Xây dựng và phát triển quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 27

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
󽞘󽜧󽞗
NGUYỄN THỊ LIÊN HƯƠNG
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. THÂN THỊ THU THỦY
TP.HCM, Năm 2010
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong
luận văn này do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện. Các
số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc,
trung thực và được phép công bố.
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Liên Hương
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cám ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu
Lời mở đầu

19
1.3.1- Kinh nghiệm giao dịch quyền chọn cổ phiếu tại một số nước trên thế
giới
19
1.3.2- Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
23
4
Chương 2. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TẠI VIỆT NAM
28
2.1- Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam…………………………
28
2.1.1- Khái quát quá trình hình thành và phát triển TTCK Việt Nam
28
2.1.2- Những biến động của TTCK Việt Nam
29
2.1.3- Đánh giá những mặt đạt được và tồn tại của TTCK Việt Nam
33
2.2- Nhận diện rủi ro trong đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam
37
2.2.1- Rủi ro từ chính sách quản lý của Nhà nước
37
2.2.2- Rủi ro từ hệ thống thông tin
38
2.2.3- Rủi ro từ hàng hóa của thị trường
39
2.2.4- Rủi ro từ trình độ và tâm lý của nhà đầu tư
40
2.2.5- Rủi ro từ hệ thống tổ chức quản lý, giám sát thị trường
40

trường quyền chọn cổ phiếu
64
3.1.3- Nâng cao chất lượng thông tin công bố trên thị trường, xây dựng
một thị trường lành mạnh và có độ tin cậy cao
66
3.1.4- Nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý cho nguồn nhân
lực phục vụ hoạt động của TTCK, thị trường quyền chọn cổ phiếu trong
tương lai
67
3.1.5- Nâng cao nền tảng kiến thức về chứng khoán nói chung, về quyền
chọn cổ phiếu nói riêng cho nhà đầu tư
68
3.2- Phát triển nguồn hàng hóa cơ sở về cả lượng và chất
69
3.2.1- Tiếp tục thúc đẩy tiến trình CPH các DNNN đã được sắp xếp lại và
chuyển đổi
70
3.2.2- Bổ sung và hoàn thiện các qui định về tiêu chuẩn, thủ tục niêm yết;
qui định về việc sử dụng vốn, kết hợp đẩy mạnh kiểm soát quá trình sử
dụng vốn thu được sau phát hành
71
3.2.3- Cần phải tiếp tục hoàn thiện và nâng cao công tác quản trị cho các
CTNY
73
3.2.4- Xây dựng và phối hợp các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả
nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phát triển số lượng và chất lượng cổ phiếu
74
3.2.5- Cần quan tâm đến các biện pháp nhằm kích cầu cổ phiếu bền
vững
75

Công ty chứng khoán
CtyĐC
Công ty đại chúng
CTNY
Công ty niêm yết
DN
Doanh nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
HOSE
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
NĐT
Nhà đầu tư
NHTM
Ngân hàng thương mại
SGDCK
Sở giao dịch chứng khoán
TCT
Tổng công ty
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TTCK
Thị trường chứng khoán
TTCKPS
Thị trường chứng khoán phái sinh
TTGDCK
Trung tâm giao dịch chứng khoán
8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tổng hợp sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng lên giá quyền chọn

