Tiểu luận môn đạo đức kinh doanh PHÂN TÍCH TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ Ý NGHĨA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY TNHH LIXIL INAX VIỆT NAM - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ Ý NGHĨA TRÁCH
NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY TNHH LIXIL INAX VIỆT NAM
GVHD: THS. LÊ THANH TRÚC
Nhóm thực hiện:
1. Trần Chí Bình
2. Hồ Hải Đăng
3. Hoàng Đình Nguyên Thảo
4. Nguyễn Văn Huy
5. Hồ Đình Thắng
6. Trương Hữu Nghĩa Khánh
7. Nguyễn Lý Lan Anh
8. Nguyễn Văn Tuấn
9. Đỗ Thị Thái Hằng
10. Nguyễn Thành Chung
11. Trịnh Văn Thuỷ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội (TNXH) 4
1.2 Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội 5
1.2.1 Khía cạnh kinh tế 6
1.2.2 Khía cạnh pháp lý 7
1.2.3 Khía cạnh đạo đức 8
1.2.4 Khía cạnh nhân văn (lòng bác ái) 8
1.3 Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội 10
1.3.1 Phân biệt giữa “đạo đức kinh doanh” và “trách nhiệm xã hội” 10
1.3.2 Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau 11
1.4. Phát triển bền vững - mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp 12

năm, khi H.R.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”
(Social Responsibilities of the Businessmen) (1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người
quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm
bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang được hiểu theo nhiều
cách khác nhau.
• Một số người xác định “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức
phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến” (Prakash, Sethi, 1975: 58
– 64).
• Một số người khác hiểu “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã
hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất
định” (Archie. B Carroll, 1979), v.v
Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
• Quan điểm thứ nhất cho rằng: Doanh nghiệp không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có
trách nhiệm với cổ đông và người lao động của doanh nghiệp, còn nhà nước phải có trách
nhiệm với xã hội; doanh nghiệp đã có trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nước.
• Quan điểm thứ hai cho rằng: Với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự
nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên. Vì
vậy, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn có trách nhiệm xã hội đối với môi trường, cộng
đồng, người lao động, v.v
4
Còn ở Việt Nam, trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát
triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Theo đó,
“Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) là sự cam kết của
doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng
cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã
hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.
Các doanh nghiệp có thể thực hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng cách đạt một chứng chỉ quốc
tế hoặc áp dụng những bộ quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC). Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ

thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư,
cá nhân ở nơi làm việc.
 Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch
vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản
phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh.
6
Nghĩa vụ đạo đức
Nghĩa vụ pháp lí
Nghĩa vụ
nhân văn
Nghĩa vụ kinh tế
 Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là bảo tồn và phát
triển các giá trị và tài sản được ủy thác. Những giá trị và tài sản này có thể là của xã hội hoặc
cá nhân được họ tự nguyện giao phó cho tổ chức, doanh nghiệp – mà đại diện là người quản
lý, điều hành – với những điều kiện ràng buộc chính thức.
 Đối với các bên liên đới khác, nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp là mang lại lợi ích tối đa và
công bằng cho họ. nghĩa vụ này được thực hiện bằng việc cung cấp trực tiếp những lợi ích
này cho họ qua hàng hóa, việc làm, giá cả, chất lượng, lợi nhuận đầu từ,….
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt động của
doanh nghiệp. Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa
vụ pháp lý.
1.2.2 Khía cạnh pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải thực hiện
đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Những điều luật như thế này
sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn
và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái. Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện
trong luật dân sự và hình sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm khía cạnh:
(1) Điều tiết cạnh tranh
(2) Bảo vệ người tiêu dùng
(3) Bảo vệ môi trường

