Phân tích tổng hàm lượng Photpho trong nước thải trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UVVIS - Pdf 27

1
Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Th.s
Đào Văn Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo chúng em, thầy luôn sát cánh,
động viên, giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành nghiên cứu khoa học này.

Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giảng dạy các bộ
môn và các thầy cô công tác tại phòng thí nghiệm khoa Hóa-Trường đại học sư
phạm Đà Nẵng đã dạy dỗ và dùi dắt chúng em trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu tại trường.

Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nên chắc chắn đề tài này không
tránh khỏi sai sót nhất định. Chúng em rất mong có sự góp ý và hướng dẫn thêm
từ các thầy, cô. 2

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 7
1.1. Tổng quan về photpho 7
Giới thiệu về photpho 7
Tính chất vật lý 7
Tính chất hóa học 8
Một số ứng dụng của photpho 9
1.2. Các hợp chất của photpho trong nước thải 10
Các hợp chất vô cơ 10
Các hợp chất P hữu cơ 11

SO
4
5N 30
Dung dịch Kali natri tartrat (PAT) 30
Dung dịch axit ascobic 0.1N 30
Dung dịch amoni molipdat (AMO) 30
Thuốc thử hiện màu 30
2.3. Quy trình xây dựng đường chuẩn: 31
Chuẩn bị dãy dung dịch chuẩn: 31
Các bước xây dựng đường chuẩn: 31
2.4. Quy trình phân tích photpho tổng bang phương pháp quang phổ hấp thụ phân
tử UV-VIS: 32
Phá hủy mẫu: 32
Xác định photpho hòa tan: 33
2.5. Quy trình lấy mẫu 33
Dụng cụ: 33
Cách lấy mẫu và bảo quản mẫu: 33
Địa điểm và thời gian lấy mẫu: 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 37
3.1. Kết quả khảo sát bước sóng cực đại  của dung dịch phân tích 37
3.2. Kết quả xây dựng đường chuẩn: 37
3.3. Phân tích đánh giá tổng hàm lượng photpho trong nước thải trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng 38
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
4.1. Kết luận: 42
4.2. Kiến nghị 42 4



6

MỞ ĐẦU

Nước – nguồn tài nguyên vô cùng quý giá nhưng không phải vô tận. Mặc dù lượng
nước chiếm hơn 90% bề mặt trái đất nhưng lượng nước có thể dùng cho sinh hoạt và
sản xuất rất ít. Chỉ chiếm khoảng 3%. Hiện nay nguồn nước này đang bị ô nhiễm trầm
trọng do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính là do hoạt động sản xuất và ý thức
con người.
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ về nền kinh tế nhu cầu sử dụng nguồn
nước ngày càng tăng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển ấy đã làm nảy sinh mặt trái không
thể tránh khỏi đó là sự ô nhiễm nguồn nước. Hằng năm, bên cạnh các ngành công nghiệp
đã thải vào môi trường một khối lượng chất thải khổng lồ. Trong đó phải kể đến sự phú
dưỡng của nguồn nước do Nitrat (NO
3
-
) và Photphat (PO
4
3
-
) là một trong những chỉ tiêu
quan trong để đánh giá nguồn nước.
Để góp phần nhỏ trong quá trình nâng cao hiệu quả dụng và bảo vệ lâu dài nguồn
nước nói chung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, chúng em đã chọn đề tài:
“Phân tích tổng hàm lượng Photpho trong nước thải trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS”
Nội dung nghiên cứu:
- Tìm hiểu quy trình xác định PO
4