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kể từ khi Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ra đời vào
ngày 20-7-2000, hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK) trở nên sôi động và
mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, đặc biệt là quá trình cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước được tiến hành thuận lợi hơn.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, TTCK Việt Nam cũng đã trải qua nhiều
đợt biến động thăng trầm. Chỉ số VN-Index sau một thời gian tăng nhanh, tăng
nóng đến mức đỉnh trên 1.100 điểm, thị trường đã liên tục giảm khá sâu, ngoài dự
tính của tất cả mọi người, kể cả các chuyên gia trong ngành, mặc dù đã phục hồi
phần nào trong thời gian gần đây, nhưng chỉ còn xấp xỉ quanh ngưỡng 500 điểm
(giảm hơn 50% giá trị so với đỉnh điểm). Những thăng trầm của TTCK Việt Nam
trong thời gian qua đã làm cho các nhà đầu tư thua lỗ nặng nề, kể cả các quĩ đầu tư
nước ngoài có vốn lớn, có kinh nghiệm đầu tư lâu năm.
Thêm vào đó, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn như
hiện nay, và đặc biệt, nền kinh tế đang bị sức ép bởi suy thoái kinh tế thế giới trong
những năm vừa qua đã gây không ít khó khăn cho hoạt động kinh doanh của các tổ
chức tín dụng, các doanh nghiệp và các nhà đầu tư. Do đó, một câu hỏi đặt ra là có
biện pháp gì để bảo vệ nhà đầu tư và TTCK khi giá chứng khoán lên xuống thất
thường, gây không ít rủi ro, đã ngày càng trở nên cấp thiết, như thời gian vừa qua?
Lý thuyết cũng như thực tiễn chứng tỏ được rằng một trong những công cụ quan
trọng để thực hiện phòng ngừa rủi ro trong hoạt động đầu tư là sử dụng các công cụ
phái sinh, trong đó có kể đến sử dụng quyền chọn cổ phiếu. Đối với nhà đầu tư, việc
sử dụng quyền chọn cổ phiếu được coi như là công cụ bảo hiểm hiệu quả đối với
các rủi ro do sự biến động của giá cả cổ phiếu hay chỉ số chứng khoán trên thị
trường. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng sử dụng quyền chọn cổ phiếu như là một
công cụ đầu tư.
2
Sự hình thành và phát triển các giao dịch quyền chọn chứng khoán – quyền chọn

Trên cơ sở đánh giá, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và phát
triển quyền chọn cổ phiếu, đề tài nghiên cứu phải đề xuất được các biện pháp xây
dựng và phát triển quyền chọn cổ phiếu trên TTCK Việt Nam, được cụ thể hóa trên
các mục tiêu cụ thể gồm:
Thứ nhất, hệ thống hóa về lý thuyết quyền chọn cổ phiếu và rút ra những bài học
kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển quyền chọn cổ phiếu.
Thứ hai, phân tích, đánh giá những cơ sở nền tảng cho việc hình thành và phát
triển quyền chọn cổ phiếu trên TTCK Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp để xây dựng cũng như những gợi ý thúc đẩy phát
triển bền vững quyền chọn cổ phiếu.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyền chọn cổ phiếu và việc hình thành và
phát triển quyền chọn cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Cụ thể là:
- Các vấn đề về cổ phiếu như một hàng hóa cơ sở cho việc xây dựng và phát triển
quyền chọn cổ phiếu.
- Các vấn đề về cơ sở hạ tầng cho việc hình thành và phát triển quyền chọn cổ
phiếu.
- Các vấn đề về giá quyền chọn cổ phiếu.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tổng hợp, quan sát, phân tích về số lượng cổ phiếu cơ sở được niêm yết chính
thức trên các Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) tại Việt Nam từ khi thành lập
TTCK đến 30/6/2010. Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu hệ thống pháp lý và các văn
bản liên quan đến TTCK, thực trạng cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), hệ thống cơ sở hạ tầng cho việc xây dựng và phát triển quyền chọn cổ
phiếu.
4
4.2. Những hạn chế nghiên cứu
Xuất phát từ khối lượng đáng kể các nghiên cứu mang tính lý thuyết, hơn nữa từ
những trở ngại không nhỏ trong việc tổ chức thu thập và xử lý chính xác các thông

