Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Ngành công nghiệp sản xuất bia đã có ở Việt Nam từ rất lâu, bắt đầu
hình thành ở miền Nam Việt Nam năm 1885, do một quân nhân người Pháp
tên là VICTORLARUE đã mở xưởng sản xuất bia ở chợ lớn( nay là địa điểm
của công ty bia Sài Gòn). Đến năm 1910, đã có một nhà máy chuyên sản xuất
bia, nước ngọt được xây dựng khá hoàn chỉnh. Tại Hà Nội, năm 1889 một nhà
tư bản Pháp tên là HOMMEL đã mở một nhà máy bia tại làng Đại Yên- Ngọc
Hà. Nhưng thời kỳ phát triển nở rộ của ngành bia ở Việt Nam là từ sau thời
kỳ đổi mới 1986.
Ngành sản xuất bia là bộ phận quan trọng trong ngành công nghiệp sản
xuất rượu- bia- nước giải khát. Bia là thức uống thiết yếu hàng ngày trong đời
sống người dân. Không chỉ đối với người dân đô thị mà ngày càng phổ biến
với người dân nông thôn. Bia được sử dụng cho quảng đại tầng lớp nhân dân,
cho các sinh hoạt tập thể và gia đình. Đặc biệt là trong các ngày nghỉ, ngày lễ
tết, bia luôn được coi là thức uống ưu tiên. Nhất là trong điều kiện khí hậu của
nước ta nóng kéo dài nên nhu cầu về sản phẩm bia là khá lớn.
Công ty SẢN XUẤT KINH DOANH ĐẦU TƯ VÀ DỊCH VỤ VIỆT
HÀ cung cấp ra thị trường sản phảm bia hơi có thương hiệu mạnh, in đậm
trong tâm trí khách hàng. Tuy nhiên thị trường bia miền Bắc hiện tại là thị
trường cạnh tranh rất gay gắt đòi hỏi phải có các chính sách, chiến lược phát
triển đứng đắn.Để đảm bảo việc kiểm soát, cải tiến chất lượng và tăng cường
đổi mới quản lý chất lượng cần có sự quan tâm, ủng hộ và được thực hiện
rộng rãi trong toàn doanh nghiệp, ở mọi lĩnh vực sản suất và dịch vụ. Do đó,
vấn đề trên chở thành sống còn với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường cạnh tranh gay gắt hiện nay. Thực tế cho thấy các công cụ thống kê
1
Chuyên đề tốt nghiệp
hiện đang được sử dụng tại công ty chưa được sử dụng phổ biến và phát huy
hết hiệu quả của nó, chưa tạo ra các lợi thế cạnh tranh cho công ty.
Các công cụ thống kê được coi là phương tiện sắc bén nhất nhằm kiểm
Ngày thành lập công ty tiền thân( xí nghiệp nước chấm): 22/07/1966.
Ng©n hµng giao dÞch:
Ng©n hµng n«ng nghiÖp Hµ Néi: TK 431.101.000.102
Ng©n hµng TMCP Sµi Gßn Th¬ng TÝn: TK 431.100.100.000.21
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Việt
Hà:
Thời kỳ xí nghiệp nước chấm sau là Nhà máy thực phẩm(
trước năm 1987)
Đặc điểm của thời kỳ này là sản xuất kinh doanh theo chế độ kế hoạch,
tập trung, bao cấp. Nhà máy gặp phải rất nhiều khó khăn như: Thường xuyên
thiếu nguyên vật liệu, nhà xưởng dột nát, máy móc thiết bị thô sơ, phương
tiện lao động chủ yếu là thủ công, cán bộ công nhân viên chức đông (400 ng-
ười), trình độ văn hoá, tay nghề thấp. Sản phẩm chủ yếu của Nhà máy là các
loại nước chấm.
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhà máy chủ trương mở các lớp đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ
công nhân viên chức gửi cán bộ đào tạo tại chức tại các trờng đại học, cao
đẳng, trung cấp, vận động cán bộ công nhân viên chức phát huy sáng kiến cải
tiến kỹ thuật, đặc biệt là tự trang, tự chế trang thiết bị sản xuất…Và không
ngừng nỗ lực hoàn thành tốt các kế hoạch đề ra.