hội lớn hơn để nâng cao chất lượng cuộc sống. Khía cạnh nhân ái của trách nhiệm pháp lý liên quan
tới cơ cấu và động lực của xã hội và các vấn đề về chất lượng cuộc sống mà xã hội quan tâm. Người
ta mong đợi các doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng và phúc lợi xã hội. Các công ty đã đóng góp
những khoản tiền đáng kể cho giáo dục, nghệ thuật môi trương và cho những người khuyết tật. Các
8
công ty không chỉ trợ giúp các tổ chức từ thiện địa phương và trên cả nước mà họ còn tham gia gánh
vác trách nhiệm giúp đào tạo những người thất nghiệp. Lòng nhân ái mang tính chiến lược kết nối khả
năng của doanh nghiệp với nhu cầu của cộng đồng và của xã hội.
Đây là thứ trách nhiệm được điều chỉnh bởi lương tâm. Chẳng ai có thể bắt buộc các doanh nghiệp
phải bỏ tiền ra xây dựng những ngôi nhà tình nghĩa hay lớp học tình thương ngoài những thôi thúc
của lương tâm. Tuy nhiên thương người như thể thương thân là đạo lý sống ở đời. Nếu đạo lý đó ràng
buộc mọi thành viên trong xã hội thì nó không thể không ràng buộc các doanh nhân. Ngoài ra, một xã
hội nhân bản là rất quan trọng cho hoạt động kinh doanh. Bởi vì trong xã hội như vậy, sự giàu có sẽ
được chấp nhận. Thiếu điều này, động lực của hoạt động kinh doanh sẽ bị tước bỏ.
Dưới đây, chúng ta sẽ kiểm định 4 thành tố của trách nhiệm xã hội: Thông qua trách nhiệm pháp lý
– cơ sở khởi đầu của hoạt động kinh doanh, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được
chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của
mình. Bước tiếp theo mà các tổ chức cần lưu tâm là trách nhiệm đạo đức. Các công ty phải quyết định
những gì mình cho là đúng, chính xác và công bằng theo những yêu cầu nghiêm khắc của xã hội.
Nhiều người xem pháp luật chính là những đạo đức được hệ thống hoá. Một sự quyết định tại thời
điểm này có thể sẽ trở thành một luật lệ trong tương lai nhằm cải thiện tư cách công dân của tổ chức.
Trong việc thực thi trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm xã hội của mình, các tổ chức cũng phải lưu
tâm đến những mối quan tâm về kinh tế của các cổ đông… Thông qua hành vi pháp lý và đạo đức thì
tư cách công dân tốt sẽ mang lại lợi ích lâu dài. Bước cuối cùng của trách nhiệm xã hội là trách nhiệm
của lòng bác ái. Bằng việc thực thi trách nhiệm về lòng bác ái, các công ty đóng góp nguồn lực về tài
chính và nhân lực của cộng đồng để cải thiện chất lượng cuộc sống. Khía cạnh lòng bác ái và kinh tế
của trách nhiệm xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau bởi vì tổ chức càng làm được nhiều lợi
nhuận bao nhiêu thì cơ hội họ đầu tư vào các hoạt động nhân dức càng lớn bấy nhiêu. Mỗi khía cạnh
của trách nhiệm xã hội được dịnh nghĩa một lĩnh vực mà các công ty phải đưa ra quyết định biểu thị
dưới dạng những hành vi cụ thể được xã hội đánh giá

