LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Lê Thị Bích Vân
Mã số học viên : 128.440.301.020
Lớp : 20MT
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Mã số : 60 – 85 - 02
Khóa học : K20 (2011 – 2014)
Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của T.S Vũ Đức Toàn với đề tài nghiên cứu trong luận văn
“Đánh giá ô nhiễm môi trường, sức khoẻ cộng đồng tại làng nghề tái
chế nhôm Bình Yên – Nam Thanh – Nam Trực – Nam Định và đề xuất
các biện pháp giảm thiểu”.
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn
nào trước đây, do đó không có sự sao chép của bất kì luận văn nào. Nội
dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định, các nguồn tài liệu, tư
liệu nghiên cứu và sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn.
Nếu xảy ra vấn đề gì với nôi dung luận văn này, tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm theo quy định./.
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Lê Thị Bích Vân LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài những cố gắng
của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô, bạn
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC HÌNH 8
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ
SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ 4
1.1. Đánh giá chung về làng nghề tái chế Việt Nam 4
1.2. Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam 8
1.3. Phương pháp đánh giá sức khoẻ cộng đồng 9
1.3.1. Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán gánh nặng bệnh tật 9
1.3.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán tổn thất kinh tế 12
1.3.3. Bộ công cụ phân tích xử lý số liệu [23] 15
1.4. Giới thiệu về làng nghề Bình Yên 21
1.4.1. Điều kiện tự nhiên 21
1.4.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 24
1.4.3. Hiện trạng phát triển các ngành nghề và các lĩnh vực 26
1.4.4. Định hướng phát triển kinh tế xã hội 27
1.4.5. Nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất và quy trình tái chế nhôm tại làng
nghề tái chế nhôm Bình Yên. 28
1.4.6. Các tác động đến môi trường kinh tế - xã hội tại làng nghề tái chế
nhôm Bình Yên 35
1.5. Tình hình quản lý, bảo vệ môi trường và các vấn đề tồn tại của làng
nghề Bình Yên 37
1.5.1. Sự bất cập từ bộ máy quản lý môi trường 37
1.5.2. Sự bất cập từ người dân 38
1.5.3. Những vấn đề còn tồn tại 38
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG, SỨC KHỎE
CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BÌNH YÊN 41
2.1. Đánh giá chất lượng môi trường tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên 41
2.1.1. Chất lượng môi trường không khí 41
2.1.2. Chất lượng môi trường nước 48
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
BOD
Oxy hoá sinh học
COD
Oxy hoá hoá học
DS
Dân số
DW
Trọng số bệnh tật
DALY
Số năm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật
Đ
Đất
EBD
Gánh nặng bệnh tật
GBD
gánh nặng bệnh tật toàn cầu
GDP
Tổng thu nhập quốc dân
HGD
Hộ gia đình
HIA
Đánh giá tác động sức khoẻ
IF/AF
Tỷ phần quy thuộc cho môi trường
KK
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Số liệu đầu vào tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế
được thu thập qua mẫu phiếu điều tra 300 hộ gia đình (1.673 người) tại
làng nghề Bình Yên 18
Bảng 1.2: Khối lượng nguyên liệu sản xuất bình quân hàng tháng.[2] 29
Bảng 1.3: Khối lượng hóa chất sử dụng bình quân hàng tháng[2] 31
Bảng 2.1: Vị trí lấy mẫu môi trường không khí tại làng nghề Bình Yên 45
Bảng 2.2: Kết quả phân tích mẫu khí môi trường xung quanh 46