Với các chủ trơng trên, nhà máy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính
trị được giao, và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng II,
nhiều cán bộ công nhân viên trong nhà máy được nhận danh hiệu chiến sỹ thi
đua, lao động tiên tiến, nhiều sáng kiến cải tiến được Bộ và Thành phố khen
thưởng.
Thời kỳ Nhà máy Thực phẩm Hà Nội sau đổi thành Công ty Bia Việt
Hà và nay là Công ty Sản xuất kinh doanh Đầu tư và Dịch vụ Việt Hà( từ
1987 tới nay)
Bước vào thời kỳ đổi mới, xoá bỏ bao cấp, thực hiện các Nghị quyết
Đến nay, với nỗ lực toàn diện, liên tục của lãnh đạo và tập thể cán bộ
công nhân viên chức, từ chỗ vốn âm 2 tỷ đồng không có khả năng trả, nhà
xưởng, thiết bị hầu như không có gì, hàng trăm lao động tay nghề thấp, Công
ty đã lớn mạnh không ngừng, điều hành nhiều loại hình doanh nghiệp khác
nhau như doanh nghiệp nhà nước (Công ty Việt Hà, Công ty KDTP Vi sinh,
Xí nghiệp mỹ phẩm Hà Nội, Xí nghiệp chế phẩm vi sinh, 100% vốn nhà n-
ước), các công ty liên doanh (Liên doanh Nhà máy bia Đông Nam á, liên
doanh IBD - Công ty phân phối đồ uống quốc tế), các công ty cổ phần (Công
ty Cổ phần Việt Hà, Công ty Cổ phần Bánh Mứt Kẹo Hà Nội). Công ty đã
vươn lên đứng vững trên thị trường, và là một đơn vị làm ăn có hiệu quả,
đứng đầu trong ngành công nghiệp Thủ đô và liên tục là doanh nghiệp dẫn
đầu trong việc đóng góp ngân sách cho Thành phố Hà Nội.
5
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.3 Chức năng nhiệm vụ chính của công ty Việt Hà:
Một số chức năng chính của công ty như:
• Sản xuất kinh doanh bia nhãn hiệu: “bia hơi Việt Hà”, nước khoáng,
nước giải khát.
• Hợp tác với các đơn vị cơ khí, điện lạnh thiết kế, chế tạo thiết bị và
chuyển giao công nghệ ngành bia, nước giải khát, nước khoáng.
• Sản xuất kinh doanh các loại bao bì.
• Xuất khẩu các sản phẩm và nhập khẩu nguyên liệu, hóa chất, thiết
bị.
• Dịch vụ du lịch, kinh doanh khách sạn, thể dục, thể thao, vui chơi
giải trí.
• Liên kết hợp tác trong và ngoài nước làm đại lý, đại diện, phân phối
và tiêu thụ sản phẩm.
1.2 Các đặc điểm kỹ thuật chủ yếu có ảnh hưởng đến
hoạt động quản lý chất lượng của công ty Việt Hà
1.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty Việt Hà:
chính
quản
trị
Phòng
tổ chức
Phòng
kỹ
thuật
Phòng
KCS
Phân xưởng sản xuất
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
* Hội đồng quản trị: điều hành mọi hoạt động, ra quyết định quản trị,
thống nhất hoạch định chiến lược kinh doanh và chiến lược phát triển công ty.