Cấu hình electron nguyên tử của photpho: 1s
2
2s
2
2p
6
3s
2
3p
3
.
Do lớp ngoài cùng có 5 electron, nên trong các hợp chất, hoá trị của photpho có
thể là 5. Ngoài ra, trong một số hợp chất, photpho còn có hoá trị 3.
Photpho thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp như sản xuất diêm,
thuốc trừ sâu, luyện kim…
Tính chất vật lý
Đơn chất photpho có thể tồn tại ở một số dạng thù hình, trong đó quan trọng nhất
là photpho trắng và photpho đỏ; ngoài ra còn có photpho đen.
Photpho trắng
Photpho trắng là chất rắn trong suốt, màu trắng hoặc vàng nhạt, trông giống như
sáp, có cấu trúc mạng tinh thể phân tử: ở các nút mạng là các phân tử hình tứ diện P
4
.
Các phân tử P
4
liên kết với nhau bằng lực tương tác yếu. Do đó, photpho trắng mềm, dễ
nóng chảy (t
nc
= 44,1
0

thường photpho hoạt động hóa học mạnh hơn nitơ, mặc dù độ âm điện của photpho
(2,19) nhỏ hơn của nitơ (3,04).
Trong hai dạng thù hình, photpho trắng hoạt động hơn photpho đỏ. Để đơn giản,
trong các phản ứng hóa học người ta viết phân tử photpho dưới dạng một nguyên tử P.
Khi tham gia phản ứng hóa học, số oxi hóa của photpho có thể tăng từ 0 đến +3 hoặc
+5, có thể giảm từ 0 đến −3, nên photpho thể hiện tính khử và tính oxi hóa.
Tính oxy hóa
Photpho chỉ thể hiện rõ rệt tính oxi hóa khi tác dụng với một số kim loại hoạt động,
tạo ra photphua kim loại.
9

Thí dụ: 2P + 3Ca → Ca
3
P
2

Canxi photphua
Tính khử
Photpho thể hiện tính khử khi tác dụng với các phi kim hoạt động như oxi, halogen,
lưu huỳnh cũng như với các chất oxi hóa mạnh khác.
 Tác dụng với oxi

Photpho tác dụng dễ dàng với các hợp chất có tính oxi hóa mạnh như HNO
3
đặc,
KClO
3
, KNO
3
, K
2
Cr
2
O
7
,
Một số ứng dụng của photpho
- Axit photphoric đậm đặc, có thể chứa tới 70% - 75% P
2
O
5
rất quan trọng
đối với ngành nông nghiệp do nó được dùng để sản xuất phân bón.
- Các photphat được dùng trong sản xuất các loại thủy tinh đặc biệt được sử dụng
trong các loại đèn hơi natri.
- Tro xương, phophat canxi, được sử dụng trong sản xuất đồ sứ.
- Tripolyphotphat natri được sản xuất từ axit photphoric được sử dụng trong bột
giặt ở một số quốc gia.
- Photphat trinatri được dùng trong các chất làm sạch để làm mềm nước và chống
ăn mòn cho các đường ống, nồi hơi.
- Photpho được sử dụng rộng rãi để sản xuất các chất làm dẻo, các chất làm chậm
cháy, thuốc trừ sâu, các chất chiết và các chất xử lý nước.

C.
Rất ít tan trong nước, tan nhiều trong cồn và ete. Nó có thể hóa lỏng và cháy với
ngọn lửa màu xanh sáng.
Rất độc, tác dụng lên hệ thần kinh trung ương gây hôn mê. Gây kích ứng phần da
hở, niêm mạc mắt, đường hô hấp, gây xuất huyết ở phổi.
Axit photphoric (H
3
PO
4
)
Axit photphoric (H
3
PO
4
) còn gọi là axit orthophotphoric, là một chất lỏng, trong
sánh, tan trong nước và cồn. Phân tử lượng: 98; tỷ trọng : 1,83; điểm nóng chảy: 42,3°C;
điểm sôi: 213°C (mất V
2
H
2
O)
Axit photphoric là một axit tương đối mạnh, được dùng nhiều trong công nghiệp
phân bón supephotphat. Nó được dùng để làm sạch bề mặt kim loại trước khi sơn, nếu
có lẫn tạp chất có thể sinh ra hiđdro, từ đó có thề tạo ra một khí cực độc là PH
3

