XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI CHO BÀI SOẠN NGỮ VĂN 12
Trầm Thanh Tuấn
GV: Trường THPT Long Hiệp - Huyện Trà Cú - Tỉnh Trà Vinh
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuẩn bị bài là một yêu cầu quan trọng trong việc dạy và học môn Ngữ văn (Lẽ dĩ nhiên đây là
yêu cầu chung cho tất cả các môn học, tuy nhiên đối với môn Ngữ văn đây lại là yêu cầu mang
tính đặc thù). Có chuẩn bị bài tốt thì học sinh (HS) mới có thể lĩnh hội tốt kiến thức trong quá
trình Đọc - hiểu văn bản. Tuy nhiên thực tế giảng dạy và học tập môn Ngữ văn hiện nay cho
thấy, HS chuẩn bị bài trên cơ sở câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa (SGK) chỉ để
đối phó, chiếu lệ, hợp thức hóa. Có nhiều nguyên nhân cho thực trạng này trong đó có nguyên
nhân xuất phát từ chính hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong SGK ([1]). Xuất phát từ thực
trạng ấy, chúng tôi đề xuất việc xây dựng một hệ thống câu hỏi giúp HS chuẩn bị bài ở nhà. Hệ
thống câu hỏi này được thiết kế trên cơ sở năng lực của HS đang được GV trực tiếp giảng dạy.
2. THỰC TRẠNG
Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy trong chương trình Ngữ văn 12 có nhiều văn bản có dung
lượng lớn nhưng thời lượng cho tiết dạy lại ít nên khá nhiều GV lúng túng, thường phải chạy theo
bài dạy nếu không muốn "cháy giáo án". Thế nên nhiều tiết dạy đã không đạt được yêu cầu như
mong muốn.
Những trăn trở trên thật đáng trân trọng bởi đối với GV Ngữ văn, chúng tôi thiết nghĩ, không có
một mục đích nào khác là mong muốn cho HS tiếp nhận tác phẩm một cách trọn vẹn. Và cũng
chính bởi sự tâm huyết ấy mà nhiều GV đã cố gắng cung cấp cho HS thật nhiều thông tin về tác
giả, tác phẩm và lẽ dĩ nhiên như thế thì đã trễ lại càng trễ.
Trong không khí của công cuộc đổi mới trong công tác giảng dạy hiện nay, một trong những điều
mà mọi người đang quan tâm đó là làm thế nào để khơi dậy tiềm lực nội tại trong mỗi HS trong
quá trình học tập. Tạo điều kiện để HS có thể tự học, tự tiếp cận tri thức. Đây là xu hướng giáo
dục tích cực đang được đặc biệt chú trọng. Vậy nên, trong quá trình giảng dạy, yêu cầu chuẩn bị
bài một cách nghiêm túc đã trở thành một công việc thật sự hữu ích cho quá trình học tập của
mỗi HS. Với môn Ngữ văn, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn bởi lẽ để tiếp cận một tác
phẩm văn học cần phải hội tụ nhiều kĩ năng, phải có sự tiếp cận bề mặt văn bản trên cơ sở đó
cảm nhận những giá trị thẫm mĩ ẩn chứa sau từng con chữ. Việc HS chuẩn bị tốt bài ở nhà là đã
làm tốt công việc tiếp cận bề mặt văn bản. Đây có thể nói là yếu tố "nền" để khi lên lớp kết hợp
("mình", "ta" là ai ?). Sự thống nhất và chuyển hoá của hai "nhân vật" ấy. "Mình", "ta" trong bài
Việt Bắc giống và khác như thế nào với "mình", "ta" trong ca dao. Đây là một câu hỏi rất khó, HS
phải có một sự am hiểu rất sâu về đặc điểm sử dụng đại từ nhân xưng trong ca dao mới có thế
giải quyết được vấn đề này. Tuy nhiên qua khảo sát hệ thống văn bản ca dao mà HS được học
trong chương trình Ngữ văn 10 (nâng cao) chúng tôi nhận thấy không có văn bản nào có xuất
hiện hai từ "mình", "ta". Như vậy HS lấy kiến thức ở đâu để hoàn thành được câu hỏi này. Tình
hình này cũng không khác lắm ở sách giáo khoa Ngữ văn 12 (chương trình chuẩn).
Sau đây là hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài cho bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao
sáng trong văn nghệ dân tộc của Phạm Văn Đồng (Ngữ văn 12, tr 53 – 54).
1. Tìm những luận điểm chính của bài viết. Anh chị thấy cách sắp xếp các luận điểm đó có gì
khác với trật tự thông thường?