* Tổng giám đốc: do Hội Đồng Quản trị bổ nhiệm, chịu trách nhiệm
trước Hội Đồng Quản Trị về hoạt động kinh doanh của công ty. Tổng giám
đốc có quyết định cao nhất về mọi mặt hoạt động của công ty, có quyền bổ
nhiệm, miễn nhiệm cách chức. Riêng các chức danh quản lý là cấp trưởng
phải thông qua và được sự nhất trí của Hội Đồng Quản Trị
* Phó giám đốc kỹ thuật: Quản lý về quá trình công nghệ, nghiên cứu
đổi mới sản phẩm, thiết kế hoặc cải tiến mẫu mã sản phẩm. Đồng thời quản lý
toàn bộ máy móc thiết bị, hồ sơ, lí lịch máy móc thiết bị và chịu trách nhiệm
về chỉ đạo kiểm tra kỹ thuật để bảo đảm hoàn thành kế hoạch sản xuất. Giải
quyết các sự cố trong sản xuất, quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
* Phó giám đốc tổ chức hành chính nhân sự: chịu trách nhiệm về chỉ
đạo và kiểm tra các công tác hành chính và nhân sự lao động.Bồi dưỡng, đào
tạo công nhân và đảm bảo an ninh trật tự.
* Phó giám đốc kinh doanh: chỉ đạo điều hành các công tác về quản lý
chất lượng sản phẩm, công tác xây dựng, áp dụng chương trình quản lý chất
sản xuất kinh doanh của Công ty, kiểm soát việc sử dụng tài sản, vật tư,
vốn…
- Phòng Marketing và bán hàng
Đứng đầu phòng Marketing của công ty là Trưởng phòng, tiếp đó là
Phó phòng, vì nhà máy Bia Việt Hà giữ vai trò quan trọng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của nhà máy nên hai cán bộ này sẽ trực tiếp tham gia
9
Chuyên đề tốt nghiệp
định hướng và chỉ đạo công việc của bộ phận Marketing- bán hàng của nhà
máy Bia Việt Hà
Công tác trong bộ phận Marketing của Công ty còn có sự tham gia của
2 phó giám đốc (PGĐ): PGĐ Marketing - bán hàng và PGĐ Vận tải của nhà
máy và các nhân viên khác.
Nhiệm vụ chức năng của phòng Marketing- Bán hàng của Công ty bia
Việt Hà:
• Chịu trách nhiệm chính trong việc lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm,
thiết kế và thực hiện chính sách giá cả sản phẩm. Trưởng phòng marketing -
bán hàng cũng chịu trách nhiệm xây dựng điều phối mạng lưới phân phối sản
phẩm, lên kế hoạch các chương trình quảng cáo khuyến mãi, xúc tiến bán
hàng với mục đích cuối cùng là
• Tăng sản lượng tiêu thụ
• Nâng cao hình ảnh bia Việt Hà trong con mắt người tiêu dùng.
Chỉ đạo hoạt động của bộ phận Marketing của Công ty là Trưởng
phòng cùng với sự giúp đỡ của Phó phòng và hai phó giám đốc trực tiếp thực
hiện những chức năng của bộ phận, tham mưu cho giám đốc đưa ra các kế
hoạch marketing của Công ty trong năm và trong những kỳ dài hạn hơn.
Đội ngũ bán hàng Marketing của Công ty bia Việt Hà 25 người
trong đó có:
+ 10 người làm Marketing : 100% trình độ đại học có nhiệm vụ lập kế
hoạch Marketing và thực hiện các hoạt động tiêu thụ sản phẩm
là Malt và hoa Hublong (hoa tạo hương bia). Những nguyên liệu này chủ
yếu là nhập khẩu. Vào những năm 1957-1958 khi bia lần đầu tiên được
bán trên thị trường miền Bắc vẫn còn là một đồ uống xa lạ với mọi người.
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi đó người ta đã pha bia với Siro để giảm bớt vị đắng, sản lượng tiêu
dùng bia khá ít. Dần dần, nhận ra tác dụng của loại đồ uống này với sức
khoẻ thì nó trở nên thông dụng hơn. Người ta không chỉ uống bia vào
những ngày nóng mà còn vào những tháng mùa đông hanh khô. Đặc biệt
trong các dịp lễ tết, hội nghị, bia trở thành nhu cầu không thể thiếu. Trong
tương lai bia sẽ trở thành một loại đồ uống được ưa chuộng và công
nghiệp sản xuất bia còn nhiều tiềm năng phát triển mạnh.
