luận văn thạc sĩ du lịch Nâng cao năng lực cạnh tranh các Tour du lịch trong nước của Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn “ Nâng cao năng lực cạnh tranh các Tour du
lịch trong nước của Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành” là công trình nghiên cứu
độc lập của cá nhân tôi. Các số liệu, trích dẫn và tham khảo sử dụng cho luận văn
được trích dẫn từ các nguồn đã được công. Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Tác giả luận văn
i
MỤC LỤC
1.3.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp 22
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
DVDL: Dịch vụ du lịch
HTA: Hiệp hội du lịch TP. Hồ Chí Minh
JATA: Hiệp hội du lịch Nhật Bản
SATA: Hiệp hội du lịch Sài Gòn
TNHH MTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
TP: Thành phố
VHTTDL: Văn hóa thể thao du lịch
VCCI: Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam
VNA: Vietnam Airline
iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
1.3.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp 22
Biểu đồ 2.1: Doanh thu Benthanh Tourist so với các công ty điển hình các năm
2010 – 2012 Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Công ty TNHH MTV DVDL Bến Thành Error:
Reference source not found
Sơ đồ 2.2: Bộ máy tổ chức quản lý của trung tâm dịch vụ du lịch Error:
Reference source not found

nước. Từ đó công ty ngày càng phát triển vững mạnh, góp phần trong công cuộc
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước.
1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam là
một trong những điều kiện giúp sản phẩm hàng hóa – dịch vụ của Việt Nam có chỗ
đứng không chỉ trên thị trường trong nước mà trên cả thị trường quốc tế. Nhận thấy
được tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, đặc biệt là
sản phẩm du lịch, thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này,
tiêu biểu như:
Vũ Đức Minh (2008), Giáo trình Tổng quan du lịch, NXB Thống kê.
Michael E. Porter (2008), Chiến lược cạnh tranh, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
Michael E. Porter (2008), Lợi thế cạnh tranh, NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
Trần Bích Hằng (2012), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp nhà nước kinh doanh du lịch sau cổ phần hóa trên địa bàn Hà Nội, Luận án
Tiến sĩ kinh tế - Trường Đại học Thương mại.
Nguyễn Viết Thái (2009), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp du lịch tại khu tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh), Luận án Tiến sĩ kinh tế - Trường Đại học Thương mại.
Nguyễn Quang Vinh (2011), Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ
hành quốc tế Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới,
Luận án Tiến sĩ kinh tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.
Nguyễn Văn Mạnh – Phạm Hồng Chương (2006), Giáo trình quản trị kinh
doanh lữ hành, NXB Đại học kinh tế quốc dân.
Nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Nguyễn Anh Tuấn (2007), Nghiên cứu
thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành quốc
tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế
Các công trình trên đã đề cập đến vấn đề cơ bản về quan niệm năng lực cạnh
tranh, các yếu tố tác dộng đến năng lực cạnh tranh của ngành, của sản phẩm, từ đó
đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành, cho sản phẩm. Các

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về nội dung:
Đề tài nghiên cứu các vấn dề sau:
Khái niệm, phân loại và đặc điểm tour du lịch.
Khái niệm năng lực cạnh tranh, các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp xác
định năng lực cạnh tranh tour du lịch của doanh nghiệp du lịch.
Ảnh hưởng của cá yếu tố môi trường đến năng lực cạnh tranh tour du lịch của
doanh nghiệp du lịch.
Các yếu tố môi trường và năng lực cạnh tranh tour du lịch trong nước của
Công ty TNHH MTV DVDL Bến Thành.
+ Về thời gian:
Các dữ liệu thứ cấp nghiên cứu, phân tích từ năm 2010 – 2012.
Các dữ liệu sơ cấp được thu thập, phân tích trong thời gian từ 1/4/2013 đến
15/08/2013.
3
Đề xuất giải pháp từ năm 2013 – 2020.
+ Về không gian: Tại Công ty Dịch vụ Du lịch Bến Thành và một số công ty
lữ hành khác.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa các luận cứ khoa học mang tính lý luận về
Tour du lịch, các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm ở doanh
nghiệp du lịch.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Phân tích thực trạng, đánh giá năng lực cạnh tranh tour du lịch trong nước
của Công ty DVDL Bến Thành những năm qua.
+ Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tour du lịch trong nước
của Công ty.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chương:

lịch khác, khách được tổ chức thành đoàn, có hướng dẫn viên chuyên nghiệp khách
ít được phục vụ theo sở thích riêng.
- Tour du lịch chỉ có hướng dẫn viên tại các điểm đến: có đặc điểm tương tự
như tour du lịch trọn gói có người tháp tùng, chỉ khác ở chỗ thay vì có hướng dẫn đi
theo cả hành trì thì chỉ có hướng dẫn viên tại điểm tham quan.
- Tour du lịch độc lập đầy đủ theo đơn đặt hàng của khách: đáp ứng chính xác
theo đơn đặt hàng của khách, mọi sở thích riêng đều được đáp ứng, giá cả trọn gói
và đắt hơn các dịch vụ cùng loại.
- Tour du lịch độc lập tối thiểu theo đơn đặt hàng của khách: bao gồm hai
dịch vụ cơ bản là vận chuyển và lưu trú, giá trọn gói gồm giá vé máy bay, buồng
khách sạn, vận chuyển đường bộ, giá trọn gói có thể thay đổi, khách đi không theo
đoàn và không có hướng dẫn viên.
Căn cứ vào mức giá có 3 loại: Tour du lịch theo mức giá trọn gói; Tour du
lịch theo mức giá cơ, Tour du lịch theo mức giá tự chọn.
Căn cứ vào mục đích của chuyến đi và loại hình du lịch: Tour du lịch theo
chuyên đề (văn hóa lịch sử, phong tục tập quán); Tour du lịch nghỉ ngơi, giải trí và
chữa bệnh; Tour du lịch công vụ MICE; Tour du lịch tàu thủy; Tour du lịch tôn giáo
tín ngưỡng; Tour du lịch sinh thái; Tour du lịch thể thao khám phá và mạo hiểm;
Tour du lịch đặc biệt.
Căn cứ vào sự có mặt của hướng dẫn viên có 2 loại: Tour du lịch có hướng
dẫn viên và không có hướng dẫn viên.
5
Căn cứ vào phạm vi du lịch có 2 loại: Tour du lịch trong nước và Tour du
lịch quốc tế.
Theo Giáo trình Tổng quan du lịch của TS.Vũ Đức Minh, Du lịch trong
nước(Internal Tourism) là chuyến đi của những cư dân trong phạm vi quốc gia của
họ. [2, Tr 84]
Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này, tôi đưa ra khái niệm tour du lịch trong
nước như sau: Tour du lịch trong nước là những chuyến đi được chuẩn bị trước,
bao gồm tham quan một hay nhiều điểm du lịch vay quay trở về nơi khởi hành của

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hoá, là điều kiện sống
còn của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực, các thành phần kinh tế.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh:
Theo Các Mác : “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa nhà tư
bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để
thu hút lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo P.Samuelson : “Cạnh tranh là sự kình địch giữa những doanh nghiệp
cạnh tranh để giành khách hàng, thị trường”.
Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh Công nghiệp của tổ chức Hợp tác &
Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng : “Cạnh tranh là khả năng của các doanh
nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Từ các định nghĩa trên, có thể tiếp cận về cạnh tranh ở những góc độ:
+ Thứ nhất, cạnh tranh là sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng.
+ Thứ hai, mục đích cuối cùng của cạnh tranh là lợi nhuận.
+ Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể.
+ Thứ tư, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác
nhau: chất lượng, giá bán sản phẩm dịch vụ, bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm.
+ Thứ năm, ngày nay cạnh tranh còn được xem là sự ganh đua mang tính hợp tác.
Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh
là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả
nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là
chiếm lĩnh thị trường, giành giật lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị
trường có lợi nhất.
- Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì Năng lực
cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị trường trên các thị trường
trong và ngoài nước, các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, công nghệ, tổng
năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và
tính khác biệt của sản phẩm, chi phí vào,…