2. Theo tác giả, vì sao văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như: "những vì sao có ánh
sáng khác thường", "con mắt của chúng ta phải chăm chú nhì thì mới thấy"?
3. Tác giả đã giúp chúng ta nhận ra những "ánh sáng khác thường" nào của ngôi sao sáng
Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời văn nghệ Việt Nam, qua:
- Cuộc sống và quan niệm sáng tác của nhà thơ;
- Thơ văn mà ông sáng tác để phục vụ cuộc chiến đấu chống xâm lược bảo vệ Tổ quốc;
- Truyện Lục Vân Tiên
4. Vì sao tác giả cho rằng ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu đáng lẽ phải sáng hơn nữa không chỉ
trong thời ấy, mà cả trong thời đại hiện nay?
5. Có thể thấy bài văn nghị luận này không khô khan mà trái lại có sức hấp dẫn, lôi cuốn. Vì sao?
Bài viết là một áng văn nghị luận mẫu mực có cấu hết sức chặt chẽ theo ba phần với luận đề và
hệ thống luận điểm lôgic liên kết chặt chẽ. Như vậy hệ thống câu hỏi nên tiếp cận văn bản theo
hướng ấy. Thế nhưng ở đây, tác giả lại không khai thác theo hướng này. Bên cạnh đó, ngay ở
câu 1, SGK hỏi: Anh chị thấy cách sắp xếp các luận điểm đó có gì khác với trật tự thông thường?
Đây là yêu cầu HS rất khó trả lời vì HS chưa tiếp cận được một cách toàn diện kết cấu của văn
bản để nhận diện được mục đích của Phạm Văn Đồng khi triển khai trật tự các luận điểm trong
văn bản Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc
Tất cả những điều đã trình bày ở trên chính là nguyên nhân khiến HS soạn bài "đối phó" với GV
bằng loại sách "Học tốt" được bày bán trên thị trường. Điều này đã triệt tiêu khả năng tư duy
2. Đối tượng mà bản Tuyên ngôn hướng tới?
3. Hồ Chí Minh viết bản Tuyên ngôn nhằn những mục đích gì?
4. Phần 1: "Hỡi đồng bào cả nước…. có thể chối cải được", Nội dung khái quát của phần 1?
- Việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ (1776) và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và
dân quyền của Pháp (1791) nhằm mục đích gì?
- Tuy nhiên trong cuộc đối thoại này, tác giả đã "suy rộng ra": " Tất cả các dân tộc trên thế giới
sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền
tự do" điều đó đã chứng minh được tầm vóc tư tưởng của Bác. Điều mới mẻ được thể hiện trong
câu nói ấy là gì?
1. Phần 2 " Thế mà hơn 80 năm nay…dân tộc đó phải được độc lập" Nội dung khái quát của
phần 2? (Thảo luận nhóm)
- Pháp kể công "khai hoá" thì bản Tuyên ngôn đã
- Pháp kể công "bảo hộ", thì bản Tuyên ngôn đã
- Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản tuyên ngôn đã
- Chúng nhân danh Đồng minh tuyên bố Đồng minh đã thắng Nhật, vậy chúng có quyền lấy lại
Đông Dương, thì bản Tuyên ngôn đã
Ø Tất cả những lí lẽ bằng chứng trên dẫn đến kết luận không ai có thể phủ nhận được:
2. Phần còn lại: Nội dung chính của Phần còn lại ?
3. Phong cách chính luận Hồ Chí Minh được thể hiện như thế nào trong bản Tuyên ngôn độc lập?
BÀI TẬP VỀ NHÀ
Nghệ thuật viết văn chính luận đặc sắc của Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập
Trong hệ thống câu hỏi này chúng tôi đã cố gắng thể hiện kết cấu của bài học để HS có thể giải
quyết từ phần trên cơ sở các em đọc kĩ văn bản. Đồng thời ở Phần 2: Thế mà hơn 80 năm nay…
dân tộc đó phải được độc lập". nội dung chính của đoạn này là: Cuộc tranh luận ngầm với luận
điệu của thực dân Pháp. Đây là phần kiến thức có thể xây dựng bằng phương pháp Thảo luận
nhóm. Do vậy chúng tôi cũng ghi nhận trước để các em có thể chuẩn ngay từ ở nhà sau đó đến
lớp thảo luận trước với các bạn trong nhóm.