Phân tích và đánh giá được sự hình thành và phát triển TTCK Việt Nam từ
khi thành lập đến nay.
-
Phân tích và đánh giá được các yếu tố cơ sở ảnh hưởng đến việc hình thành
và phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Chỉ ra được
những tồn tại cần phải hoàn thiện khi xây dựng và phát triển thị trường này.
-
Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy sự hình thành và phát triển quyền chọn
cổ phiếu bền vững trên TTCK Việt Nam.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU
1.1- TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN
1.1.1- Lịch sử hình thành và phát triển của quyền chọn chứng khoán
Những giao dịch đầu tiên của quyền chọn mua và quyền chọn bán trên thế giới
đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 ở Châu Âu.
Vào đầu những năm 1900, một nhóm Công ty đã thành lập “Hiệp hội những nhà
môi giới và kinh doanh quyền chọn”. Mục đích của hiệp hội này là cung cấp kỹ
thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau. Các nhà kinh doanh
không gặp nhau trên thị trường, nhà đầu tư muốn mua quyền chọn liên hệ với một
Công ty thành viên, công ty này sẽ cố gắng tìm người bán quyền chọn từ những
khách hàng của họ hoặc từ những Công ty thành viên khác, nếu không có người
bán, Công ty sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp.
Như vậy, hoạt động của hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn
có ba điểm yếu:
(i) Không có thị trường thứ cấp, người mua quyền chọn không có quyền bán
cho bên khác trước ngày đáo hạn
(ii) Không có kỹ thuật nào đảm bảo rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện
hợp đồng;
(iii) Chi phí giao dịch tương đối cao.

1.1.2- Khái niệm và đặc điểm của quyền chọn
󽟙 Khái niệm quyền chọn
Quyền chọn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó người
mua quyền không nhất thiết phải thực hiện quyền đó, để mua hoặc bán một tài sản
cơ sở nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn.
8
󽟙 Đặc điểm của quyền chọn:
- Tính phái sinh: Quyền chọn là một trong những công cụ tài chính phái sinh,
bởi vì nó được hình thành trên cơ sở một loại tài sản khác như các loại hàng hóa,
chứng khoán Do đó, các loại tài sản này được gọi là tài sản cơ sở.
- Tính lựa chọn: Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh cung cấp quyền
cho người nắm giữ quyền chọn chứ không phải nghĩa vụ phải thực hiện việc mua
hay bán. Nội dung trong các hợp đồng quyền chọn là sự thỏa thuận về quyền chọn
trong tương lai giữa các bên, trên cơ sở đó hình thành mức phí mua quyền.
- Tính kỳ hạn: Quyền chọn có ngày ký kết và ngày hết hiệu lực, khoảng thời
gian từ ngày ký kết đến hết ngày hết hiệu lực là thời gian hiệu lực của quyền chọn.
- Tính thanh khoản: Các hợp đồng quyền chọn có thể được giao dịch, mua bán
cả trên thị trường sơ cấp cũng như thị trường thứ cấp. Do đó, nó tạo cho sản phẩm
này tính thanh khoản tương đối cao.
1.1.3- Phân loại quyền chọn
1.1.3.1- Phân loại theo quyền của người mua
- Quyền chọn mua (Call option): là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời
điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được mua (hoặc không
mua) một loại hàng hóa cơ sở theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký
kết hợp đồng. Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc bán loại hàng hóa cơ sở
này khi bên mua thực hiện quyền.
- Quyền chọn bán (Put option): là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời
điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được bán (hoặc không
bán) một loại hàng hóa cơ sở theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký

Quyền chọn ở trạng thái ITM gọi là quyền chọn ở vùng hái ra tiền.
- Giảm giá quyền chọn (Out of the money-OTM): Là trạng thái khi người nắm giữ
quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện hợp đồng quyền chọn sẽ chịu lỗ.
Lúc này:
10
Giá thị trường < Giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn mua); và
Giá thị trường > Giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn bán).
Quyền chọn ở trạng thái OTM gọi là quyền chọn ở vùng mất tiền.
1.1.5- Mục đích, quyền lợi, nghĩa vụ của người mua và người bán quyền chọn
1.1.5.1-Mục đích của người mua, người bán quyền chọn
Với sự linh hoạt và với những đặc tính ưu việt của quyền chọn, các nhà đầu tư đã
ứng dụng công cụ này với những mục đích khác nhau.
Mục đích của người mua quyền:
Nhà đầu tư mua quyền chọn nhằm những mục đích cơ bản như bảo hộ, đầu cơ,
hoặc trì hoãn một quyết định.
• Bảo hộ: TTCK luôn biến động và không ai có thể chắc chắn được những
động thái của nó trong tương lai. Vì thế quyền chọn được sử dụng như là công cụ
bảo hộ vị thế hiện có của nhà đầu tư bằng việc cố định giá mua bán trên hợp đồng.
• Đầu cơ: Nhà đầu tư cũng có thể sử dụng quyền chọn để đầu cơ với số tiền bỏ
ra ban đầu thấp hơn nhiều so với việc mua bán trực tiếp trên thị trường và có thể tìm
được mức tỷ suất lợi nhuận rất cao.
• Trì hoãn một quyết định: Quyền chọn cũng được sử dụng khi một nhà đầu tư
muốn mua hay bán cổ phiếu nhưng chưa muốn thực hiện ý định đó ngay mà chờ đợi
diễn biến tiếp theo của thị trường. Trong trường hợp này quyền chọn có thể giúp
nhà đầu tư hạn chế rủi ro biến động giá và có thể trì hoãn quyết định mua bán của
mình trong thời gian hiệu lực của hợp đồng đã mua.
Mục đích của người bán quyền
Khi bán quyền chọn thì chủ thể bán quyền chỉ có thể kiếm được lợi nhuận hữu
hạn trong khi có thể bị lỗ vô hạn. Thông thường người bán quyền thường nhằm đến
những mục đích bảo hiểm vị thế hoặc/và tăng tỷ suất sinh lời.

quyền chọn để có được quyền mua hoặc bán loại hàng hoá cơ sở. Quyền chọn trao
12
cho người giữ quyền để thực hiện đối với hợp đồng quyền chọn mà họ đã mua. Do
vậy, trong thời hạn hiệu lực hợp đồng bên mua có ba lựa chọn:
(1) Hoặc thực hiện hợp đồng quyền chọn nếu biến động giá trên thị trường có
lợi cho họ;
(2) Hoặc bán hợp đồng quyền chọn cho bên thứ ba trên thị trường hưởng
chênh lệch giá;
(3) Hoặc để cho quyền chọn tự động hết hiệu lực mà không tiến hành bất cứ
một giao dịch mua-bán nào cả nếu biến động giá thị trường bất lợi so với giá thực
hiện trên hợp đồng quyền chọn.
Khi bên mua không thực hiện quyền chọn sẽ vẫn mất phí. Do vậy, theo lý thuyết,
bên mua có vùng lãi không giới hạn còn vùng lỗ giới hạn bằng mức phí quyền chọn.
Trên thị trường quyền chọn, có hai loại người mua quyền chọn: người mua quyền
chọn mua (Buyer call option- Long call); người mua quyền chọn bán (Buyer put
option- Long put ).
1.2- QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU VÀ VAI TRÒ CỦA QUYỀN CHỌN CỔ
PHIẾU
1.2.1- Khái niệm hợp đồng quyền chọn cổ phiếu
Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu là một hợp đồng giữa hai bên, theo đó người mua
quyền chọn có quyền chứ không phải nghĩa vụ mua hoặc bán một số lượng cổ phiếu
cụ thể với mức giá thực hiện đã được ấn định trước cho một thời hạn cụ thể trong
tương lai.
Người bán hợp đồng quyền chọn có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng theo các
điều kiện đã thoả thuận trước đó bất luận giá cả thị trường diễn biến như thế nào,
nếu như người mua quyền chọn muốn thực hiện quyền của mình.
Như vậy, rủi ro của người bán quyền chọn là rất lớn nếu như không có khả năng
tài chính, năng lực phân tích và các công cụ bảo hiểm rủi ro, trong khi người mua
quyền chọn không chịu bất cứ rủi ro nào khác ngoài phí đã trả.
13