Neu bị axit bắn vào da hoặc mắt thì ngay tức khắc phải rủa với nhiều nước tại
nguồn gần nhất trước khi đưa nạn nhân đi cấp cứu.
Photpho pentaoxit (P
2

)
Còn gọi là photphoryl clorua, là chất lỏng màu vàng nhạt, mùi khó ngửi. Phân tử
lượng: 153,4; tỷ trọng 1,67; điểm nóng chảy: 2°C; điểm sôi: 105,3°C
Được dùng làm tác nhân clo hóa cho hợp chất hữu cơ. Tính chất của nó nguy hiểm
như photphopentaclorua.
Photpho triclorua (PCI
3
)
Là chất lỏng không màu, bốc khói, tan trong dung môi hữu cơ. Nó phân hủy trong
nước, giải phóng nhiều nhiệt.
Được dùng đế sản xuất photphopentaclorua (PCI
5
) là tác nhân clo hóa Phospho
tricloma là một chất cực kỳ ăn mòn khi ẩm. Neu đun nóng sẽ tạo thành PH
3
. Phản ứng
mạnh với kiềm. Photphotriclorua là một chất gây cháy, nổ. Tính chất nguy hiểm như
PCI
5
nên khi tiếp xúc phải rất thận trọng dự phòng.
Photpho sesquisunfua (P
4
S
3
)
Còn gọi là tetraphotphotrisunília. Là chất kết tinh màu vàng, tan trong nước lạnh,
phân hủy trong nước nóng, tan trong một số dung môi hữu cơ. Phân tử lượng: 220,26;
tỷ trọng 2,03; điểm nóng chảy: 1,74°C; điểm sôi: 408°C
Hiện nay chất này được dùng nhiều trong công nghiệp diêm, làm đầu que diêm
hoặc bên sườn hộp diêm (hột quẹt) đe đánh diêm (quẹt)

Các organophosphate hơn có thể kích thích hệ thần kinh gây ra buồn nôn, chóng mặt, lú
lẫn, và phơi nhiễm cao, liệt hô hấp và tử vong. Đánh giá rủi ro của EPA cho thấy methyl
parathion không thể đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn FQPA như thuốc trừ sâu hiện đang
đăng ký. Các chế độ ăn uống có nguy cơ cấp tính cho trẻ em độ tuổi 1-6 vượt quá liều
tham chiếu (hoặc số tiền đó có thể được tiêu thụ một cách an toàn trong suốt cuộc đời
70 năm) bằng 880%. Để giảm thiểu nguy cơ cao chế độ ăn uống cho trẻ em, EPA chấp
nhận hủy bỏ tự nguyện của những loại cây trồng có đóng góp nhiều nhất để 'chế độ ăn
uống của trẻ em. Việc sử dụng hủy bỏ đại diện cho 90% nguy cơ chế độ ăn uống cho trẻ
em. Loại bỏ các ứng dụng cây trồng mang lại nguy cơ chế độ ăn uống ước tính xuống
còn 78% liều dùng tham khảo, làm cho nguy cơ từ thức ăn chấp nhận được cho trẻ em
và tất cả những người khác trong dân số Hoa Kỳ.
Tris (2,3-dibromopropyl) photphat (C
9
H
15
Br
6
O
4
P)
Tris (2,3-dibromopropyl) Photphat là một chất dễ cháy như là một chất gây ung
thư ở động vật thực nghiệm. Tris (2,3-dibromopropyl) Photphat được sử dụng rộng rãi
trong pastics một số ngành dệt may. Nó là chất lỏng nhớt vàng và không tan trong nước.
Tris (2,3-dibromopropyl) Photphat tồn tại ở nhiệt độ 392-482 ° F. Phân hủy lớn bắt đầu
từ 586 ° F. Được thủy phân bằng axit và bazơ.
2-Aminoethylphotphonic acid H
2
NCH
2
CH