Bên cạnh đó chúng tôi có thiết kế thêm bài tập về nhà để các em có thể thực hành thêm nhằm
khắc sâu kiến thức. Ví dụ trong bài soạn trên chúng tôi xây dựng bài tập và yêu cầu các em làm
ở nhà sau khi đã học xong bài Tuyên ngôn độc lập:
6. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Ngữ văn 12 (Nâng cao), NXB GD 2007
7. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên), Sách giáo viên Ngữ văn 12 (Nâng cao), NXB GD 2007.
([1]) Nói điều này không phải chúng tôi phủ nhận kết quả biên soạn của tập thể các soạn giả. Sở
dĩ có tình trạng này là xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương (vùng sâu, đông đồng bào
dân tộc), năng lực học tập, năng lực ngôn ngữcủa HS còn nhiều hạn chế trong khi hệ thống câu
hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa là là hệ thống chuẩn chung cho cả nước.
([2]) Trong khi khảo sát lại chương trình Ngữ văn 10 (Nâng cao) chúng tôi không thấy văn bản
ca dao nào HS được học thể hiện rõ kết cấu đối đáp.
THỨC THẢO LUẬN NHÓM VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN VĂN Ở TRƯỜNG THCS
CẤU TRÚC SKKN
A. Đặt vấn đề.
I. Cơ sở lí luận.
II. Cơ sở thực tiễn.
1. Đối với giáo viên.
2. Đối với học sinh.
B. Giải quyết vấn đề:
I. Các hình thức thảo luận nhóm,
sử dụng trò chơi trong dạy học môn văn.
1. Hình thức thảo luận nhóm.
1.1. Cách thức tổ chức.
1.2. Chuẩn bị của giáo viên.
1.3. Chuẩn bị của học sinh.
2. Hình thức sử dụng trò chơi.
2.1.Cách thức tổ chức.
2.2.Chuẩn bị của giáo viên.
2.3.Chuẩn bị của học sinh.
II.Phạm vi áp dụng.
III. Bài dạy thực nghiệm.
IV. Kết quả.
C. Kết luận và kiế
ý nghĩa trong việc hình thành, phát triển, định hướng nhân cách cho học sinh và rèn luyện những
kỹ năng cơ bản cần thiết cho các em.Mặt khác đây lại là môn học nghệ thuật kích thích trí tưởng
tượng bay bổng,sáng tạo của học sinh .Chính điều này làm cho việc dạy văn càng khó hơn, đặc
biệt với đối tượng học sinh vùng dân tộc thiểu số như ở Cẩm Khê chúng ta .
Thực tế chúng ta thấy rằng ngày càng có ít học sinh đi thi học sinh giỏi môn văn hơn ,các em
cũng cảm thấy chán nản và không mấy hứng thú khi học giờ văn.Chính điều đó đòi hỏi phải có
những phương pháp cải tiến trong việc dạy – học văn trong nhà trường .Đây là nhu cầu cần thiết
đối với các nhà giáo dục và đội ngũ giáo viên giảng dạy môn văn .Với chức năng là một người
làm công tác giảng dạy trong nhà trường bản thân tôi cũng luôn trăn trở là làm thế nào để nâng
cao chất lượng dạy học văn.Trong 5 năm công tác giảng dạy tôi nghiệm thấy rằng,cái ước muốn
học văn sao cho giỏi,dạy văn sao cho hay ,viết văn sao cho tốt là ước muốn của rất nhiều giáo
viên và học sinh.Muốn thực hiện được ước mơ ấy thì chúng ta phải biết tìm tòi,sáng tạo và đưa
ra những cái mới hấp dẫn lôi cuốn học sinh,đặc biệt là người giáo viên chúng ta phải biết làm
mới bài giảng của mình để kích thích học sinh.
Phần nội dung thì không thể làm mới, không thể thay đổi nhưng chúng ta có thể thay đổi và làm
mới hình thức,phương pháp giảng dạy của mình. Điều này thì chúng ta đã và đang thực hiện lâu
nay nhưng cái quan trọng là sự đổi mới của từng người.Với riêng tôi chỉ một vài năm công tác
chưa được xem là nhiều nhưng tôi cũng đã tự rút ra cho mình một vài kinh nghiệm nhỏ,hy vọng
trao đổi cùng đồng nghiệp, mong góp một phần nhỏ kinh nghiệm của mình vào công tác dạy học
môn ngữ văn của huyện nhà. Đó chính là sử dụng “hình thức thảo luận nhóm,và tổ chức trò
chơi” trong dạy học môn văn ở trường THCS.
