PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
I. Lịch nghiên cứu vấn đề
1.Trên thế giới ………………………………………………………….2
2. Ở Việt Nam………………………………………………………......3
II. Cơ sở khoa học
1. Cơ sở triểt học……………………………………………………......3
2. Cơ sở tâm lí học …………………………………………………......3
3. Cơ sở giáo dục……………………………………………………......3
III. Định nghĩa, bản chất và nguyên tắc của PPDH nêu vấn đề
1. Định nghĩa…………………………………………………………….4
2. Bản chất……………………………………………………………….5
3. Nguyên tắc…………………………………………………………….5
IV. Các khái niệm cơ bản về dạy học nêu vấn đề
1. Vấn đề………………………………………………………………....6
2. Tình huống có vấn đề………………………………………………….6
V.Cấu trúc dạy học nêu vấn đề
1. Nêu vấn đề…………………………………………………………….9
2. Giải quyết vấn đề………………………………………………….......10
3. Vận dụng ……………………………………………………………..12
VI. Ưu, nhược điểm của phương pháp…………………………………13
VII. Các phương pháp trong dạy học nêu vấn đề
1. Phương pháp diễn giảng………………………………………….......14
2. Phương pháp đàm thoại………………………………………………15
3. Phương pháp quan sát nêu vấn đề……………………………………16
VIII. Sự vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng dạy môn Anh Văn
1. Thực trạng dạy học ở Việt Nam hiện nay……………………………. 17
2. Đổi mới phương pháp dạy và học – thực trạng và giải pháp…………17
3. Sự vận dụng phương pháp nêu vấn đề
trong việc giảng dạy môn Anh Văn……………………………………25
NHÓM 5-061E9
2
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
2. Ở Việt Nam
Người đầu tiên đưa phương pháp này vào VN là dịch giả Phan Tất Đắc “DH
NVĐ”(Lecne)(1977).Về sau, nhiều nhà khoa học nghiên cứu PP này như Lê Khánh Bằng,
Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim,….Tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu chỉ nghiên cứu
cho phổ thông và đại học.
Gần đây, Nguyễn Kì đã đưa PP PH & GQVĐ vào nhà trường tiểu học và thực nghiệm ở một
số môn như Toán, TN – XH, Đạo đức.
PP PH & GQVĐ thật sự là một PP tích cực. Trong công cuộc đổi mới PP DH, PP này là một
trong những phương pháp chủ đạo được sử dụng trong nhà trường nói chung.
II .CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở triết học
Theo triết học DVBC, mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Trong
quá trình học tập của HS luôn luôn xuất hiện mâu thuẫn đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu,
nhiệm vụ nhận thức với tri thức, kinh nghiệm sẵn có của bản thân. PP DH PH & GQVĐ là
một PP dạy học mà ở đó GV tạo ra cho học sinh những tình huống có vấn đề (tạo mâu
thuẫn).
PP này đã vận dụng một khái niệm về mâu thuẫn làm cơ sở khoa học cho mình.
2. Cơ sở tâm lí học
Theo các nhà tâm lí học thì con người chỉ tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư
duy, tức là đứng trước một khó khăn trong nhận thức, một tình huống có vấn đề.
Theo tâm lí học kiến tạo thì học tập là quá trình mà người học xây dựng những tri thức cho
nình bằng cách liên hệ những cảm nghiệm mới với những tri thức sẵn có.
PP DH PH & GQVĐ phù hợp với quan điểm này.
3 . Cơ sở giáo dục
PP DH PH & GQVĐ dựa trên nguyên tắc tính tích cực, tự giác, độc lập nhận thức của
người học trong giáo dục bởi vì nó khêu gợi được động cơ học tập của học sinh.
NHÓM 5-061E9
3
Học sinh tích cực, chủ động, tự giác tham gia hoạt động học, tự mình tìm ra tri thức
cần học chứ không phải được thầy giảng một cách thụ động, học sinh là chủ thể sáng tạo ra
hoạt động học.
Học sinh không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường và
cách thức tiến hành dẫn đến kết quả đó. Học sinh được học cách phát hiện và giải quyết vấn
đề.
3. Nguyên tắc của phương pháp:
Dựa trên 3 nguyên tắc chính:
• đạt được kiến thức và sự hiểu biết sâu sắc mà nó cần sử dụng cho nghề nghiệp trong
tương lai
• tự học trực tiếp
• phát triển các kỹ năng phân tích vấn đề và giải quyết vấn đề.
4. Đặc điểm của phương pháp:
• Đặt câu hỏi, “các vấn đề cần học ,”cần phải biết cái gì để mà đi vào đúng tâm điểm
của vấn đề
• Xếp thứ tự các vấn đề học theo mức độ quan trọng và quyết định ai sẽ nghiên cứu .
