TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
!"#$%&&'(
Với số dân lên đến gần 90 triệu dân, đời sống liên tục tăng nên nhu cầu
về sử dụng rau củ quả hàng ngày của người dân Việt Nam cũng nâng cao và
dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm nay. Hiện Việt Nam vẫn nhập khẩu nhiều
nhất từ thị trường Trung Quốc do lợi thế về địa lý, chủng loại phong phú và
giá rẻ. Tình trạng rau, quả Trung Quốc tràn ngập thị trường không chỉ làm
hạn chế sức tiêu thụ nông sản Việt Nam, ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của
nông dân mà còn là mối lo ngại của người tiêu dùng về mức độ an toàn. Theo
thống kê của Tổng cục Hải quan, 5 tháng đầu năm nay, kim ngạch nhập khẩu
rau quả từ Trung Quốc khoảng 52,25 triệu USD, chiếm 45,3% tổng kim
ngạch nhập khẩu rau quả.
Thực tế, mặc dù Việt Nam là nước có thế mạnh về nông sản nhưng từ củ
hành, tỏi đến cà chua, khoai tây đều nhập từ Trung Quốc. Nhiều chuyên gia
cho rằng thực chất đây là cái bẫy của thương mại tự do khiến chúng ta dễ trở
thành bãi phế thải các loại hàng hóa phẩm chất xấu của Trung Quốc. Xây
dựng một hàng rào kỹ thuật thương mại nghiêm ngặt là việc chúng ta cần phải
làm ngay, không thể chậm trễ.
Vì vậy em lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhập khẩu rau củ quả
từ Trung Quốc vào Việt Nam” để tìm hiểu và phân tích một mặt hàng không
chỉ được nhà nước mà cả xã hội quan tâm.
Em xin chân thành cám ơn sự tận tình hướng dẫn của thầy giáo đã giúp
em hoàn thành đề án này. Do sự hiểu biết của em còn hạn chế nên bài viết
không tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong thầy cô xem xét để bài viết hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn!
Đề tài: “)"*+, / 0123 *34"54
!"#$%&&'(
2
- Tiểu ngạch khác: đó là các lái buôn lấy hàng ở cửa khẩu Trung Quốc
rồi vào Việt Nam qua các cửa khẩu như Tân Thanh, Hữu Nghị (Lạng Sơn),
Móng Cái (Quảng Ninh), Thanh Thủy (Hà Giang), Lào Cai. Hoặc thông qua
các trung gian Đối với con đường này, chất lượng hàng hóa không được kiểm
định cẩn thận và chính xác.
(G<*-=H>?<+0123045=<5#>?#@5AIJ*.K**B-<C
Khí hậu ở nước ta nhiệt đới gió mùa mặc dù các mặt hàng rau củ quả của
nước ta rất phong phú nhưng do một số đặc điểm sau nên chưa đáp ứng được
nhu cầu tiêu dùng:
- Tính thời vụ: các sản phẩm rau củ quả của Việt Nam có tính thời vụ rất
rõ ràn, mùa nào thức nấy chứ không đầy đủ phong phú và đa dạng.
- Tính phân tán: Rau củ quả phân tán vùng nông thôn nhưng sức tiêu thụ
mạnh lại ở thành phố và khu công nghiệp tập trung vì vậy phương thức lưu
thông hàng rau củ quả chưa đáp ứng nhu cầu.
- Tính tươi sống: hàng rau củ quả dễ bị ôi thiu do sản phẩm của chúng ta
có hàm lượng chất bảo quản thực vật không cao.
- Tính không ổn định: thể hiện sản lượng lên xuống thất thường do được
mùa hay mất mùa.
Như vậy các mặt hàng rau củ quả nhập khẩu đáp ứng được các nhược
điểm của mặt hàng này ở trong nước. Đặc biệt giá các mặt hàng thông thường
như rau củ quả của nước ta cao hơn nhiều so với Trung Quốc, hoạt động nhập
khẩu dễ dàng vì vậy hàng ngày có một lượng lớn rau củ quả vào thị trường
Việt Nam đáp ứng nhu cầu của người dân. Nhờ hoạt động nhập khẩu mà thị
trường Việt Nam cũng xuất hiện các loại hoa quả chất lượng cao, độc lạ, có
giá trị dinh dưỡng cao mà trong nước không thể sản xuẩt được.