II. Cơ sở thực tiễn :
Chúng ta thấy rằng việc đổi mới phương pháp dạy học đã đem lại nhiều kết quả khả quan, song
bên cạnh những thuận lợi thì chúng ta còn gặp vô vàn những khó khăn .Đặc biệt đối với những
giáo viên đang giảng dạy ở huyện Cẩm Khê. Những khó khăn đó một mặt ở học sinh nhưng cũng
một phần ở chính những người giáo viên chúng ta.Môn ngữ văn trong nhà trường có vị trí quan
trọng bởi nó giáo dục phẩm chất đạo đức, cung cấp kiến thức tự nhiên và xã hội cho các em nên
việc dạy học văn vừa thuận lợi cũng vừa khó khăn:
1. Đối với giáo viên:
Thực tế huyện Cẩm Khê chúng ta số lượng giáo viên dạy văn còn quá trẻ,nhiều người mới bước
việc học .
Đặc biệt chúng ta thấy rằng bộ môn văn là một bộ môn cần đầu tư nhiều thời gian nhất, nhưng
đối với học sinh thuộc địa bàn huyện Đam Rông chúng ta việc đầu tư cho môn văn là điều khó
khăn. Bởi học sinh của chúng ta ngoài thời gian học trên lớp ra, về đến nhà là buông sách vở lo
lao động ,lên nương, lên rẫy kiếm sống, nhiều em còn là lao động chính trong gia đình, ban ngày
lao động vất vả ban đêm các em không thể đầu tư cho học hành được nhiều.Đây là một trở ngại
lớn nhất trong quá trình dạy –học trên địa bàn huyện Cẩm Khê chúng ta.
Bên cạnh những vấn đề trên thì trên thực tế vẫn còn một số ít học sinh ham thích môn văn,các
em cũng mong muốn trở thành những học sinh giỏi môn văn bằng chứng là vẫn có những học
sinh tham dự kì thi học sinh giỏi văn cấp huyện .Tuy nhiên những học sinh này cũng như các học
sinh khác gia đình thì khó khăn thiếu tiền hỗ trợ để mua các phương tiện ,tài liệu học tập ,sách
tham khảo…Chính điều này dần dần làm các em ngại và không mấy đầu tư vào môn văn.
Với tất cả những khó khăn trên dẫn tới vấn đề chúng ta dạy học theo phương pháp trên học sinh
của chúng ta thực hiện các thao tác chưa được nhanh nhẹn, một số em còn ỷ lại trông chờ bạn
bên cạnh trả lời, tư duy ,sáng tạo của các em còn hạn chế nên quá trình thực hiện nội dung bài
học còn chậm chạp.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.Các hình thức thảo luận nhóm,sử dụng trò chơi trong dạy học môn văn:
1.Hình thức thảo luận nhóm.
1.1.Cách thức tổ chức.
Với hình thức thảo luận nhóm thì chúng ta có thể sử dụng trong tất cả các tiết dạy ở tất cả các
bài. Còn hình thức tổ chức trò chơi thì chúng ta chỉ có thể áp dụng ở một số bài cho phù hợp
,chứ không phải bài nào cũng đem áp dụng. Tuy nhiên để sử dụng các trò chơi trong một tiết
dạy thì bắt buộc trong đó sẽ có hình thức thảo luận nhóm. Khi cho học sinh thảo luận nhóm có
rất nhiều cách để chúng ta thực hiện :
1.1.1. Viết sẵn câu hỏi ra giấy kẻ ngang rồi phát cho học sinh mỗi tổ 1tờ.
1.1.2. Ghi ra giấy rôki treo lên bảng hoặc bảng phụ,bảng mêka.
1.1.3. Chỉ cho học sinh câu hỏi trong sách và học sinh nhìn vào để thảo luận.
1.1.4.Từ một ý kiến của học sinh tổ chức cho các em thảo luận .
1.2.Chuẩn bị của giáo viên:
hiện hành động như thế nào? Bếp lửa luôn gắn với hình ảnh nào trong bài thơ? Bếp lửa có thể
hiện được sự ấp iu không ?
*Đối với bài: “Ánh trăng” của Nguyễn Duy :
? Tư thế, tâm trạng , cảm xúc của tác giả khi đột ngột gặp lại vầng trăng?
2.Hình thức sử dụng trò chơi trong dạy học văn.
2.1.Cách thức tổ chức.