(rank the learning issues in terms of importance and decide who will investigate
which issue)
• Định dạng nguồn lực cần thiết và phải tìm nó ở đâu
• Thông tin cần thiết phải thu thập thông qua cá nhân và sự điều tra của nhóm (gather
needed information through individual and group investigation)
• Tập hợp để hợp nhát nguồn thông tin reconvene to integrate information
• Đặt ra và đánh giá các giả pháp hợp lý (generate and evaluate possible solutions
• Ra quyết định cần thiết (make needed decisions or take agreed upon actions
• Truyền thông các kết quả như là một sự thích hợp để giả quyết vấn đề communicate
results as appropriate for problem resolution
• Rút ra các trải nghiệm trên cơ sở thực hiện báo cáo giải quyết vấn đề
NHÓM 5-061E9
5
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
Như vậy, vấn đề là một câu hỏi cuả chủ thể nhận thức nảy sinh trong tình huống vốn
hiểu biết cuả bản thân chưa đủ để giải thích, nhận thức các hiện tượng, sự vật khách quan.
2.2 Một tình huống được gọi là có vấn đề thì phải thoả mãn 3 điều kiện sau:
• Tồn tại một vấn đề
• Gợi nhu cầu nhận thức
• Gợi niềm tin vào khả năng của bản than
Hay nói cách khác tình huống có vấn đề là tình huống mà ở đó xuất hiện một vấn đề
như đã nói ở trên và vấn đề này vừa quen, vừa lạ đối với người học.
Quen vì có chứa đựng những kiến thức có liên quan mà HS đã được học trước đó.
Lạ vì mặc dù trông quen nhưng ngay tại thời điểm đó người học chưa thể giải
được.
Ví dụ: Chia động từ ở thì tương lai ( lớp 10)
Ta xét xem đây có phải tình huống có vấn đề hay không:
• Tồn tại một vấn đề: dạng và cách đùng vẫn còn là một bí mật
đối với học sinh.
• Gợi nhu cầu tri thức: học sinh cần biết cách chia động từ ở thì
tương lai để có thể giao tiếp hay viết tiếng anh một cách thành thạo.
• Gợi niềm tin vào bản thân: tuy chua biết cach tinh một cách cụ
thể nhưng học sinh đã học cách chia động từ ở một số thì ở các lớp học trước nên học
sinh có thể liên tưởng và có thể hình thành trong đầu cách chia cũng như cách dùng.
NHÓM 5-061E9
7
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
2.3 Tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học:
HS trong quá trình nhận thức vốn tri thức chung cuả nhân loại, đã vấp phải tình huống
giữa vốn hiểu biết cuả bản thân với nội dung một khái niệm, qui luật mới nào đó thì sẽ xuất
hiện vấn đề đó là vấn đề học tập.
Vấn đề có tính chủ quan cuả chủ thể nhận thức, bao hàm nhu cầu hiểu biết đối tượng
mới vượt qua khỏi giới hạn vốn tri thức đã có ở bản thân (mâu thuẫn chủ quan=MTCQ ).
Như vậy, trong cùng một tình huống thì có thể nảy sinh vấn đề ở chủ thể nhận thức này mà
2.Giải quyết vấn đề
2.1 Hình thành giả thuyết:
- Ðể giải quyết vấn đề cần nêu ra một giả thuyết, đó chính là định hướng cho các hoạt
động quan sát, thí nghiệm để chứng minh vấn đề mới.
- Các giả thuyết đó chính là các ý tưởng có cơ sở khoa học, dựa vốn tri thức đã biết
để hình thành các phán đoán, suy luận lý giải cho vấn đề mới.
Ðối với HS, giả thuyết là kết quả quá trình tư duy sáng tạo khi nhận thức vấn đề mới
và tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học đặc thù của bộ môn. Tính khoa học chính
xác của giả thuyết phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể nhận thức, vì vậy trong cùng một vấn đề
HS có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau .
- Hình thành một giả thuyết cần lưu ý:
* Các giả thuyết phải được hình thành qua suy nghĩ, phát triển từ cái đã biết có liên
quan đến vấn đề mới. Vì vậy nội dung các giả thuyết không được mâu thuẫn với tri thức đã
có của chủ thể.
* Các giả thuyết có thể hiện định hướng cho các hoạt động giải quyết vấn đề :
NHÓM 5-061E9
10
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
Trong dạy học nêu vấn đề HS có thể đưa ra các giả thuyết khác nhau về cùng một
vấn đề, GV cần lựa chọn và tập trung sự trao đổi thảo luận của HS vào một vài giả thuyết
điển hình.
- Khi hình thành giả thuyết tùy theo đối tượng HS, GV có thể sử dụng các phương
pháp như : GV phân tích cơ sở khoa học và đề xuất những ý tưởng trong giả thuyết à GV
và HS, cùng xây dựng giả thuyết bằng phương pháp đàm thoại gợi mở à HS độc lập tìm ra
giả thuyết, đó là kết quả tư duy sáng tạo của chủ thể.
2.2 Chứng minh giả thuyết:
Chứng minh giả thuyết là khâu vạch kế hoạch các bước hoạt động cuả GV và HS
theo định hướng giải quyết vấn đề đã được nêu trong giả thuyết.Tiến trình giải quyết vấn đề
phụ thuộc vào kỹ năng, kinh nghiệm suy đoán của HS và hình thành cao dần qua kiểu dạy
học nêu vấn đề.