%KDLMNEGK;<=>C?@4A4OPQDE@
D((L>I*MC./-0N-=OP+:*B-<C
giữa năm tới.
!"#$%&&'(
4
D(D(J*-E>=5+:%5J>
Trung quốc là quốc gia có thế mạnh về xuất khẩu rau củ quả. Sản xuất
trái cây ở Trung Quốc đã tăng lên nhanh chóng từ năm 1992, và tổng số quốc
gia sản xuất trong năm 2004 đạt khoảng 84 triệu tấn (MT). Trong năm 2011,
tổng cộng hơn 3,6 triệu tấn trái cây và sản phẩm trái cây được xuất khẩu sang
các nước / khu vực khác bao gồm châu Á (58,1%) và châu Âu (23,2%), với
thu nhập 2 tỷ USD. Ra khỏi tất cả các loại trái cây tươi, táo, cam quýt và lê
đứng thứ ba đầu tiên trong sản xuất và khối lượng xuất khẩu. Trong 5 năm
qua, công việc bao gồm cả vĩ mô của chính phủ hướng dẫn, tổ chức nông dân,
và đóng bao mở rộng và sau thu hoạch công nghệ, cũng như ký kết các hiệp
định thương mại phi thuế quan đối với trái cây / rau các nước ASEAN, tất cả
cùng nhau thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu trái cây ở Trung Quốc.
Trung Quốc đã trở thành số một trong sản xuất trái cây cây trồng trên thế
giới từ những năm 1990, dựa trên tổng sản lượng. Sản xuất cây ăn quả ở
Trung Quốc bao gồm 15,2% sản lượng toàn thế giới vào năm 2008, táo và lê
chiếm 35,5% và 53,1% tương ứng. Citrus diện tích và sản xuất ngày càng
tăng gần đây, năm ngoái, Trung Quốc sản xuất hơn 16 triệu tấn trái cây (dữ
liệu của FAO), về 16% của thế giới, và trở thành nhà sản xuất số 2 của cây có
múi trên thế giới, chỉ đứng sau Brazil.
Theo thống kê 58,1% các loại trái cây tươi và các sản phẩm đã được xuất
khẩu sang châu Á, 23,2 đến châu Âu, và 16,1% cho Bắc Mỹ. Xuất khẩu sang
các nước ASEAN chiếm 28,8%. Nếu khối lượng xuất khẩu được phân loại
dựa trên các nước / khu vực, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nga, Việt Nam, Hồng Kông,
Indonesia, Malaysia và các nước Đông Nam Á khác là địa điểm xuất khẩu
quan trọng. Xuất khẩu trái cây tươi, ASEAN là quan trọng nhất thị trường.
Đối với trái cây và sản phẩm khác nhau, các thị trường chính khác nhau.
!"#$%&&'(
6
D(G(Q-@5A0R2-E>
Tháng 2/2013, nhập khẩu hàng rau quả từ các thị trường nhập khẩu
chính như Trung Quốc, Thái Lan đều sụt giảm mạnh so với tháng trước đó,
dao động giảm từ 40-60%, riêng nhập khẩu mặt hàng này từ thị trường
Ôxtrâylia vẫn tăng trưởng mạnh, với kim ngạch nhập khẩu đạt 1,63 triệu
USD, tăng 73,35% so với tháng 1/2013, so với tháng 2/2012, nhập khẩu hàng
rau quả từ thị trường này cũng tăng 74,27%. Có thể thấy rằng, từ đầu năm đến
nay, nhập khẩu hàng rau quả từ thị trường Ôxtrâylia tăng trưởng khá tốt, dự
kiến trong thời gian tới, Ôxtrâylia tiếp tục sẽ là đối tác chiến lược quan trọng
của Việt Nam sau lễ kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ giữa hai nước.