Giá trị nội tại = Max (0, giá thực hiện - giá cổ phiếu)
*Giá trị thời gian (Time Value): Nếu một quyền chọn cổ phiếu không được
giá, giá trị nội tại của nó bằng không. Số tiền phải trả cho khả năng mà quyền chọn
trong tương lai trở nên được giá gọi là giá trị thời gian của quyền chọn. Phí quyền
chọn phải trả để có được quyền chọn phản ánh cả hai loại giá trị: giá trị nội tại và
giá trị thời gian. Vì vậy, giá trị thời gian của quyền chọn được tính theo công thức
như sau :
Giá trị thời gian = phí quyền chọn – giá trị nội tại
1.2.3- Các yếu tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn cổ phiếu
Giá quyền chọn cổ phiếu thay đổi liên tục, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
1.2.3.1- Giá cổ phiếu cơ sở: Nếu một quyền chọn mua cổ phiếu được thực hiện ở
một thời điểm trong tương lai thì khoản lợi nhuận thu được sẽ bằng khoảng lớn hơn
của giá thị trường của cổ phiếu cơ sở so với giá thực hiện. Do đó nếu giá cổ phiếu
cơ sở trên thị trường tăng thì giá của quyền chọn mua cổ phiếu sẽ tăng, và ngược lại
đối với giá cổ phiếu cơ sở trên thị trường giảm. Đối với quyền chọn bán thì ngược
lại, giá cổ phiếu cơ sở trên thị trường và giá của quyền chọn bán có quan hệ tỷ lệ
nghịch với nhau.
1.2.3.2- Giá thực hiện: Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện càng cao thì giá
quyền chọn càng thấp và ngược lại. Còn đối với quyền chọn bán, nếu giá thực hiện
càng cao thì giá quyền chọn càng cao.
1.2.3.3- Thời gian đến lúc đáo hạn
Yếu tố này có tác động rõ ràng hơn đến quyền chọn kiểu Mỹ, nếu như thời gian
còn lại cho đến lúc đáo hạn càng dài thì giá của quyền chọn sẽ càng cao. Xét với hai
quyền chọn giống nhau về các yếu tố khác ngoại trừ thời gian cho đến ngày đáo
hạn. Người sở hữu quyền chọn có thời gian dài hơn rõ ràng có nhiều thời gian để
lựa chọn thực hiện quyền hơn người sở hữu quyền chọn ngắn hơn.
15
Với quyền chọn kiểu Châu Âu, thời gian đến ngày đáo hạn không thực sự có ảnh
hưởng đến giá quyền chọn do cả 2 quyền chọn mua và quyền chọn bán đều chỉ có
thể thực hiện ở cùng một thời điểm là ngày đáo hạn.

của quyền chọn bán. Như thế giá của quyền chọn mua có tương quan ngược chiều
và giá quyền chọn bán có tương quan cùng chiều với những dự báo về quy mô trả
lợi tức.
Bảng 1.1: Tổng hợp sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng lên
giá quyền chọn cổ phiếu.
Yếu tố
Giá QC mua
Châu Âu
Giá QC bán
Châu Âu
Giá QC mua
kiểu Mỹ
Giá QC bán
kiểu Mỹ
Giá cổ phiếu hiện tại
+
-
+
-
Giá thực hiện
-
+
-
+
Lãi suất phi rủi ro
+
-
+
-
Thời gian đáo hạn

b. Công thức xác định giá quyền chọn cổ phiếu
Công thức Black - Scholes được dùng để định giá quyền chọn châu Âu về cổ phiếu
không trả cổ tức được thể hiện sau đây:
)()(
210
dNXedNSc
rT−
−=
)()(
102
dNSdNXep
rT
−−−=

T
Tr
X
S
d
󽝴
󽝴
)
2
(ln
2
0
1
++



Trong đó,
- c: Giá quyền chọn mua cổ phiếu kiểu châu Âu.
- S
0
: Giá hiện tại của cổ phiếu.
- X: Giá thực hiện quyền chọn tại thời điểm đáo hạn.
- T: Thời hạn hợp đồng quyền chọn, tính bằng năm.
- N(d
1
), N(d
2
): Giá trị của hàm phân phối xác suất chuẩn cho giá trị d
1
và d
2
.

Trích đoạn Hàng hóa cơ sở của quyền chọn cổ phiếu Hạ tầng cơ sở cho xây dựng và phát triển quyền chọn cổ phiếu trên Củng cố và hoàn thiện các yếu tố nền tảng của TTCK đáp ứng yêu Gợi ý lựa chọn mô hình định giá quyền chọn cổ phiếu trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status