
á
t
H
ọ
c sinh
đ
ọ
c di
ễ
n c
ả
m
Đầu năm
20 9 học sinh = 45% 7 học sinh = 35% 4 học sinh = 20%
Cuối kỳ I
S
ĩ
s
ố
H
ọ
c sinh
đ
ọ
c nh
ỏ
, ch
ậ
m
H
ọ
c sinh
đ
ọ
c to, l
ư
u lo
á
t
H
7. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Thực tế trong quá trình giảng dạy, để đạt được kết quả như trên về" Rèn đọc
diễn cảm cho học sinh lớp 5”, tôi tự rút ra một số kinh nghiệm sư phạm sau:
7.1. Muốn rèn cho học sinh đọc diễn cảm tốt, trước hết việc đọc mẫu của thầy
phải chuẩn mực, bởi thầy luôn là tấm gương sáng, mẫu mực trong cách đọc diễn
cảm để học sinh soi vào. Chính vì vậy, thầy phải có sự chuẩn bị chu đáo, mỗi từ
ngữ thầy nói, đọc phải chính xác và chuẩn mực.
Thầy cần phải nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi để nắm chắc nội dung cơ bản của
chương trình sách giáo khoa để giúp học sinh hiểu và cảm thụ bài đọc. Thực tế
cho thấy, sách dùng cho học sinh, cho giáo viên có nhiều ưu điểm nổi bật và đa
số giáo viên nắm được phương pháp giảng dạy, song đi vào từng bài cụ thể thì
vẫn còn lúng túng không ít. Do vậy, nắm vững sách, hiểu ý đồ của người biên
sọan là quan trọng, song chưa đủ, còn đỏi hỏi đến vai trò chủ động sáng tạo và tài
ứng xử linh hoạt trong giảng dạy.
Phải nắm chắc đối tượng học sinh để có biện pháp phù hợp với từng đối tượng,
nhằm phát huy tính tích cực trong học tập, nâng cao ý thức tự giác để từ đó các
em sẽ “Học vui, vui học” và hiệu quả học tập sẽ cao hơn.
Người giáo viên phải có tâm huyết trong nghề, nhiệt tình trong soạn, giảng,
quan tâm đến mọi đối tượng học sinh nhất là học sinh học yếu, đọc sai, đọc
ngọng để kịp thời uốn nắn, sửa chữa cho học sinh thật tận tình, chu đáo để các
em khắc phục.
Luôn động viên, khích lệ những em có kĩ năng đọc diễn cảm tốt để các em
ngày càng đọc tốt hơn. Động viên các em chép những câu văn, câu thơ, bài văn,
bài thơ hay vào sổ tay của mình; khuyến khích các em nói, đọc trước đám đô
ng.
Tổ chức cho các em thi kể chuyện, ngâm thơ, đọc diễn cảm trong lớp vào những
giờ ngoại khoá.
7.2. Bên cạnh đó, muốn rèn đọc cho học sinh có hiệu quả thì người giáo viên
phải nắm chắc phương pháp dạy đọc bao gồm:
học sinh khá giỏi, có câu hỏi dễ dành cho học sinh yếu để mọi học sinh đều có cơ
hội thể hiện khả năng của mình mà không cảm thấy nhàm chán hoặc quá sức.
d, Cần sử dụng có hiệu quả nhiều hình thức đọc khác nhau: đọc to, đọc thầm,
đọc mấp máy môi, đọc nối tiếp, đọc phân vai… để thay đổi không khí của lớp
học, thu hút học sinh vào bài.
e, Để tạo không khí vui tươi, hồn nhiên, nhẹ nhàng, sinh động trong các giờ
học tôi thờng tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “ Thả thơ” đ]ợc dùng khi dạy
các bài tập đọc là bài thơ; trò chơi “ Ai tinh ai nhanh” được dùng khi dạy các bài
tập đọc là văn xuôi.
Những trò chơi này tuy chỉ tiến hành trong khoảng thời gian từ 3- 4 phút
nhưng rất hấp dẫn đối với học sinh và mang lại kết quả tốt cho bài dạy.
Rèn luyện kĩ năng cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng
quả là một công việc khó khăn. Giáo viên phải có kiến thức vững, phải đọc mẫu
hay và phải kiên trì, bền bỉ, tâm huyết với nghề thì mới thành công được.
8. Phạm vi áp dụng đề tài.
Trên đây là một số suy nghĩ về việc rèn đọc diễn cảm của tôi cho học sinh lớp
5 do tôi chủ nhiệm, với phương pháp dạy học này sẽ giúp các em lớp 5 học tốt
- 19 -
phân môn Tập đọc. Không những vậy, phương pháp này có thể áp dụng vào rèn
đọc cho học sinh lớp 4.
9. Những vấn đề bỏ ngỏ và những vấn đề cần kiến nghị:
a. Những vấn đề bỏ ngỏ.
Trong thực tế giảng dạy phân môn Tập đọc, đặc biệt là việc rèn đọc cho học
sinh lớp 5, tôi thấy còn có những mặt hạn chế như:
- Về trò: Một số em đọc còn ngọng phát âm chưa chuẩn l/n, tr/ch, thanh ngã/
thanh sắc.
- Về thầy: Còn hạn chế về nghiệp vụ sư phạm, đặc biệt là việc đọc mẫu, do
vậy bản thân tôi thấy cần phải học hỏi, rèn luyện nhiều.
b. Những vấn đề cần kiến nghị.
trì luyện cho mình kỹ năng đọc tốt cùng với tâm huyết của mình dành cho nghề
tôi nghĩ chúng ta sẽ có những giờ dạy thành công.
Thông qua thực tế trong giảng dạy, tôi đi đến kết luận: Muốn rèn đọc diễn
cảm cho học sinh tốt thì điều kiện quan trọng nhất là người thầy. Bởi thầy là
người hướng dẫn các em cách đọc đúng đọc hay. Vì vậy thầy phải hướng dẫn
- 20 -
thật cụ thể chu đáo từng chữ, từng ngữ với từng đối tượng học sinh. Đặc biệt là
đọc mẫu bởi thầy có vai trò quan trọng trong việc đọc diễn cảm của trò. Muốn
đạt được điều đó đòi hỏi thầy phải là người có tâm thực sự quan tâm đến trò nhiệt
tình trong phương pháp soạn giảng, trau dồi nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm để
nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học, đặc biệt là phân môn Tập đọc.
Trên đây là một vài kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc rèn đọc diễn cảm cho
học sinh lớp 5 trong giờ Tập đọc. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các vị độc
giả. TÀI LIỆU THAM KHẢO.
TT Tài liệu Ghi chú
1 Nội dung và chương trình tiếng việt 5.
2 Sách giáo khoa tiếng việt 5.
3 Tài liệu phổ biến SKKN.
4 Thế giới quanh ta
5
B
ồ
i d
ư
ỡ
ề
1
2 Giải quyết vấn đề 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Những công việc thực tế đã làm. 3
- 21 - 5 Phương pháp tiến hành 6
6 Những biện pháp giải pháp đã thực hiện 7
7 Giải pháp rèn đọc diễn cảm 12
8 Kết quả đạt được. 16
9 So sánh đối chứng 16
10
B
à
i h
- 22 -