thực hiện đạt mặt tích cực và giảm tiêu
cực
 Xem như cam kết với xã hội
 Quan tâm đến hậu quả của các quyết
định của tổ chức tới xã hội
 Mong muốn kỳ vọng xuất phòng từ bên
ngoài
1.3.2 Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Tuy khác nhau nhưng đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau.Đạo
đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của
các tổ chức phải vượt xa cả sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Có nhiều bằng chứng cho thấy trách
nhiệm xã hội bao gồm đạo đức kinh doanh liên quan tới việc tăng lợi nhuận.
Các vụ tranh cãi về các vấn đề đạo đức hoặc trách nhiệm đạo đức thường được dàn xếp thông qua
những hành động pháp lý dân sự. Các ví dụ:
Tổng công ty Bausch & Lomb đã phải chịu một vụ thua lỗ khoảng 54% thu nhập sau khi các nhà
quản lý “đùa giỡn và bỏ qua các quy định kế toán và đạo đức”.
Công ty Pennzoil đã phải chi trả 6,75 USD để dàn xếp vụ kiện về phân biệt chủng tộc, công ty này đã
bị quy kết là đã trả lương cho những nhân viên người da đen thấp hơn và cho họ ít cơ hội đựoc thăng
tiến hơn so với những nhân viên da trắng.
11
Với tư cách là một nhân tố không thể tách rời của hệ thống kinh tế - xã hội, doanh nghiệp luôn phải
tìm cách hài hoà lợi ích của các bên liên đới và đòi hỏi, mong muốn của xã hội. Khó khăn trong các
quyết định quản lý không chỉ ở việc xác định các giá trị, lợi ích cần được tôn trọng, mà còn cân đối,
hài hoà và chấp nhận hy sinh một phần lợi ích riêng hoặc lợi nhuận. Chính vì vậy, khi vận dụng đạo
đức vào kinh doanh, cần có những quy tắc riêng, phương pháp riêng là đạo đức kinh doanh, và các
trách nhiệm ở phạm vi và mức độ rộng lớn hơn, trách nhiệm xã hội.
1.4. Phát triển bền vững - mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp.
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng
đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai
- Phát triển bền vững phải đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi

nhiều nhà máy tại Hà Nội, Hưng Yên, Quảng Nam, Vũng Tàu Với Quy trình sản xuất, chất
lượng sản phẩm của các nhà máy được tuân thủ nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn quốc tế về quản
lý chất lượng ISO-9001 và tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường ISO-14001, tiêu chuẩn chất
lượng sản phẩm của Nhật Bản JIS (Japanese Industrial Standard). Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra
một ngôi nhà và một không gian sống toàn diện với thương hiệu INAX, từ vật liệu xây dựng, gạch
ốp trang trí đến các thiết bị cho phòng vệ sinh, nhà bếp, phòng tắm, bình nước nóng, cabinnet,tủ
bếp
Sau nhiều năm đi vào hoạt động, đến nay LIXILVIET NAM đã trở thành một thương hiệu
mạnh và phát triển vượt bậc. Sự tin tưởng và thỏa mãn của khách hàng đối với LIXILVIET NAM
là sự thành công của chúng tôi trong thời gian qua cũng như trong tương lai.
PHƯƠNG CHÂM CỦA LIXILVIỆT NAM
o Nghĩ về con người
o Nghĩ về chất lượng
o Nghĩ về dịch vụ
o Vững vàng trong thử thách
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
o Tháng 05 năm 1996: Nhận giấy phép đầu tư, thành lập Công ty.
o Tháng 09 năm 1996: Khởi công xây dựng nhà máy.
o Tháng 11 năm 1997: Hoàn thành việc xây dựng nhà máy, chuẩn bị đưa vào sản xuất.
o Tháng 01 năm 1998: Bắt đầu hoạt động sản xuất.
o Tháng 04 năm 1998: Bắt đầu xuất khẩu sản phẩm sang Nhật.
o Tháng 09 năm 1999: Bắt đầu sản xuất nắp xí bệt tại Việt Nam.
o Tháng 01 năm 2000: Nhận bằng khen “Công ty hoạt động hiệu quả năm 1999” từ Uỷ ban
nhân dân Thành phố Hà Nội.
o Tháng 12 năm 2000: Tham gia dự án sân bay Nội Bài, Hà Nội.
14
o Tháng 02 năm 2001: Nhận chứng chỉ ISO 9002.
o Tháng 09 năm 2001: Khánh thành đầu tư tăng sản xuất (tăng thêm lò nung lại), bắt đầu đưa
vào sản xuất.
o Tháng 04 năm 2002: Quyết định xây dựng nhà máy số 2, bắt đầu các công tác chuẩn bị.