Bảng 2.3: Vị trí lấy mẫu nước thải tại làng nghề Bình Yên 50
Bảng 2.4: Kết quả phân tích mẫu nước thải 51
Bảng 2.5: Vị trí lấy mẫu nước mặt tại làng nghề Bình Yên 54
Bảng 2.6. Kết quả phân tích mẫu nước mặt 55
Bảng 2.7: Vị trí lấy mẫu nước ngầm tại làng nghề Bình Yên 57
Bảng 2.8: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 59
Bảng 2.9: Vị trí lấy mẫu đất tại làng nghề Bình Yên 61
Bảng 2.10: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm 62
Bảng 2.11. Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt hàng ngày của các hộ
gia đình (điều tra 300 HGĐ) 64
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế theo WHO 14
Hình 1.2. Mô hình cơ bản của bệnh sử dụng trong DISMOD2 [18] 17
Hình 1.3: Bản đồ vị trí địa lý làng nghề Bình Yên 22
Hình 1.4: Tỷ lệ các hộ gia đình tham gia sản xuất công nghiệp 27
Hình 1.5: Cơ cấu định hướng phát triển của xã Nam Thanh 2010 - 2015 28
Hình 1.6: Đồ nhôm phế liệu làm nguyên liệu tái chế 29
Hình 1.7: Nhiên liệu sản xuất chủ yếu than đá 30
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện có hơn 1.500 làng nghề sản xuất các loại sản phẩm
khác nhau, sử dụng tới 30% lực lượng lao động nông thôn. Các làng nghề
tập trung chủ yếu ở vùng đông dân cư, đồng bằng, gần đô thị và dọc các
sông. Phần lớn các làng nghề đều có qui mô sản xuất nhỏ áp dụng công
nghệ sản xuất lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, hiệu suất sử dụng
chỉ đạt 60-90% và thường gây các nguồn ô nhiễm lớn tác hại tới sức khỏe
cộng đồng. Tại các làng nghề, tỷ lệ dân mắc bệnh thông thường và hiểm
nghèo do ô nhiễm môi trường cao gấp 2-3 lần các làng, xã thuần nông [3].
Hầu hết môi trường sản xuất trong các làng nghề đều không đạt tiêu
chuẩn, người lao động tiếp xúc trực tiếp với môi trường không an toàn
như: 95% người lao động tiếp xúc với bụi, 85,9 % tiếp xúc với nhiệt,
59,6% tiếp xúc với hóa chất [1]. Sự ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực
tiếp tới sức khoẻ đời sống của con người. Do môi trường không khí, nước
ngầm và nước mặt, đất đều bị ô nhiễm nên số người dân tại các làng nghề
bị mắc các bệnh đường hô hấp, đau mắt, bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa
là rất cao. Ngoài ra còn có một số bệnh mang tính nghề nghiệp như bệnh
bụi phổi, ung thư, thần kinh, đau lưng, đau cột sống [10]
Trên cả nước, Nam Định là một trong những tỉnh có hoạt động sản
xuất làng nghề khá phát triển và góp phần giải quyết vấn đề việc làm, thu
nhập cho người lao động cũng như sản xuất nhiều mặt hàng tiêu dùng cần
thiết cho xã hội. Theo số liệu thống kê, Nam Định là tỉnh có 85% dân số ở
nông thôn, có gần 90 làng nghề lớn nhỏ cơ cấu theo 7 nhóm: Dệt, tơ tằm;
Mây tre đan; Đồ mỹ nghệ sơn mài; Chế biến thực phẩm; Làm muối; Cơ
khí nhúng mạ và nhóm các nghề khác [12].
2
Làng nghề Bình Yên thuộc xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh
Các kết quả điều tra nghiên cứu hiện có về hiện trạng môi trường
các làng nghề tái chế và sản xuất nhôm, các nghiên cứu khoa học của các
Dự án, các chương trình đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Điều tra xã hội học bằng bộ công cụ mẫu phiếu câu hỏi phỏng vấn.
2) Phương pháp lấy mẫu, phân tích mẫu: Nhằm đánh giá được mức
độ ô nhiễm các thông số trong các thành phần môi trường tại làng nghề.
Trên cơ sở đó, đưa ra kiến nghị và đề xuất, các biện pháp khắc phục.
3) Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong
quá trình làm đề tài.
4) Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Dùng các phần mềm tính
toán, xử lý các số liệu thu thập tại khu vực điều tra.