một lượng lớn các hợp chất hữu cơ. Khi các thực vật bùn lắng xuống ao hồ, cộng với sự
phát triển mạnh của các loài thực vật ở ven cho bờ làm ao hồ ngày càng nông hơn và
mặt hồ ngày càng bị thu hẹp, cuối cùng ao hồ sẽ biến thành đầm lầy
Nguyên nhân của hiện tượng phú dưỡng
Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh
hoạt của các khu dân cư, từ nước thải của các nhà máy xí nghiệp… sự đóng kín và thiếu
đầu ra của môi trường hồ. Sự phú dưỡng đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết
các nước trên thế giới. Hiện tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải tác
động tiêu cực tới hoạt động văn hoá của dân cư đô thị, làm biến đổi hệ sinh thái nước
hồ, tăng thêm mức độ ô nhiễm không khí của đô thị.
Một nguyên nhân khác dẫn đến phú dưỡng là từ các dòng chảy tràn trên bề mặt
cũng có khả năng mang về hồ rất nhiều chất dinh dưỡng. Dần dần hồ tích tụ nhiều chất
hữu cơ và bùn đẩy nhanh sự phát triển của các vi sinh vật dưới nước làm cho hồ trở nên
giàu chất dinh dưỡng. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là một trong những tác
nhân rất quan trọng gây nên hiện tượng phú dưỡng. Phân bón hóa học sử dụng ngày
càng nhiều, nhất là phân đạm (chứa N), phân lân (chứa P). Lượng phân bón sử dụng ở
Việt Nam trung bình 73,5kg/ha (trung bình của thế giới là 95,4 kg/ha)
14

Con người là nguồn gây nên sự giàu dinh dưỡng cho các hệ nước ngọt và nước
biển ven bờ. Nitơ và photpho theo nước thải sinh hoạt, sản xuất và hoạt động nông
nghiệp xả xuống các thủy vực không qua xử lý là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho
các nguồn nước.
Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình
này gây ra sự giảm oxy dưới hạ lưu, làm đường cong oxy giảm xuống. Mức độ oxy hoá
phụ thuộc vào sự pha loãng của dòng thải và thành phần tính chất nước thải. Lượng chất
hữu cơ này được đánh giá qua nhu cầu oxy sinh hóa (BOD
5
) và nhu cầu oxy hóa học
(COD). Dòng thải có BOD

do con người gây ra là một yếu tố góp phần quan trọng đối với khả năng xảy ra hiện
tượng "nở hoa" của nước, nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất. Hiện tượng
"nở hoa" thường hay xảy ra nhất ở nơi nước phân tầng, nơi mà sự vận chuyển xáo trộn
ngang bị hạn chế.
Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phú dưỡng
* Chất dinh dưỡng
Đây là yếu tố quan trọng nhất ,bởi lẽ nó quyết định đến sự sinh sôi, phát triển của
tảo.Các hoạt động của con người ngày càng cung cấp cho hệ sinh thái nước ngọt hàm
lượng lớn N, P- quá trình phú dưỡng hóa do con người, tuy nhiên còn có hiện tượng phú
dưỡng hóa do tự nhiên đó là trường hợp các ao, hồ nằm trên các tầng đất sản sinh P, do
vậy sự hạn chế thậm chí ngừng hẳn các nguồn cung cấp N, P do con người cũng không
thể ngăn chặn quá trình phú dưỡng .
* Độ sâu của hồ
Hồ càng sâu thì các chất dinh dưỡng sẽ bị lắng xuống tầng đáy, cách xa phạm vi
sinh sống ở tầng mặt do vậy hạn chế được hiện tượng “tảo nở hoa”
* Khả năng lưu chuyển nước
Nước mà lưu chuyển càng nhanh thì sẽ kéo các chất dinh dưỡng ra khỏi hệ sinh
thái , khiến cho các loài tảo không đủ thời gian để sử dụng các chất dinh dưỡng
này.Những ao, hồ tụ đọng-ao, hồ mà không có dòng nước dẫn vào đi ra mà nguồn cung
cấp nước chủ yếu từ nước ngầm, nước chảy tràn trên mặt còn nước đi ra do ngấm qua
đất hay bốc hơi nước, có nguy cơ lớn dẫn đến hiện tượng phú dưỡng.
* Các điều kiên khí hậu
Khi có các yếu tố về ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì sẽ đẩy nhanh quá trình
phát triển của tảo gây ra hiện tượng phú dưỡng. Chính vì lẽ đó, hiện tượng phú dưỡng
thường gặp vào mùa đông hau mùa hè vì mùa đông có nhiệt độ thấp, khả năng bốc hơi
nước kém đi nên lượng nitrat di chuyển vào không khí ít.
Như vậy, hiện tượng phú dưỡng sẽ có tiềm năng phát triển ở hệ sinh thái nước ngọt
mà có các yếu tố sau :
- Hàm lượng N, P cao ( từ các nguồn do con người hay tự nhiên).
16