Cùng với Ôxtrâylia, nhập khẩu hàng rau quả của Việt Nam từ thị trường
Myanma cũng đã tăng trưởng rất mạnh trong tháng 2 vừa qua với kim ngạch
nhập khẩu đạt 551 nghìn USD, tăng 323,48% so với tháng trước đó.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2013, nhập khẩu hàng rau quả từ các thị
trường nước ngoài vào Việt Nam có sự tăng giảm khác nhau giữa các thị
trường, trong đó nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc giảm 12,97% còn nhập
khẩu từ 2 thị trường lớn khác là Thái Lan và Ôxtrâylia đều tăng khá mạnh với
tốc độ tăng lần lượt là 46,81% và 64,78%.
Một số thị trường nhập khẩu rau hoa quả của Việt Nam tháng 2 và 2
tháng đầu năm 2013
Thị trường
T2/2013
(nghìn USD)
So T1/2013
(%)
So T2/2012
(%)
mèo khô: 0,45 USD/kg
0<C30A7CT-UJCL-09+:=<5+0123045-=7+:-5V+
W+09+: 0N-=OP+: X<3045 Y
*E
Z[\]
Khoai tây cắt khúc
đông lạnh
Canada Cảng Cát Lái CIF Kiện 18,3
Khoai tây củ
thương phẩm
Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 80,0
Hành củ 25kg/ bao Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 170,0
Hành củ khô Trung Quốc
Cửa khẩu Tân
Thanh
DAF Tấn 120,0
Hành lá tươi Trung Quốc Cảng Cát Lái CIF KG 0,1
Tỏi tây dầm giấm
đóng hộp
Trung Quốc Cảng Cát Lái CIF Hộp 16,3
Rau hoa lơ tươi Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 200,0
Rau súp lơ tươi Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 28,4
!"#$%&&'(
8
Rau cải thảo tươi Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 100,0
Đậu hà lan quả
tươi loại ngọt
Trung Quốc
Cửa khẩu Thanh
Cửa khẩu Tân
Thanh
DAF Tấn 2.520,0
Bột nấm Nhật Cảng Tiên sa CIF KG 14,1
Nấm đóng hộp Trung Quốc Cảng Cát Lái CIF Kiện 1,0
Nấm mèo khô Trung Quốc Cảng Khánh Hội CF KG 0,5
Tỏi củ khô Trung Quốc
Cửa khẩu Tân
Thanh
CPT Tấn 250,0
Tỏi củ khô Trung Quốc
Cửa khẩu Tân
Thanh
DAF Tấn 165,0
Bó xôi cắt nhuyễn Mỹ Cảng Tân cảng CIF KG 16,8
Đỗ xanh hạt Trung Quốc
Cửa khẩu Tân
Thanh
DAF Tấn 160,0
!"#$%&&'(
9
Đậu đen hạt Myanmar Cảng Vict FOB Tấn 460,0
Đậu hạt trắng khô Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 180,0
Đỗ hạt đỏ Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 180,0
Sắn lát khô Cam pu chia Cửa khẩu Sa Mát DAF Tấn 160,0
Khoai sọ củ tươi Trung Quốc Cửa khẩu Lào Cai DAF Tấn 160,0
Củ gừng Trung Quốc Cảng Cát Lái CIF Tấn 250,0
Gừng củ tươi Trung Quốc
Cửa khẩu Tân
:5S+ IFPRI 2002
Hiện nay có một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau quả của
Việt Nam trong thời gian qua. Các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai sản
phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình. Theo nghiên cứu của IFPRI (2002),
ICARD (2004), hầu hết các hộ đều tiêu thụ rau trong năm trước đó, và 93%
hộ tiêu thụ quả. Các loại rau quả được tiêu thụ rộng rãi nhất là rau muống
(95% số hộ tiêu thụ), cà chua (88%) và chuối (87%). Hộ gia đình Việt Nam
tiêu thụ trung bình 71 kg rau quả cho mỗi người mỗi năm. Trong đó tiêu thụ
rau chiếm tới 3/4.
Theo tính toán của IFPRI, tiêu thụ ở các khu vực thành thị có xu hướng
tăng mạnh hơn nhiều so với các vùng nông thôn.