ích tương tự (hay ưu việt hơn) cho khách hàng.
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: Đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh tour du lịch của các doanh nghiệp du lịch là một doanh nghiệp du lịch bất kỳ
cung ứng, hay trong tương lai có thể cung ứng những tour du lịch có mức độ lợi ích
tương tự (hay ưu việt hơn) cho khách du lịch.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh tour du lịch của doanh nghiệp
du lịch
Có rất nhiều các chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm nói
chung hay tour du lịch của doanh nghiệp du lịch nói riêng. Nhưng ta có thể kể tới
8
một số chỉ tiêu chính như sau:
1.2.2.1. Thị phần
Thị phần của doanh nghiệp du lịch đối với một loại tour du lịch là tỷ lệ phần
trăm giữa doanh thu (mua hoặc bán hàng) của doanh nghiệp này với tổng doanh thu
của các doanh nghiệp khác trên thị trường trong một khoảng thời gian cụ thể, nhất
định. Thị phần thể hiện vị thế, phản ánh năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, thị phần còn nói lên sức chi phối thị trường của
doanh nghiệp, nó xác định vai trò thống trị thị trường của doanh nghiệp.Thị phần
mà càng lớn chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng ưa chuộng,
năng lực cạnh tranh của sản phẩm tour du lịch đó cao, và do đó năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp cao, doanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, có triển
vọng trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp đó. Để phát triển thị phần, ngoài
giá cả, chất lượng của tour du lịch, doanh nghiệp còn phải tiến hành công tác xúc
tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấp tour kịp thời, thương hiệu và
uy tín của doanh nghiệp. Như vậy, thị phần là một tiêu chí quan trọng để đánh giá
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
+ Công thức tính thị phần của doanh nghiệp:
Ddn
Tp = (%)
Di

Lợi nhuận của doanh nghiệp du lịch được hiểu là phần vượt trội của giá bán
sản phẩm dịch vụ du lịch so với chi phí để tạo ra và cung ứng sản phẩm dịch vụ du
lịch đó. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng hoat động kinh doanh của
doanh nghiệp du lịch. Vì vậy, lợi nhuận được xem là mục tiêu cơ bản của doanh
nghiệp du lịch, là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Mức tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp du lịch biểu hiện thông qua tốc
độ tăng trưởng lợi nhuận qua các thời kỳ nhất định. Mức tăng trưởng lợi nhuận
ngày càng cao chứng tỏ tiềm lực của doanh nghiệp càng mạnh, vị thế cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường càng cao. Khi đó, năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp càng lớn bởi doanh nghiệp sẽ có điều kiện tốt hơn để mở rộng quy mô kinh
doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và làm hài hòa lợi ích các bên có liên quan.
1.2.2.3. Chất lượng tour du lịch
Khi đời sống của người dân ngày càng nâng cao hay đối với những nước có
thu nhập cao thì giá cả không phải mối quan tâm hàng đầu của họ nữa. Người tiêu
dùng quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm họ sử dụng. Vì vậy, chất lượng của
sản phẩm, dịch vụ là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu trong năng lực cạnh
tranh của sản phẩm và dịch vụ đó, mà năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ
là yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chất lượng tour du lịch được đánh giá thông qua chất lượng chương trình du
10
Doanh thu của doanh nghiệp
Doanh thu năm sau
Doanh thu của đối thủ cạnh tranh
Doanh thu năm trước
;
lịch. Chất lượng chương trình du lịch là nhận thức của khách hàng về chất lượng
dịch vụ của một hãng cụ thể nào đó dựa trên sự so sánh thành tích của hãng đó
trong việc cung cấp dịch vụ với sự mong đợi chung của khách hàng đối với tất cả
các hãng khác trong cùng ngành cung cấp dịch vụ. Cụ thể, chất lượng chương trinh

11
quan trọng bởi vì họ là những người trực tiếp giao tiếp, cung cấp dịch vụ, tạo sự thỏa
mãn cho khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ. Chính vì vậy, đội ngũ nhân viên là
yếu tố cơ bản cấu thành năng lực cạnh tranh tour du lịch của doanh nghiệp du lịch.
Có thể đánh giá năng lực quản lý và đội ngũ nhân viên thông qua các tiêu chí:
- Số lượng
- Chất lượng: chất lượng đội ngũ nhân viên là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu
tố bộ phận như: trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…
- Cơ cấu: thể hiện qua các phương diện khác nhau như cơ cấu trình độ đào
tạo, giới tính, độ tuổi …
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp du lịch cần bố trí đội ngũ
nhân viên hợp lý cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng. Trong đó, yếu tố chất lượng
được coi trọng hàng đầu. Chất lượng nhân lực càng cao thì khả năng nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch càng lớn. Vì vậy, doanh nghiệp du lịch cần
có những biện pháp gìn giữ, đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên của mình.
1.2.2.6. Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Tài chính là một nguồn lực mà các doanh nghiệp cần phải có trước tiên trong
quá trình thành lập và phát triển. Tình hình tài chính tác động trực tiếp đến kết quả
và hiệu quả kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Mọi hoạt
động đầu tư, mua sắm, dự trữ, lưu kho,… cũng như khả năng thanh toán của doanh
nghiệp ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả năng tài chính của nó.
Năng lực tài chính của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân
doanh nghiệp, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả
năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời…
đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường. Năng
lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh
hay yếu? Doanh nghiệp có đủ nguồn lực tài chính để tài trợ cho chiến lược hay không?
Doanh nghiệp có thể huy động các nguồn lực tài chính khi cần hay không? Vấn đề sử
dụng vốn của doanh nghiệp như thế nào? Có thể đánh giá năng lực tài chính của doanh
nghiệp qua việc phân tích báo cáo tài chính. Cụ thể:

Theo quy luật Pareto thường áp dụng trong nhiều lĩnh vực thì 20% khách
hàng sẽ mang lại 80% lợi nhuận cho doanh nghiệp. Các thương hiệu mạnh luôn
được nhận diện và đảm bảo bởi những người khách hàng trung thành này. Và thêm
vào đó, việc tìm kiếm một khách hàng mới sẽ tốn kém hơn rất nhiều so với việc duy
trì được khách hàng cũ. Điều này đặc biệt quan trọng trong thị trường khi mà việc
chuyển sang sử dụng các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh ngày càng dễ dàng. Đối
với một khách hàng trung thành thì công ty còn có một lợi ích rất lớn đó là những
khách hàng này sẽ giới thiệu và thuyết phục người thân và bạn bè sử dụng sản phẩm
của công ty. Ngoài ra, sự trung thành thương hiệu sẽ làm cho đối thủ cạnh tranh nản
chí trong việc tìm cách lôi kéo khách hàng mới vì chi phí mà họ bỏ ra sẽ rất lớn mà
13
hiệu quả mang lại không cao.
Có thể nhận định rằng, khách hàng trung thành là tài sản lớn nhất của một thương hiệu.
- Có thể đưa ra chính sách giá cao:
Định giá cao và người tiêu dùng sẵn sàng bỏ tiền nhiều hơn để mua một sản
phẩm có thương hiệu vì chắc chắn một điều là ngoài giá trị thực của sản phẩm họ đã
bằng lòng trả thêm tiền cho một giá trị khác nữa khi sử dụng sản phẩm đó là tài sản
cụ thể nhất mà thương hiệu có được.
- Giá trị thương hiệu còn được thể hiện qua việc mở rộng thương hiệu
Khi một nhãn hiệu thành công, được người tiêu dùng chấp nhận mang lại
những khoản lợi nhuận cực kỳ lớn cho doanh nghiệp. Khi đó các doanh nghiệp có
xu hướng tiếp tục dựa vào uy tín thương hiệu đang được khách hàng chấp nhận để
đưa ra dòng sản phẩm mới để giữ vững và phát triển vị trí của thương hệu mình
trong lòng khách hàng.
- Các giá trị thương hiệu khác như sự bảo hộ của pháp luật, mối quan hệ với
nhà phân phối
Việc bảo hộ của luật pháp để tránh hiện tượng đối thủ cạnh tranh sử dụng tên
tuổi hay kiểu dáng hoàn toàn giống sản phẩm của doanh nghiệp.
Mối quan hệ với nhà phân phối sẽ giúp cho sản phẩm chiếm được vị trí tốt
trên vị trí trưng bày. Những thương hiệu thành công luôn nhờ vào một hệ thống