Bộ phận
Mua - Bán
Bộ Phận
Hành Chính
Bộ Phận
Nhân Sự
Phòng Kế
Toán
Bộ phận Tài
Chính
B.P Xuất-
Nhập Khẩu
Bộ phận Kế
Toán
Phòng Sản
Xuất
Bộ phận
Đúc
Bộ phận
Phun Men
Bộ phận Lò
Nung
Bộ phận
Kiểm Tra
Ban Quản Lý
Chất Lượng
Phòng Bán
Hàng
Chi Nhánh
Hà Nội

thức mới. Không ngừng vươn lên, chấp nhật rủi ro, không ngại thử thách.
5. Hành động nhanh chóng.
6. Nhờ vào quyết định nhanh chóng, không lưỡng lự và hành động cương quyết, đem lại
thành quả vững chắc.
7. Khát vọng vươn lên không ngừng.
8. Luôn luôn học hỏi, thu nhận kiến thức và năng lực mới để nâng cao thành tựu của công
ty cũng như tự hoàn thiện bản thân. Không giữ mãi cái cũ mà luôn tìm cách cải tiến
bằng những ý tưởng sáng tạo linh hoạt.
9. Tổ chức mở rộng.
10.Không tạo ra rao cản giữa con người hay tổ chức mà xây dựng văn hóa tổ chức mang
tính toàn cầu với cách nhìn phóng khoáng tự do, có thể giao tiếp thẳng thắn cởi mở.
11.hành động công bằng, trung thực.
17
12.Luôn suy nghĩ theo quan điểm của khách hàng và hành động công bằng, theo lẽ phải,
tôn trọng luật pháp và đạo đức kinh doanh để giành được uy tín trong xã hội.
13.Chất lượng thượng hạng.
14.Hiểu được “Chất Lượng” là nguồn gốc của việc đạt được sự tin cậy của khách hàng và
xã hội, cũng như lợi nhuận của công ty và luôn vươn tới chất lượng thượng hạng trong
sản xuất, dịch vụ và trong mọi công việc kinh doanh.
15.Loại bỏ lãng phí hoàn toàn.
16.Xem xét một cách triệt để mọi sự lãng phí hay dư thừa và luôn hành động hợp lý, đem
lại hiệu quả kinh tế.
17.Đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác làm việc theo nhóm.
18.Phát huy năng lực tối đa của nhóm nhờ vào sự tôn trọng và truyền cảm hứng cho nhau.
Nhận thức được con người chính là tài sản quan trọng nhất của công ty và luôn nổ lực
để đào tạo nguồn nhân lực trong tương lai.
2.5. LIXIL ký tên tham gia Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu Liên hợp quốc (UNGC)

Tập đoàn LIXIL thể hiện cam kết của mình để trở thành Nhà lãnh
đạo toàn cầu thực sự bằng cách ký tên tham gia Mạng lưới Hiệp