!"#$%&&'(
11
:5S+ IFPRI 2002
Khi thu nhập cao hơn, thì các hộ cũng tiêu thụ nhiều rau quả hơn. Tiêu
thụ rau quả theo đầu người giữa của các hộ giàu nhất gấp 5 lần các hộ nghèo
nhất, từ 26 kg đến 134 kg. Sự chênh lệch này đối với quả là 14 lần, với rau là
4 lần. Kết quả là, phần quả tăng từ 12% đến 32% trong tổng số tăng. Nhu cầu
về cam, chuối và xoài tăng mạnh khi thu nhập tăng, nhưng su hào thì tăng
chậm hơn rất nhiều
:5S+ IFPRI 2002
!"#$%&&'(
12
G(D12@5E+-*W5^_+:>?<>E>`T201++:OP*-*W5^_+:
Kết quả phân tích về cầu ở Việt Nam cho thấy rau và quả có những kiểu
tiêu thụ khác nhau. Độ co giãn theo thu nhập của rau là 0,54; trong khi của
quả là 1,09. Điều này có nghĩa là khi thu nhập của hộ tăng, thì tỷ trọng chi
cho rau giảm và cho quả tăng cao hơn so với mức tăng chi tiêu. Ngày nay
!"#$%&&'(
14
Dc!!"#$#%d
!%e&f!'"
(VGDX=DLM@YPZE?@AOPE?MSI
(0A+g+:UA+h5i-
Việt Nam có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi cho việc
trồng các loại rau, hoa quả để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu. Từ năm 2007 đến nay, ngành rau quả xuất khẩu luôn tăng trưởng 2 con
số. Đây được coi là những tín hiệu đáng mừng cho ngành rau củ quả Việt
Nam
Hiện, diện tích trồng rau, hoa quả ở nước ta có hơn 823.000 ha với năng
suất đạt 170 tạ/ha. Trong đó, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và tỉnh
Lâm Đồng có diện tích trồng rau củ quả lớn nhất cả nước Theo quy hoạch
phát triển đến năm 2015, diện tích trồng rau của cả nước ước đạt 900.000 ha
tăng 15,4% và đến năm 2020 diện tích này là 1.200.000 ha tăng gần 54% so
với hiện nay.
Theo ông Nguyễn Thế Nhuận, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
miền Nam với điều kiện tự nhiên thuận lợi, Việt Nam có tiềm năng lớn về sản
xuất và xuất khẩu rau ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, mặt hàng này chưa
phát huy được tiềm năng. Nếu như hồ tiêu, cà phê, nhân hạt điều, gạo đều ở
tốp dẫn đầu các nước xuất khẩu thì rau quả nói chung vẫn “lẹt đẹt” sau các
nước. Ngoài ra, rau quả Việt Nam hiện đang dựa quá nhiều vào thị trường
Trung Quốc, chiếm khoảng 60%, điều này khó tránh khỏi những rủi ro.
.Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng
29% sản lượng rau toàn quốc. Điều này là do đất đai ở vùng ĐBSH tốt hơn,
khí hậu mát hơn và gần thị trường Hà Nội. ĐBSCL là vùng trồng rau lớn thứ
2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước. Đà Lạt, thuộc Tây
!"#$%&&'(
17
:5S+: MARD
Nhìn chung sản xuất cây ăn quả mới nhắm vào phục vụ thị trường trong
nước, một thị trường dễ tính, đang tăng nhanh nhưng sẽ bị cạnh tranh mạnh
trong tương lai. Triển vọng của ngành sản xuất này là rất lớn với điều kiện
đầu tư thích đáng và đồng bộ từ nghiên cứu, tổ chức sản xuất giống, chế biến,
đóng gói, vận chuyển, tiêu chuẩn cất lượng, nhãn hiệu, tiếp thị, những lĩnh
vực Việt Nam còn rất yếu kém. Hiện nay, xu hướng phát triển sản xuất hàng
hoá ngày càng tăng. Tuy nhiên mức độ thương mại hoá khác nhau giữa các
vùng. ĐBSCL là vùng có tỷ suất hàng hoá quả cao nhất với gần 70% sản
lượng được bán ra trên thị trường. Tiếp theo là Đông nam Bộ và Nam Trung
Bộ với tương ứng là 60% và 58%. Các vùng còn lại tỷ suất hàng hoá đạt từ
30-40%. Mức độ thương mại hoá cao ở Miền Nam cho thấy xu hướng tập
trung chuyên canh với quy mô lớn hơn so với các vùng khác trong cả nước.