5) Phương pháp ma trận môi trường
6) Phương pháp Đánh giá tác động sức khỏe (Health impact
assessment - HIA): HIA là một qui trình nhằm tiên lượng các ảnh hưởng về
chính sách trên sức khỏe, phúc lợi (wellbeing) và trên những bất công bằng
về sức khỏe. HIA được áp dụng trong chính sách và rất có hiệu quả khi
triển khai ứng dụng sớm trong quá trình phát triển xây dựng chính sách
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ VÀ ĐÁNH
GIÁ SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG TẠI LÀNG NGHỀ
1.1. Đánh giá chung về làng nghề tái chế Việt Nam
Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề Việt Nam trong những
năm gần đây có ý nghĩa tích cực về kinh tế- xã hội, đặc biệt trong tiến trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện nay, trên toàn quốc có
khoảng gần 1.500 làng nghề đang hoạt động với trên 100 nghề khác nhau,
trong đó có khoảng trên 300 làng nghề truyền thống. Dựa vào sản phẩm và
truyền miệng mà không được tư vấn, hướng dẫn của các nhà chuyên môn,
nên đã gây ra nhiều sự cố về chất lượng sản phẩm và môi trường.
Cùng với sự phát triển về quy mô, các vấn đề môi trường ở các làng
nghề đang là mối lo ngại cho toàn xã hội. Hiện nay, hướng giải quyết
những vấn đề môi trường trong các làng nghề đang gặp nhiều vướng mắc
lớn. Các biện pháp tăng cường quản lý, kiểm soát chỉ đạt hiệu quả ở mức
độ rất thấp, do các cơ sở sản xuất chỉ dùng các biện pháp tiêu cực (như nộp
tiền phạt hoặc tạm thời ngừng phát thải vào thời điểm kiểm tra…) để đối
phó với công luận và sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Ngay cả ở
những làng nghề đã được cấp đất để di chuyển khu vực sản xuất ra khỏi
khu vực dân cư (như làng gốm Bát Tràng, sắt Đa Hội…) thì hiệu quả về
môi trường cũng chưa cao, vì nhiều cơ sở sản xuất có nhu cầu di chuyển
đến khu mới quy hoạch vì muốn mở thêm diện tích sản xuất. Điều này
đồng nghĩa với sự gia tăng mức độ ô nhiễm. Các công nghệ và thiết bị bảo
vệ môi trường chưa có trong các dây chuyền sản xuất. Một vài nơi thử áp
dụng một số biện pháp xử lý chất thải, nhưng hiệu quả chưa cao, do điều
kiện cơ sở hạ tầng của các làng nghề quá thấp kém và chi phí xử lý quá
cao. Điều quan trọng hơn nữa là hầu hết các chủ sản xuất chưa sẵn sàng tự
6
giác trong việc bảo vệ môi trường. Sản xuất thủ công là nguyên nhân làm
tăng mức độ tác động tới môi trường.
Ở nhiều nơi, tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới mức nghiêm trọng:
Môi trường vật lý, môi trường sinh thái- cảnh quan bị suy thoái nặng nề.
Các khu vực dân cư, làng xã vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất với các
nhà xưởng tạm bợ, nguyên vật liệu và các loại chất thải đổ bừa bãi, các nhà
ở mới, cũ và nhà xưởng chen nhau tạo nên một quang cảnh hỗn loạn và ô
nhiễm; nhiều diện tích mặt nước, sông, kênh mương, đất canh tác, đất dự
phòng… đang bị các loại chất thải lấn dần và làm ô nhiễm…
Tình trạng phát thải bừa bãi với khối lượng lớn và thường xuyên đã
toàn chịu sự chi phối bởi các yếu tố thị trường, nguồn nguyên, vật liệu.