Nguyên tắc 9 : Khuyến khích phát triển và phổ biến công
nghệ thân thiện với môi trường.
Chống tham
nhũng
Nguyên tắc 10 : Doanh nghiệp phải chống lại nạn tham nhũng
dưới mọi hình thức, kể cả hối lộ và nhận hối lộ.
19
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ Ý NGHĨA
TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY TNHH LIXIL INAX
VIỆT NAM
3.1. PHÂN TÍCH TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÔNG TY TNHH LIXIL INAX VIỆT
NAM
3.1.1. CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nước ta và trên trái đất đang được cả thế giới báo động.
Chính vì vậy Inax đã nung nấu ý tưởng tìm kiếm “sự sáng tạo và cung cấp vẻ đẹp môi trường cho
con người và trái đất” trong mọi hoạt động của mình theo chính sách môi trường của tập đoàn
Lixil.
Inax liên tục thực hiện cải tiến hệ thống quản lý môi trường, thiết lập chỉ tiêu, mục tiêu, thực
hiện các chương trình đề ra nhằm làm giảm gánh nặng môi trường và phòng chống ô nhiễm cụ
thể là: giảm lượng khí thải CO2, cắt giảm chất thải chôn lắp và nổ lực thu hồi nguồn nguyên liệu
tái chế.
Inax sẽ tích cực tham gia vào các chủ đề môi trường của tập đoàn Lixil, đồng thời triệt để
tuân thủ pháp luật, các yêu cầu về luật môi trường và các yêu cầu khác.
Inax sẽ làm ra sản phẩm ít gánh nặng môi trường, thực hiện tiết kiệm năng lượng và cắt
giảm sử dụng nguồn tài nguyên.
Inax sẽ tiến hành đào tạo ở mọi cấp, để toàn thể các bộ nhân viên thực hiện được chính sách
môi trường, cũng như nhận biết về mối liên hệ giữa hệ sinh thái với hoạt động kinh doanh, đồng
thời nỗ lực giữ gìn và khôi phục hệ sinh thái. Luôn công khai chính sách môi trường và cung cấp
cho cơ quan hữu quan khi cần thiết.
3.1.2. HỖ TRỢ CHƯƠNG TRÌNH TRÁI TIM CHO EM

nhỏ có hoàn cảnh vô cùng đáng thương có cuộc sống tốt hơn, vượt qua bệnh tật và có một trái tim
21
khoẻ mạnh như bao người bình thường khác. INAX cũng nhấn mạnh mục tiêu của chương trình
từ thiện này với câu slogan “Từ thiện để tri ân, không phải PR”.Chương trình này đã lan tỏa khắp
trong và ngoài nước, nhận được sự quan tâm và ủng hộ của rất nhiều người.
3.1.3. HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG MÙA XUÂN NĂM 2015 CHO
HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ ĐOÀN THANH NIÊN TẠI TỈNH HOÀ BÌNH VÀ
THÀNH PHỐ HUẾ
Ngày 1 tháng 3: Lớp học giáo dục môi trường tại trụ sở ủy ban nhân dân xã Nam Sơn,
Huyện Tân Lạc, Tỉnh Hòa Bình.
Xã Nam Sơn là một vùng cao của tỉnh Hòa Bình, với 98 % dân số là người dân tộc Mường.
Đây là buổi học thứ 2 tổ chức cho 63 em học sinh, 16 đoàn viên thanh niên mà chưa được tham
gia đào tạo giáo dục môi trường tại xã này.
Ngày 1/3/2015 Đoàn của tổ chức Lixil và tổ chức STT đã tiến hành giảng dạy cho các em học
sinh và đoàn viên Thanh Niên các kiến thức về nhà vệ sinh. Giáo trình giảng dạy là tài liệu “Cùng
bàn luận về nhà vệ sinh” với nhiều nội dung giảng dạy phong phú phù hợp với các em nhỏ như
phân và nước tiểu được hình thành như thế nào, lịch sử và bối cảnh ra đời của nhà vệ sinh, nhà vệ
sinh gồm có những loại nào, ưu nhược điểm của từng loại nhà vệ sinh này, cách dùng phân để chế
tạo thành phân bón cho cây trồng, cách sử dụng nhà vệ sinh, cách vệ sinh lau dọn nhà vệ sinh như
thế nào thì đúng cách…
Để củng cố các kiến thức đã giảng cho các em, nhóm đã tổ chức buổi thảo luận về vấn đề sử
dụng nhà vệ sinh dựa trên các hình ảnh số liệu điểu tra được từ 7 xóm trong xã. Trong buổi thảo
luận, các em cùng đưa ra nhận xét, so sánh về ưu nhược điểm của từng loại nhà vệ sinh, tình hình
sử dụng các loại nhà vệ sinh trong xóm mình.
Cũng theo chia sẻ của các em, trong xóm vẫn còn nhiều nhà vệ sinh tạm bợ lí do là do kinh tế
còn khó khăn và do thói quen sinh hoạt của người dân, nguyện vọng của các em mong muốn có
nhà vệ sinh sạch sẽ hơn. Phần lớn các em đều thấy rằng với nhà vệ sinh hai ngăn không tự hoại là
loại vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, tự nhiên của người dân mà vừa tận dụng được nguồn phân
bón cho cây trồng.
22