Sản xuất nhỏ lẻ, vườn tạp vẫn còn tồn tại nhiều, đây chính là hạn chế của quá
trình thương mại hoá, phát triển vùng chuyên canh có chất lượng cao.
!"#$%&&'(
18
Sự khác nhau không chỉ thể hiện rõ giữa các vùng mà còn giữa các nhóm
thu nhập. Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân giàu bán nhiều sản phẩm
hơn nông dân nghèo vì có quy mô sản xuất lớn hơn và khả năng tiếp cận thị
trường dễ dàng hơn so với nông dân nghèo. Những người sản xuất giàu nhất
bán 83% trong năm 2002 so với 76% những hộ ở nhóm nghèo.
(D0A+g+:>8+0-=<+0-0*-=OP+:-=7+:+OK>
Theo đánh giá của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông
nghiệp, nông thôn, điều đáng lo nhất đối với rau củ quả nhập khẩu chính là
các sản phẩm từ thị trường Trung Quốc, hiện đang chiếm tới 50-80% thị phần
tại Việt Nam. Chỉ riêng mặt hàng rau, thực phẩm quan trọng nhất, đã có tới 6
mộng và có giá rẻ hơn hàng Việt Nam cùng loại. Gía tỏi, gừng, hành, càrốt,
khoai tây giá nhập khẩu bán sỉ, lẻ chỉ bằng 2/3 ,thậm chí bằng nửa so với
hàng trong nước. Đây chính là những nguyên nhân chính yếu làm rau, củ quả
Trung Quốc áp đảo hàng Việt Nam.
Rau củ của Trung Quốc tràn ngập khắp các khu chợ ở Việt Nam không
còn là câu chuyện xa lạ. Tuy nhiên, mức độ ngày càng trầm trọng và đáng báo
động. Đặc biệt vào thời điểm nắng nóng, lượng rau củ có xuất xứ từ Trung
Quốc tràn vào Việt Nam tăng đột biến và lấn át rau củ nội làm cho tâm lí
người tiêu dùng hết sức hoang mang và lo lắng. Tuy nhiên, không vì thế mà
!"#$%&&'(
20
số lượng rau củ Trung Quốc nhập vào Việt Nam giảm và lượng tiêu thụ cũng
không ít đi chút nào. Rau củ kém chất lượng có thể lọt vào thị trường Việt
Nam một cách dễ dàng còn bởi các lý do sau:
Người bán không quan tâm đến chất lượng
Thời gian gần đây, tại các chợ lớn nhỏ trên địa bàn Hà Nội, rau củ có
xuất xứ từ Trung Quốc đang được bày bán tràn lan và lấn át rau củ nội. Mỗi
ngày các chợ đầu mối thu mua hàng chục xe tải rau củ các loại nhập từ Trung
Quốc về và phân phối cho các chợ lớn nhỏ trên khắp thành phố. Điển hình là
các loại như: khoai tây, cà chua, cà rốt, bắp cải, gừng, tỏi, hành tây,…
Khảo sát một số chợ như chợ Nghĩa Tân, Chợ Thành Công, Chợ Trung
Kính, rau củ được cho là có xuất xứ từ Trung Quốc được bày bán tràn lan.
Giá cả rất “dễ chịu”: khoai tây có giá dao động từ 15.000 – 25.000 đồng, cà
rốt từ 10.000 – 15.000 đồng, cà chua từ 8.000 – 15.000 đồng,… Trong khi đó,
khảo sát giá cả tại một số siêu thị lớn trên thành phố, khoai tây Đà Lạt có giá
bán không dưới 50.000 đồng, các mặt hàng như cà chua, cà rốt, hành tỏi giá
cũng gấp hai, ba lần so với ngoài chợ.