Bia, đặc biệt là bia hơi có đặc điểm giống như mọi thứ hàng thực
phẩm khác, qua thời gian bia sẽ lên men chất lượng giảm. Chính vì vậy
vấn đề đặt ra với cơ sở là phải gắn liền quá trình sản xuất với tiêu thụ sản
phẩm.
Bia có thành phần từ các nguyên liệu chủ yếu là: gạo, Malt (men),
hoa Hublong với các nhiên liệu than, điện cùng một số hoá chất khác.
Bảng 1:Định mức cho 100 lít bia mà công ty đang sản xuất bao gồm :
Malt : 13 Kg Hoa Hublong : 1 Kg Điện : 15 Kw
Gạo : 6 Kg Cao hoa : 0,4 Kg Đường và hoá chất: 1,5
Kg
Khác với sản phẩm giải khát khác, sản phẩm bia khi sản xuất đòi
hỏi yêu cầu kỹ thuật và vệ sinh rất cao mới cho sản phẩm có chất lượng.
Song mặt khác nó cũng yêu cầu một chế độ bảo quản nghiêm ngặt trong
khoảng nhiệt độ thấp từ lúc là thành phẩm hoàn chỉnh đến khi tiêu dùng.
Đặc điểm quan trọng này ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sản xuất và
tiêu thụ bia .
* Về thị trường:
Việt Nam là một thị trường đầy sức hấp dẫn với hơn 80 triệu dân,
Khác với thị trường các nước phương Tây, tại thị trường Việt Nam
bia lon được coi là sang trọng hơn bia chai. Chính vì vậy, khoảng 70%
sản lượng bia của các nhà máy bia là bia lon và 30% tập trung vào bia
1
13
Chuyên đề tốt nghiệp
chai. Hơn nữa, số lượng bia tiêu thụ trong năm thay đổi theo mùa, số
lượng bia tiêu thụ mạnh nhất là vào các tháng hè, các dịp lễ tết trong năm,
và giảm dần vào các tháng trong mùa đông. Đây là nét đặc trưng riêng của
thị trường ở phía Bắc.
1.2.5 Đặc điểm về nguyên liệu và nguồn cung ứng:
Trong quá trình sản xuất, để tạo ra sản phẩm, nguyên vật liệu chỉ
tham gia vào một chu kỳ sản xuất và khi tham gia vào quá trình sản xuất
thì nguyên liệu bị tiêu hao toàn bộ, không giữ nguyên được hình thái ban
đầu. Giá trị nguyên vật liệu được chuyển toàn bộ vào giá trị thành
phẩm.Căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò và tác dụng của chúng trong
quá trình sản xuất nguyên vật liệu ở công ty Bia Việt Hà được chia thành :
- Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của công
ty, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm gồm nước,
Malt đại mạch, gạo, đường, hoa và cao hoa.
- Vật liệu phụ: không cấu thành nên thực thể của sản phẩm, nhưng
có tác dụng làm tăng chất lượng sản phẩm và tạo điều kiện cho quá trình
sản xuất diền ra bình thường như bột, hồ gián, xà phòng
- Nhiên liệu: có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản
xuất, nhiên liệu được sử dụng trực tiếp vào quy trình công nghệ sản xuất
bia.
- Phụ tùng thay thế.
- Vật tư, vật liệu xây dựng cơ bản.
- Phế liệu thu hồi.
nên việc bảo quản các nguyên vật liệu phaỉ tuân thủ thao các quy định
nghiêm ngặt. Công ty tổ chức bảo quản nguyên vật liệu trong điều kiện sự
thoáng mát của kho chứa và độ ẩm dưới 10% (đặc biệt với Houblon thì
độ ẩm luôn dưới 5%). Điều này nhằm tránh không để hư hao mất mát,
giảm phẩm chất gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, tránh thiệt hại
cho sản xuất.