Các dòng chảy từ nông nghiệp:
Trong nông nghiệp, để tăng năng suất, người ta đã sử dụng một lượng lớn phân
bón mà chủ yếu là phân đạm (chứa N), phân lân (chứa P). Tuy nhiên, chỉ có 30-40%
lượng phân bón đưa vào cây có khả năng hấp thụ, còn lại sẽ bị tích tụ trong đất. Hiện
tượng xói mòn xảy ra sẽ cuốn theo lượng phân bón dư thừa đó đổ ra nguồn nước.Ngày
17

nay, lượng phân bón sử dụng tăng lên nhanh chóng.Ở Đắc Lắc nông dân bón lượng phân
chứa photpho là 600 kg/ha cho cà phê đất đỏ vẫn không cho năng suất cao hơn với việc
bón 200kg/ha, lượng dư thừa sẽ đổ vào sông hồ và làm phú dưỡng hóa
Chất thải từ động vật cũng là nguôn lớn gây hiện tượng phú dưỡng. Lượng P do
gia súc thải ra gấp 4 lần lượng do con người thải ra.
Tác động xói mòn, rửa trôi được tăng cường bởi các hoạt động của con người như:
xây dựng các công trình, canh tác, đốt rừng: làm giảm diện tích đất che phủ bởi thực
vật, làm đất bị trơ ra. Trong quá trình đó, một lượng lớn nitrat đã bị rửa trôi xuống ao,
hồ.
Ngoài ra, các hiện tượng thời tiết bất thường do tác động của con người như hiện
tượng mưa axit cũng là nguồn bổ sung photphat vào các hệ sinh thái nước ngọt.Việc sử
dụng các nhiên liệu hóa thạch làm sản sinh các chất như PO
4
2-
…từ phế thải sinh vật, sẽ
xảy ra một loạt các phản ứng để tạo thành axit, theo mưa rơi xuống ao, hồ
Như vậy, qua các nguồn gây phú dưỡng hóa, ta thấy rằng, không chỉ có hoạt động
của con người ở ngay cạnh các hệ sinh thái nước ngọt mới gây ra hiện tượng phú dưỡng
hóa, mà những hoạt động nhân sinh cách xa đó hàng trăm km mới là nguyên nhân chủ
yếu gây ra hiện tượng này, đây chính là một khó khăn trong việc xử lý vấn đề phú dưỡng.
Những tác động của hiện tượng phú dưỡng
* Đối với hệ sinh thái nước ngọt
Các tác động bao gồm:

đô thị có nguồn nước ô nhiễm hoặc dân cư ở những vùng nông thôn chưa tiếp cận được
với nguồn nước sạch đảm bảo.
Ảnh hưởng đến giá trị du lịch, giải trí
Khi nước bị phú dưỡng, giá trị này thường giảm đi đáng kể. Việc câu cá, bơi thuyền
có thể bị cản trở do việc tạo váng trên bề mặt khi tảo nở hoa. Các loài tảo phân hủy
thường bốc mùi khó chịu, gây ảnh hưởng cảnh quan xung quanh.
Ao, hồ có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái và con người. Nó không chỉ là nơi
vui chơi giải trí mà còn có nhiệm vụ điều hòa khí hậu, điều tiết nước mưa đồng thời là
nơi chứa và làm sạch nước thải. Tuy nhiên, hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà các nước
trên thế giới có khá nhiều hồ, đặc biệt tại khu đô thị đang rơi vào tình trạng ô nhiễm mà
điển hình là hiện tượng phú dưỡng. Hiện tượng phú dưỡng xảy ra trong các ao hồ gây
ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường sinh thái, giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm không
khí, nguồn nước, và gây ảnh hưởng lớn tới con người và các loài sinh vật khác. Đây
là một vấn đề môi trường cần được quan tâm trong giai đoạn hiện nay khi sự phát triển
kinh tế và đô thị hóa đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới.
Chu trình photpho
Trong các nguồn nước, photphat tồn tại ở dạng tan (đơn, ortho) trong nước, một
phần lớn nằm ở lớp bùn dưới dạng muối ít tan (Ca, Fe, Al) hoặc trong các tế bào chế
19

của động vật, thực vật. Trong điều kiện yếm khí của lớp bùn đáy, các dạng photphat
không tan được một số loại vi khuẩn (Acinetobacter) phân hủy thành dạng tan, thâm
nhập trở lại nguồn nước.
Ô nhiễm nguồn nước do các chất dinh dưỡng thể hiện ở hiện tượng phú dưỡng,
liên quan trực tiếp đến sự phát triển ồ ạt của tảo và một số các loại thủy thực vật. Tảo
là loại thực vật đơn bào có kích thước từ một vài tới một trăm mm với chủng loại rất
phong phú.
Tảo có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng protein thô trong tảo khô có thể
tới 50 - 60% (8 - 20% N) vì vậy là nguồn thức ăn tốt cho thủy động vật và của
người. Tuy nhiên có một số loại tảo có tính độc, trước hết là loại tảo lam (blue green

1.4. Các phương pháp định lượng photpho
Phương pháp chuẩn độ
Là phương pháp phân tích thể tích dựa trên phản ứng giữa NaOH và HCl với chỉ
thị metyl da cam.
Nguyên tắc: Chuyển tất cả các dạng tồn tại của Photpho trong mẫu về dạng kết
tủa MgNH
4
PO
4
. Dùng một lượng chính xác và dư dung dịch chuẩn HCl để hoà tan kết
tủa này, lượng HCl dư được xác định bằng dung dịch chuẩn NaOH. Từ đó tính được
lượng Photpho trong mẫu.
Các phương trình phản ứng:
Mg
2+
+ NH
4
+
+ HPO4
2-
→ MgNH
4
PO
4

(vàng)
+ H
+

MgNH

kiến (VIS) từ 190nm đến khoảng 900nm.
Cơ sở lý thuyết của phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS:
 Sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch có màu:
 Dung dịch có màu là do bản thân dung dịch đã hấp thụ một phần quang phổ của
ánh sáng trắng, phần còn lại ló ra cho ta màu của dung dịch.
 Sự hấp thụ mạnh bức xạ đơn sắc của dung dịch còn phụ thuộc vào nồng độ.
 Khi nồng độ càng lớn thì sự hấp thụ càng mạnh, biểu hiện là màu càng đậm.
- Định luật Lambert – Beer:
Khi chiếu một chùm bức xạ đơn sắc đi qua dung dịch chất hấp thụ thì chùm bức
xạ ló ra bao giờ cũng có cường độ nhỏ hơn chùm bức xạ ban đầu, sự giảm cường độ
càng nhiều nếu các phân tử của chất hấp thụ càng mạnh. Sự giảm cường độ phụ thuộc
vào nồng độ của dung dịch hấp thụ và chiều dài đoạn đường mà chùm bức xạ đi qua.
Định luật Lambert-Beer có thể được biểu diễn qua phương trình:
22