Đa số những người bán hàng tại chợ đều khẳng định nguồn gốc rau củ
của họ là từ Việt Nam. Tuy nhiên, không khó để có thể phân biệt nguồn gốc
10.000 - 20.000 đồng/kg. Người bán hàng tthừa nhận “đào Sa Pa” chị đang
bán lấy từ chợ đầu mối Thủ Đức, thực ra cũng là loại đào Trung Quốc. Vì
người mua sợ trái cây Trung Quốc nên chị đành ghi bảng có nguồn gốc Sa Pa
để câu khách.
Theo tìm hiểu, đào Sa Pa chỉ nhỏ bằng quả chanh, hình trái tim, ở phần
đầu cuống lõm vào, đuôi trái hơi nhọn, giá bán tại địa phương khoảng 30.000
đồng/kg. Loại “đào Sa Pa” được bày bán tại TP.HCM quả to, tròn, đuôi căng
phẳng. Một số siêu thị ở TP.HCM cũng có bày bán loại đào này và ghi rõ xuất
xứ từ Trung Quốc.
!"#$%&&'(
22
Cam Vinh made in China” Giá cam Vinh ngon được bán tại sạp khi vào
vụ, khi đến tay người tiêu dùng tối thiểu cũng phải trên 50.000 đồng/kg. Cam
sành Hà Giang chắc chắn cũng không thấp hơn mức giá này. Tuy nhiên, tại
các điểm bán lẻ ở Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận, loại cam lạ đang bày bán
công khai chỉ với giá cao nhất từ 30.000 đến 35.000 đồng. Với mức giá rất
“dễ chịu” này, nhiều chủ sạp còn sẵn sàng giảm thêm, nếu người mua yêu cầu
số lượng lớn thâm nhập vào chợ Long Biên, chợ đầu mối hoa quả lớn nhất Hà
Nội. Theo ghi nhận, chợ hoa quả này hoạt động rầm rộ nhất là khoảng 10h
đêm đến 4 - 5h sáng hôm sau. Tại chợ hoa quả Long Biên, không khó để tìm
vị trí xe đứng đổ hàng loại “cam Vinh” này, chỉ cần hỏi những thợ xe kéo hoa
quả thuê là biết chính xác nó ở đâu. Trong vai một dân buôn hoa quả cần tìm
nguồn hàng “cam Vinh”, chúng tôi đã tìm đến những xe tải đang xuống hàng
cam. Điều đáng nói là trên các thùng xốp đựng loại cam này, nhãn mác đều là
của Trung Quốc.
D(G0i-6OR+:-0j>Uj>?<CL-09+:+9m-l=5+:%5J>.97*B-
<C(
Gần đây, người tiêu dùng Việt Nam lại dấy lên nỗi lo sợ về thực phẩm
Trung Quốc không đảm bảo vệ sinh an toàn khi nhiều loại hoa quả được nhập
Trung Quốc cách đây không lâu rất được ưa chuộng ở Việt Nam. Loại táo này
có màu sắc đẹp, vỏ bóng, ăn giòn, sản lượng cả triệu tấn mỗi năm Tuy nhiên,
vừa qua, thông tin táo Fuji được trồng bằng công nghệ bọc túi tẩm thuốc sâu
độc hại khiến nhiều người tiêu dùng Việt Nam nhanh chóng quay lưng với
loại táo này. Được biết, chất bột trong các bọc nhựa chính là thiram (một loại
thuốc diệt nấm độc hại) và melarsoprol (hợp chất hữu cơ độc hại chứa arsen).
Nhiều nông dân Trung Quốc trồng táo đã bọc táo từ lúc còn non đến lúc chín
bằng loại túi tẩm thuốc trừ sâu này. Tháng 3/2012, cơ quan chức năng
ở Trung Quốc đã tịch thu 200 triệu túi nhựa độc hại trên và ra lệnh cấm sử
!"#$%&&'(
24