du lịch về tình hình kinh doanh của ngành cũng như của các công ty du lịch.
+ Các báo cáo nghiên cứu của cơ quan, viện, trường đại học.
+ Các bài viết đăng trên báo hoặc các tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp
chí mang tính hàn lâm có liên quan.
+ Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học kiên quan đến năng lực cạnh
tranh nói chung và năng lực cạnh tranh tour du lịch nói riêng.
+ Các bài báo cáo hay luận văn của các sinh viên khác trong trường hoặc
trường khác.
+ Bản báo cáo kết quả tình hình hoạt động kinh doanh, nghiên cứu thị trường,
số lượng và chất lượng nguồn nhân lực … của công ty nghiên cứu và các công ty
cạnh tranh.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu mà ta thu thập trực tiếp tại nguồn dữ liệu và
xử lý nó để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình.
Có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp. Một số các phương pháp
thương dùng:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp phỏng vấn bằng thư
+ Phương pháp phỏng vấn bằng điện thoại
+ Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp
+ Phương pháp điều tra thông qua bảng hỏi
Dựa vào điều kiện thực tế cũng như khả năng tài chính, lựa chọn phương pháp
điều tra hợp lý để đưa ra được những dữ liệu tốt, đáp ứng được vấn đề nghiên cứu.
Bước 3: Xử lý và phân tích dữ liệu
Kết quả thu thập số liệu từ công việc nghiên cứu tài liệu, số liệu thống kê,
15
quan sat hoặc thực nghiệm tồn tại dưới hai dạng: Định tính và định lượng.
Dựa vào kết quả trên, sử dụng các phương pháp so sánh, thống kê mô tả … để
phân tích thực trạng các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh tour du lịch của
doanh nghiệp du lịch.

16
của các quốc gia khác. Thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến tính
cạnh tranh của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất trên thị trường quốc tế. Khi giá
trị của đồng tiền trong nước thấp hơn so với giá trị của các đồng tiền khác, hàng hóa
sản xuất trong nước sẽ tương đối rẻ hơn, còn hàng hóa sản xuất ngoài nước sẽ tương
đối đắt hơn.
+ Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng trưởng kinh tế chậm lại,
tỷ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường trước được.
Nếu lạm phát tăng liên tục, các hoạt động đầu tư trở thành công việc hoàn toàn may
rủi. Thực trạng của lạm phát là làm cho tương lai kinh doanh trở nên khó dự đoán
được, khi đó nó sẽ hạn chế sự hoạt động của nền kinh tế, gây nên tình trạng thất
nghiệp, và cuối cùng thì đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng.
+ Tỷ lệ lãi suất
Tỷ lệ lãi suất có thể tác động đến mức cầu đối với sản phẩm của doanh
nghiệp. Tỷ lệ lãi suất rất quan trọng khi người tiêu dừng thường xuyên vay tiền để
thanh toán các khoản mua bán hàng hóa của mình. Tỷ lệ lãi suất còn quyết định
mức chi phí về vốn và do đó quyết định mức đầu tư. Chi phí này là nhân tố chủ yếu
khi quyết định tính khả thi của chiến lược.
• Yếu tố Chính trị - Pháp luật
Yếu tố chính trị tuy là gián tiếp nhưng nó chi phối tổng thể và toàn diện đến
kinh doanh du lịch. Chẳng hạn như sự ổn định chính trị của một quốc gia là cơ hội
thuận lợi để đảm bảo an toàn cho du khách, đặc biệt là khách nước ngoài. Yếu tố
chính trị thông thường ảnh hưởng qua các đường lối chính sách phát triển kinh tế
chung, trong đó có du lịch.
Hệ thống pháp luật cũng có tác động lớn đến mức độ thuận lợi và khó khăn của
môi trường kinh doanh trong doanh nghiệp. Nếu như hệ thống luật pháp là đồng bộ
và ổn định cộng với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp thì nó sẽ tạo ra một khuôn
khổ pháp lý để đảm bảo quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động phải tuân theo các quy định của chính phủ về