D=lg




=ε.C.l
Trong đó: D (Dentisity) là mật độ quang của dung dịch chất hấp thụ
I
0
: cường độ chùm bức xạ chiếu tới
I: cường độ chùm bức xạ sau khi đi qua dung dịch
ε: hệ số tắt phân tử, phụ thuộc vào bản chất của chất hấp thụ, nhiệt độ và bước sóng
của bức xạ đơn sắc.
C: nồng độ của dung dịch chất hấp thụ (mol/l)
l: bề dày của cuvet đựng dung dịch (cm)

D=lg




=ε.C.l
Khi cố định  và l thì D=K.C. Tuy vậy chỉ có một khoảng nồng độ nhật định thì sự
phụ thuộc của mật độ quang (D) và Nồng độ (C) là tuyến tính.

23 Hình 1.3. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của mật độ quang vào nồng độ

 Sự ổn định của dung dịch
Sự ổn định màu của dung dịch đo là một yếu tố rất quan trọng để phép đo được
chính xác, sự ổn định này thường là: môi trường pH, sự có mặt các ion lạ, thời gian ổn
định màu, nhiệt độ
Nếu thuốc thử thuộc dạng axit yếu thì yếu tố pH sẽ ảnh hưởng đến sự tạo phức.
Thông thường trong các mẫu phân tích ngoài chất phân tích không thể không kể
đến sự có mặt của các ion lạ, các ion này có khả năng tương tác với chất cần phân tích
hoặc tạo màu với thuốc thử trong dung dịch nên sẽ ảnh hưởng đến quá trình xác định,
buộc phải tìm cách loại trừ bằng cách tách chúng ra khỏi dung dịch phân tích hoặc tìm
cách che.
Thời gian ổn định màu của phức giữa chất phân tích và thuốc thử đối với mỗi dung
dịch phức là khác nhau.
Sơ đồ máy quang phổ hấp thụ phân tử UV- VIS
Không phụ thuộc vào vùng phổ, các máy đo độ truyền quang và độ hấp thụ (mật
độ quang) của dung dịch bao gồm năm bộ phận cơ bản sau:
 Nguồn bức xạ có năng lượng ổn định.

và Mo
6+
hình thành nên phức có màu xanh lơ. Độ đậm màu của dung dịch tỷ lệ với
lượng Photpho có trong mẫu. Sau đó sử dụng phương pháp đường tiêu chuẩn để định
lượng.
Các phương trình phản ứng:
2(MoO
2
.4MoO
3
) + H
3
PO
4
3-
+ 4H
2
O → (MoO
2
.4MoO
3
)
2
.H
3
PO
4
.4H
2
O

Sau khi tham khảo tài liệu, chúng tôi nhận thấy cả axit ascobic lẫn thiếc diclorua
đều có khả năng khử axit di đa photphomolipdic tạo thành phức xanh molipden. Do đó,
trong đề tài này chúng tôi tiến hành khảo sát khả năng khử của 2 chất này.
Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử sử dụng axit vanadomolipdo
photphoric
Nguyên tắc: Trong dung dịch, ion ortophotphat phản ứng với amoni molipdat tạo
ra axit molipdophotphoric, axit này phản ứng với NH
4
VO
3
tạo thành phức màu
vàng. Đo mật độ quang của dung dịch tại bước sóng khoảng 400nm để xác định
nồng độ PO
4
3-
trong dung dịch theo phương pháp đường tiêu chuẩn hoặc phương
pháp thêm chuẩn.
Các phương pháp phân tích vi lượng
Phương pháp đường chuẩn
Quy trình thực hiện gồm các bước:
- Chuẩn bị một dãy dung dịch chuẩn có nồng độ chính xác, tăng dần nhất định C
1
,
C
2
, C
3
, C
4
, C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status