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyên vật liệu thu mua phải đảm bảo đầy đủ về số lượng, chất
lượng,chủng loại. Việc chi dùng nguyên vật liệu cho sản xuất được quản
lý chặt chẽ và theo nguyên tắc: tất cả các nhu cầu về nguyên vật liệu đều
phải xuất phát từ nhiệm vụ của sản xuất. Cụ thể là căn cứ vào lệnh sản
xuất, vào định mức sử dụng nguyên vật liệu và trên từng phiếu xuất kho
ghi rõ từng dối tuợng chi phí sản xuất.
ở công ty Bia Việt Hà, nguyên vật liệu mua ngoài là chủ yếu. Theo
quy định tất cả các nguyên vật liệu khi về đến công ty đều phải tiền hành
thủ tục kiểm nghiệm nhập kho. Khi nguyên vật liệu về đến kho, nhân viên
thu mua đem hoá đơn lên phòng cung tiêu, phòng cung tiêu tiến hành
kiểm tra, đối chứng với hợp đồng, nếu nội dung phù hợp thì cho phép
nhập nguyên vật liệu, đồng thời làm phiếu nhập kho và nhân viên thu mua
đề nghị thủ kho cho nhập nguyên vật liệu đó. Sau đó ban kiểm tra tiến
hành kiểm tra số lượng, chất lượng của từng loại nguyên vật liệu và ghi
vào biên bản kiểm nghiệm. Nếu nguyên vật liệu mua về đúng quy cách,
phẩm chất mẫu mã thì mới tiến hành thủ tục nhập kho.
Tóm lại, công tác tổ chức thu mua và sử dụng nguyên vật liệu tại
công ty được quản lý rất chặt chẽ dưới sự điều hành và kiểm soát của
phòng cung tiêu.
1.2.6 Quy trình công nghệ sản xuất:
Quy trình chung về công nghệ sản xuất bia bao gồm: nấu, lên me,
lọc, nạp ga và chiết bia. Chất lượng bia phụ thuộc vào chất lượng của các
C
Bã bia
Hoa
Đường
Lọc
Lên men phụ
Lọc trong + KCS
Thu hồi mem
Khí sạch
Men giống
Thu hối CO
2
Nấu hoa
Tách bã
Lắng trong
Làm lạnh
Lên men sơ bộ
Lên men chính
Cặn nóng
Tăng chứa áp lực
Thùng chứa bia
trong
Rửa thùng
Vô trùng
Chiết bia
Xuất kho
Chuyên đề tốt nghiệp
• Về mặt cơ sở vật chất:
Bảng 3 : Danh mục các loại thiết bị chủ yếu
STT Tên M.M.T.B Tên nước S.X Công suất
Chuyên đề tốt nghiệp
công ty gắn liền với thị trường, thiết kế máy móc dựa trên phân tích đánh
giá và dự đoán nhu cầu của thị trường.
Bảng 4: Mức huy động công suất 2005-2007
Đơn vị: triệu lít
Năm 2005 2006 2007
Sản lượng thực hiện 11.42 15.20 13.73
Công xuất thiết kế 15.90 15.90 15.90
Ncs( %) 71.82 99.60 93.42
( Nguồn: Phòng Kỹ Thuật)
1.2.7 Đặc điểm về lao động:
Để mở rộng sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, ban lãnh đạo công
ty Bia Việt Hà luôn chú trọng đến đến chất lượng lao động. Mục tiêu của
công ty là người lao động không những am hiểu nghành nghề mà còn phải
thông thạo kiến thức chuyên môn. Những năm qua, các hình thúc đào tạo
công nhân mới được công ty áp dụng khá triệt. Công ty có hơn 3/5 số
công nhân đã qua đào tạovề nghiệp vụ chuyên môn. Bậc thợ bình quân
của công nhân sản xuất hiện nay là 3,6. Hàng năm công ty đều tiền hành
hoạt động tuyển thêm kỹ sư giỏi, cử cán bộ, cá nhân có năng lực đi học
các khoá ngắn hạn hoặc các trường đại học. Theo thống kê của phòng tổ
chức thì hiện nay số cán bộ công nhân viên của công ty là 261 người, với
một cơ cấu lao động gồm nhiều thợ bậc cao, kỹ sư giỏi và các cán bộ dày
dạn kinh nghiệm.