sắc đến môi trường kinh doanh. Trình độ văn hóa, thói quen, sở thích tiêu dùng của
mỗi vùng, mỗi người là khác nhau vì vậy doanh nghiệp du lịch cần phải nghiên cứu
kỹ tập quán sinh hoạt, thói quen tiêu dùng của các vùng miền để đáp ứng tốt nhất
nhu cầu của khách hàng tại các vùng miền đó. Trong bối cảnh xã hội ngày càng
phát triển như hiện nay thì nhu cầu của người dân tăng cao, đòi hỏi các doanh
nghiệp du lịch phải nghiên cứu cho ra những tour du lịch có nét nổi bật, độc đáo
hơn để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người dân và đặc biệt hơn là tạo ra sự
khác biệt về tour du lịch so với các đối thủ cạnh tranh.
+ Nhóm thứ hai: Bao gồm các di tích lịch sử, văn hóa như những làng nghề
18
truyền thống, những lễ hội dân gian Những nhân tố này chiếm giữ một vai trò
ngày càng cao trong phát triển hoạt động kinh doanh du lịch
1.3.1.2. Yếu tố thuộc môi trường ngành
Đây là nhân tố thường xuyên cọ sát đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Có năm sức ép cơ bản đối với các doanh nghiệp du lịch sau:
• Khách hàng
Khách hàng là những người mua hàng hóa hay dịch vụ của công ty lữ hành,
khách hàng thực hiện việc trao đổi, họ trả tiền cho doanh nghiệp du lịch để lấy hàng
hóa hay dịch vụ. Do vậy, khách hàng chính là thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp
du lịch. Qua thị trường khách hàng mà doanh nghiệp du lịch có thể đạt được những
mục tiêu của mình là doanh thu va lợi nhuận. Tuy nhiên mối quan hệ tốt đẹp này chỉ
có thể tồn tại và phát triển khi và chỉ khi đảm bảo lợi ích kinh tế và sự thỏa mãn cho
cả hai bên doanh nghiệp du lịch và khách hàng.
Khách hàng có thể có nhiều loại, một cá nhân hay tổ chức, khách hàng tiềm
năng hiện thực hay truyền thống. Tùy thuộc vào khách hàng khách nhau mà doanh
nghiệp du lịch có các hành vi ứng xử cũng như có các phương thức mua bán thích
hợp. Phân tích một cách tổng quát ta thấy trên thị trường có “hai dòng” khách hàng
và doanh nghiệp tìm nhau. Đối với doanh nghiệp du lịch thì phải tìm và xác định
khách hàng cho mình một cách đầy đủ và toàn diện yêu cầu đòi hỏi về quy mô, cơ
cấu, nhu cầu du khách, các nhân tố tác động đến sự thay đổi cầu du lịch đặc biệt là

Như vậy, công việc của doanh nghiệp du lịch là làm sao phải hạn chế bớt sức
ép của nhà cung cấp đối với mình. Muốn vậy mỗi doanh nghiệp du lịch không nên
chỉ có một nhà cung cấp mà cần có nhiều nhà cung cấp khác nhau. Tuy nhiên, nhà
cung cấp trong du lịch bao gồm rất nhiều bộ phận hữu quan như: Các công ty vận
tải đường không, đường bộ, đường sắt, đường thủy; Các công ty gửi khách; Các đầu
mối cung ứng sản phẩm như: Khách sạn, nhà hàng… mà mỗi nhà cung cấp lại có
ảnh hưởng khác nhau đến doanh nghiệp du lịch. Tùy thuộc vào hoàn cảnh và điệu
kiền cụ thể của mình mà các doanh nghiệp du lịch có thể lựa chọn các đơn vị phù
hợp với điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của mình cũng như đưa ra các
tác động ép buộc hoặc khuyến khích nhằm hạn chế sức ép của các nhà cung cấp đối
với các doanh nghiệp du lịch.
• Áp lực cạnh tranh từ đối thủ cạnh tranh:
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp tồn tại dưới hai dạng đó là đối thủ cạnh
tranh hiện tai và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Đối thủ cạnh tranh hiện tại là đối thủ
mà hằng ngày doanh nghiệp phải đương đầu trực tiếp với nó, đó là những đối thủ
trực tiếp trong ngành.
Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện không ở trong ngành nhưng có khả
năng nhảy vào hoạt động kinh doanh trong ngành đó. Tác động của các doanh
nghiệp này đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến đâu hoàn toàn phụ
20
thuộc vào sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp đó như công nghệ chế tạo,
quy mô…. Sự xuất hiện của các đối thủ mới này có thể là yếu tố làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp hay còn làm thay đổi bức tranh cạnh tranh ngành. Dù thay đổi cục
diện cạnh tranh kiểu nào thì sự xuất hiện của các đối thủ tiềm ẩn cũng làm gia tăng
mức cạnh tranh của ngành. Do đó, các doanh nghiệp đang hoạt động tìm mọi cách
để hạn chế các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh vực kinh doanh của họ.
Theo M. Porter, những nhân tố tác động đến quá trình tham gia thị trường
của các đối thủ mới đó là: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh tế của
quy mô, bất lợi về chi phí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hóa sản phẩm, yêu
cầu về vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận các cách phân phối,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status