Thêm vào đó, những hạn chế về trình độ quản lý, trình độ lao động, dân trí,
khả năng đầu tư, điều kiện cạnh tranh trên thị trường… đã làm tăng mức
độ rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, lãng phí vật tư, nguyên liệu, tài
nguyên khoáng sản và ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi, nhiều lúc, tác động
tới môi trường đã đến mức báo động, thậm chí gây nguy hại đến người, gia
súc, suy giảm hệ sinh thái khu vực như các vụ nổ lò nấu kim loại, nhiễm
độc kim loại nặng, khí và hoá chất độc, tình trạng ô nhiễm hoàn toàn các
nguồn nước trong khu vực… do thiếu trách nhiệm và kiến thức nghề
nghiệp… Bên cạnh đó, những hạn chế trong cơ chế quản lý, ý thức và
trách nhiệm của cộng đồng cũng là một trong những nguyên nhân chính
cản trở việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường cũng
như việc bảo đảm quyền lợi, sức khoẻ và tính mạng người lao động.
Rõ ràng, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là yêu cầu cấp
bách hiện nay và rất cần có những biện pháp quản lý và xử lý thích hợp.
8
1.2. Hiện trạng sức khỏe cộng đồng tại các làng nghề Việt Nam
1.2.1. Lao động và các vấn đề về bệnh nghề nghiệp liên quan đến làng
nghề
Từ lâu, vấn đề về an toàn lao động trong các làng nghề được nhắc đến
nhiều, song tình trạng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp vẫn không giảm
đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều chủ cơ sở sản xuất không quan
tâm đến việc trang bị phương tiện bảo hộ cho người lao động. Thậm chí,
chính bản thân người lao động còn thờ ơ với việc tự bảo vệ mình.
Một số liệu thống kê của các tổ chức chuyên ngành cho biết, hơn 90%
người lao động nông nghiệp và làng nghề tiếp xúc các yếu tố nhiệt, bụi là
65,89%, tiếng ồn: 48,8%, hóa chất: 59,5% Đối với tai nạn lao động và
bệnh tật thì những nguy cơ gây bỏng, đứt tay chân, điện giật, bệnh hô hấp,
bệnh ngoài da, tiêu hóa, phụ khoa luôn chiếm tỷ lệ cao. Cụ thể, hơn 50%
tại các làng nghề bị mắc bệnh liên quan đến nghề nghiệp, trong đó chủ yếu
là các bệnh về đường hô hấp (32,6%), bệnh về mắt (29,7%), bệnh điếc
tiếng ồn (11,3%), bệnh tim mạch (18%) [3]
1.3. Phương pháp đánh giá sức khoẻ cộng đồng
1.3.1. Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán gánh nặng bệnh tật
Để đo lường gánh nặng bệnh tật của một cộng đồng, ta sử dụng phép
đo lường do Tổ chức Y tế thế giới và Ngân hàng Thế giới lại đề xuất bao
gồm tính “số năm sống mất đi vì chết non “(YLL) và “số năm chung
sống với bệnh tật “(YLD) hay tạm dịch là số năm sống mất đi vì mang
bệnh hoặc bị chấn thương, và thường dùng nhất là phép tính DALY (số
năm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật) là phép cộng của YLL và
YLD.[21]
a. Các phép đo lường gánh nặng bệnh tật qua tính DALY, YLL
và YLD [21]
- Tính số năm sống mất đi vì chết non (YLL)
10
Số năm sống mất đi vì chết non tính bằng hiệu số giữa kỳ vọng sống
khi sinh và tuổi lúc chết. Trong tính toán, kì vọng sống được lấy theo tuổi
thọ trung bình cao nhất của người Việt Nam, nữ giới là 81 và nam giới là
71 tuổi Khi tính số năm mất đi vì chết non cho một cộng đồng, người ta
dựa vào kỳ vọng sống khi sinh trung bình cho từng nhóm tuổi và theo hai
giới (trong nghiên cứu này chia theo 8 nhóm tuổi: 0-4, 5-14, 15-29, 30-44,
45-59, 60-69, 70-79, 80
+
) và áp dụng công thức sau:
1
YLL = (1 - e
-0,03L
) x số chết của từng khoảng
+ EBD theo các bệnh liên quan đến yếu tố nước sạch và vệ sinh môi
trường.