Bảng 5:Lao động của công ty Bia Việt Hà
Năm
2004 2005 2006 2007
STĐ % STĐ % STĐ % STĐ %
Tổng số lao động 500 100 680 100 850 100 1200 100
L.Đ có trình độ ĐH 110 22 155 18,2 207 25,2 258 23,1
5.Nợ ngắn hạn 36415202 25327239 - -
6.Vốn bằng tiền 638265 2292177 - -
7.Khả năng thanh toán
ngắn hạn
1,24 1,27 0,03 2,4
8.Khả năng thanh toán
nhanh
0,51 0,59 0,08 16,0
9.Chỉ số mắc nợ 0,72 0,67 - 0,05 - 6,9
10.Khả năng thanh toán
tức thời
0,02 0,09 0,07 350
( Nguồn: Phòng Kế Toán)
Các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán của công ty ở mức chấp
nhận được. Chỉ tiêu khả năng thanh toán ngắn hạn năm 2006 là 1,24 và
năm 2007 là 1,27 phản ánh tình hình tài chính của Công ty là bình thường.
Tuy nhiên chỉ số khả năng thanh toán tức thời của Công ty quá thấp, thể
hiện Công ty không có khả năng trả ngay các khoản nợ, nhưng mặt trái
của nó phản ánh số vốn lưu động được tập trung cho sản xuất. Chỉ số mắc
nợ của công ty rất cao phản ánh nguồn vốn kinh doanh của Công ty chủ
yếu là đi vay mượn và chiếm dụng của các doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên so sánh năm 2007 và 2006 thì tình hình tài chính của Công
ty có chuyển biến rõ rệt. Các chỉ số phản ánh khả năng thanh toán của Công
ty đều tăng, lớn nhất là khả năng thanh toán tức thời tăng đến 350%, khả năng
thanh toán nhanh tăng 16%. Điều này cho thấy, Công ty đã phần nào đáp ứng
được cá quy định của Nhà nước về vấn đề tài chính.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Việt Hà:
hàng Bia hơi. Hiện nay sản phẩm bia trên thị trường Việt Nam được chia
làm ba loại: bia cao cấp, bia trung bình và bia có chất lượng kém. Sản
phẩm Bia hơi của công ty là loại sản phẩm tươi mát có giá trị dinh dưỡng
cao, thời gian bảo quản tốt nhất là 24
h
. Sản phẩm của công ty thuộc loại
chất lượng phổ thông, đối tượng phục vụ chính là người tiêu dùng có thu
nhập từ trung bình trở xuống. Sản phẩm bia của công ty có chất lượng phù
hợp với người tiêu dùng và giá cả phải chăng nên dần chiếm lĩnh được thị
trường. Thị trường tiêu thu sản phẩm chính của Công ty Bia Việt Hà là
thành phố Hà nội, với các quận huyện nội thành. Hiện nay công ty có
khoảng 1420 điểm tiêu thụ với mức tiêu thụ bình quân một ngày là
120lít/điểm tiêu thụ. Số điểm này được thể hiện qua bảng sau.
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 8: khả năng Tiêu thụ sản phẩm bia hơi của công ty
Đơn vị: lít/ngày/điểm tiêu thụ
Năm Số điểm tiêu thụ Số lượng tiêu thụ bình quân
2005 800 90
2006 880 120
2007 1420 140
Do bia là một sản phẩm đang có sức tiêu thụ lớn, thu lợi nhuân cao
nên ngày càng có nhiều sản phẩm cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản
xuất. Các hãng đưa ra sản phẩm của mình với những lời quảng cáo rất hấp
dẫn.
Ngoài tính chất thời vụ, thị hiếu người tiêu dùng, công ty phải tính
đến thu nhập của người tiêu dùng và cách phân bổ của họ cho đồ uống
trong sinh hoạt hằng ngày mà đặc biệt là mặt hàng bia hơi. Những người
có thu nhập cao thường dùng bia có chất lượng cao và nếu trung bình trở
xuống thì họ lại có mặt hàng đáp ứng cho mình một cách hợp lý hơn. Đó