em, sau phần tự giới thiệu bản thân chúng tôi đã được nghe các em báo cáo về các chủ đề hoạt
động trong năm qua của các em như: tìm hiểu về dầu ăn thừa tại chợ và tại gia đình, sử dụng các
thiết bị tiết kiệm điện của các em lớp 7 và ô nhiễm môi trường của các em lớp 6.
Vì hoạt động này khá thiết thực và thú vị nên hầu hết các em đều rất hứng thú. Từ những chất
thải trong sinh hoạt, các em có thể tái chế thành một đồ vật vô cùng hữu ích. Việc này vừa tránh
lãng phí, vừa góp phần giảm lượng chất thải thải ra môi trường bên ngoài.
Sau 3 ngày làm việc với các em học sinh ở trường THCS Lâm Mộng Quang và trường tiểu học
Thủy Xuân, tất cả chúng tôi đã cùng với các nhân viên BAJ họp để đưa ra ý kiến cải tiến cho
những hoạt động lần sau.
3.1.4. HỢP TÁC QUỐC TẾ CÙNG VỚI NPO ĐỂ TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC MÔI TRƯỜNG
Công ty cổ phần LIXIL ( trụ sở chính : Tokyo, Tổng giám đốc: Fujimori Yoshiaki) và công ty
con - Công ty TNHH LIXIL INAX Việt Nam (LIXIL VIETNAM) đang tổ chức “hoạt động giáo
dục về môi trường nước” cho trẻ em các địa phương từ năm 2007. Hiện tại cùng hợp tác với hai tổ
chức NPO quốc tế là “Bridge Asia Japan (BAJ)” và “Seed to Table(STT)” để thực hiện các hoạt
động này.
Công ty LIXIL đứng đầu về thị phần gốm sứ vệ sinh tại thị trường nội địa Việt Nam. Cùng với
sự phát triển của Việt Nam và với vị trí hiện tại đã đạt được của công ty, công ty luôn mong muốn
đóng góp cho xã hội Việt Nam. Không chỉ dừng lại ở hoạt động hỗ trợ kinh phí đơn thuần, nhân
viên của LIXIL sử dụng tài liệu giáo khoa tự biên soạn như là “Cùng bàn luận về vấn đề nhà vệ
sinh”, “Chúng ta cùng nghĩ và nghiên cứu về nước”, trực tiếp giảng dạy. Qua đó tiến hành giáo
dục về môi trường một cách đều đặn bằng những đề án và những nội dung liên quan đến vấn đề
môi trường cũng như tình hình xã hội Việt Nam. Hoạt động giáo dục môi trường lần thứ 13 từ 11
tới 14 tháng 8 với các lớp học về môi trường đã được tổ chức tại tỉnh Hoà Bình và tỉnh Thừa
Thiên - Huế, kết hợp với các buổi tham quan nhà máy LIXILVIETNAM.
Ngày 11 tháng 8, lớp học môi trường tại Xã Địch Giáo với STT
24
Huyện Tân Lạc,tỉnh Hoà Bình cách Hà Nội 125 km, thuộc vùng tây bắc Việt Nam, là đất đồi
núi với dân cư canh tác trên vùng đất nông nghiệp có độ dốc cao. Người dân nơi đây có phong tục
tập quán và ngôn ngữ riêng được lưu truyền từ nhiều đời. Xã Địch Giáo có 14 làng với hơn 800


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status