- Công thức tính EBD:
EBD = GÁNH NẶNG QUY THUỘC
1
= Gánh nặng bệnh tật x Tỷ
phần tác động
1
Hay gọi đầy đủ là: Gánh nặng bệnh tật quy thuộc theo nguy cơ
Trong đó:
- Gánh nặng bệnh tật là chỉ số DALY theo các nhóm tuổi và giới
- Tỷ phần tác động hoặc tỷ phần quy thuộc: IF (Impact Fraction-tỷ
phần tác động) hoặc AF (Attribute Fraction-tỷ phần quy thuộc) là tỷ lệ
giảm đi các vấn đề sức khỏe hoặc tử vong do việc giảm yếu tố nguy cơ môi
trường. Nói cách khác nó là tỷ lệ của vấn đề sức khỏe hoặc tử vong trong
cộng đồng do yếu tố nguy cơ môi trường đó gây ra [18].
Trong nghiên cứu trên, luận văn sử dụng các tính toán về tỷ phần tác
động/tỷ phần quy thuộc sẵn có đã được tính toán bởi Tổ chức Y tế thế giới
12
năm 2004 cho các nước đang phát triển, các nước tại khu vực Đông Nam Á
áp dụng vào tính toán gánh nặng bệnh tật do môi trường theo 02 yếu tố là:
yếu tố ô nhiễm không khí và yếu tố nước sạch vệ sinh môi trường. (phụ lục
1)
1.3.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận tính toán tổn thất kinh tế
* Nguồn dữ liệu:
DS: dân số
GDP theo đầu người
* Tổn thất kinh tế trong thời gian mắc các bệnh i trong nhóm tuổi
(tính trên 1000 dân):
TT
i
=(CB
i
+NN
i
+LĐ
i
)*
i
β
*
i
α
*1000 + DALYs
i
Chi phí chữa bệnh:
i
α
: tỉ lệ mắc bệnh i
i
β
: tỉ lệ mắc bệnh i do yếu tố rủi ro từ môi trường
CB
14
Hình 1.1: Sơ đồ tính toán gánh nặng bệnh tật và tổn thất kinh tế theo WHO
15
1.3.3. Bộ công cụ phân tích xử lý số liệu [23]
1.3.3.1. Xây dựng bộ công cụ phỏng vấn, điều tra thu thập phông tin
Bộ công cụ phỏng vấn điều tra được xây dựng dựa trên các nhà nghiên
cứu về sức khỏe cộng đồng, dịch tế học, khoa học môi trường, kỹ thuật môi
trường, công nghệ sinh học, đã lập ra bộ phiếu điều tra trực tiếp các hộ dân
sống xung quanh khu vực ô nhiễm, đánh giá về tình hình sức khỏe người lao
động làm việc, người dân sống xung quanh khu vực ô nhiễm và chịu ảnh
hưởng của các yếu tố rủi ro từ ô nhiễm môi trường.
- Cấu trúc: bộ câu hỏi hỏng vấn được chi làm 03 nhóm vấn đề chính:
1. Nhóm thông tin chung: các thành viên trong hộ gia đình
2. Nhóm thông tin về bệnh tật: các loại bệnh do yếu tố nguy cơ mắc từ
môi trường, tỷ lệ tử vong, thời gian mắc, chi phí khám chữa bệnh, thời gian
nghỉ lao động.
3. Nhóm thông tin về môi trường tại khu vực làng nghề.
- Lựa chọn cỡ mẫu điều tra phỏng vấn:
Giả thiết tỷ lệ mắc bệnh trong dân cư tại địa điểm nghiên cứu là p = 0,5 để có
cơ mẫu nghiên cứu lớn nhất) số lượng cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo
công thức sau:
Trong đó:
- p: Tỷ lệ mắc bệnh liên quan với môi trường làng nghề
- e : là sai số ước lượng = 0,05
việc trong lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội
học, khoa học chính trị, và dịch tễ học. Phần mềm được viết bằng C, có thể
chạy trên Windows, Mac OS X, Unix, Linux.
Stata cho phép:
* Quản lí dữ liệu
* Phân tích thống kê