Đối với việc sử dụng trò chơi thì chúng ta cũng cần chú ý lựa chọn trò chơi phù hợp với từng nội
dung bài dạy và thời gian của tiết học.Có thể sử dụng trò chơi “giải ô chữ” , “rung chuông vàng”,
“tiếp sức” …
Ví dụ :để dạy các văn bản ,những tác phẩm truyện chúng ta có thể tổ chức cho học sinh chơi trò
chơi : “giải ô chữ” bằng cách kẻ sẵn các ô chữ trên bảng phụ và đưa ra các câu hỏi gợi ý để tìm
ra nội dung
,nghệ thuật chính của truyện.Giáo viên cũng có thể tổ chức trò chơi “rung chuông vàng” ở cuối
tiết học bằng cách phân chia lớp thành nhiều nhóm và đưa ra những câu hỏi trắc nghiệm để học
sinh thảo luận ,nhóm nào trả lời đúng sẽ được điểm tối đa .Hoặc khi dạy các bài tiếng việt chúng
ta có thể tổ chức trò chơi “tiếp sức” ví dụ :học sinh này đưa ra ví dụ ,học sinh trong nhóm bổ
sung lẫn nhau đến khi rút ra được kết luận thì giáo viên ghi điểm cho nhóm đó.Tuy nhiên phải
chú ý một điều khi tổ chức các trò chơi giáo viên cần lưu ý nêu trước thể lệ trò chơi và quy định
thời gian cho học sinh biết để thực hiện.Và đặc biệt phải chú ý kết hợp các phương pháp khác để
có hiệu quả cao trong tiết dạy. Và khi đưa ra câu hỏi gợi ý trong trò chơi “giải ô chữ” giáo viên
phải chú ý sử dụng các câu hỏi gợi mở để học sinh nhanh chóng tìm ra ô chữ không để làm ảnh
hưởng đến tiết học và cuối cùng học sinh sẽ tìm ra được từ khóa chính là nội dung bài học ,hoặc
một phần của bài học ,ở mỗi một gợi ý tùy học sinh lựa chọn ô chữ để tăng thêm phần sôi nổi ,
hấp dẫn.học sinh trong nhóm trả lời không đúng giáo viên có thể gọi em khác tiếp sức thêm
tránh để thời gian chết.
2.2.Chuẩn bị của giáo viên.
2.2.1.Đọc ,tìm hiểu nội dung bài học.
2.2.2.Xác định nội dung quan trọng nhất cần sử dụng trò chơi.
2.2.3.Sắp xếp các ô chữ trong bảng phụ,nếu dạy ứng dụng công nghệ thông tin chỉ việc cài đặt
chế độ trong máy khi giảng dạy thực hiện từng bước với từng câu hỏi.
3.1.“ Các phương châm hội thoại” ,
3.2.“Xưng hô trong hội thoại”, ….
4.Tập làm văn:
4.1. Bài: “Miêu tả trong văn tự sự”,
4.2. Bài: “Đối thoại ,độc thoại .độc thoại nội tâm”,
4.3. Bài: “Người kể chuyện trong văn tự sự”….
Bài dạy thực nghiệm : tiết 68 tập làm văn “người kể chuyện trong văn tự sự” –NV 9 (Học kì I).
III.Bài dạy thực nghiệm:
Tất cả những vấn đề đã nói ở trên chỉ là lý thuyết và để thấy được kết quả cụ thể thì bản thân
tôi đã tiến hành thực hiện cụ thể một tiết dạy tập làm văn có sử dụng hình thức thảo luận nhóm
và trò chơi như sau:
1.Về phía chuẩn bị của giáo viên:
1.1.Giáo viên thực hiện quy trình lên lớp với bài “người kể chuyện trong văn tự sự” như một tiết
dạy bình thường ,trong khi giảng dạy căn cứ từng câu hỏi cho học sinh thảo luận nhóm và chơi
các trò chơi.
1.2Giáo viên dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà .
1.3Lên lớp hướng dẫn cho học sinh biết về hình thức học tập,cách thức tiến hành trò chơi ,thảo
luận như thế nào để các em định hình được.
1.4.Nếu dạy bình thường thì giáo viên chuẩn bị một bảng phụ bằng mêca để sử dụng bút phốt
còn nếu dạy học ứng dụng công nghệ thông tin thì có sự thuận lợi hơn đó là khi đưa ra các ô
chữ chúng ta có thể cho xuất hiện lần lượt với các kiểu chữ khác nhau ,từ chìa khóa có thể được
bôi màu ẩn đi khi học sinh trả lời xong mới xuất hiện .khi học sinh trả lời đúng trên máy chúng ta
cài chế độ cổ vũ ,khen thưởng làm học sinh hứng thú hơn .
2.Về phía chuẩn bị của học sinh:
2.1.Cần đọc các ví dụ thật kỹ nghiên cứu các câu hỏi trong SGK
2.2.Có thể chuẩn bị sẵn phiếu học tập và giấy nháp.
3.Tiến trình bài học:
-Ổn định tổ chức
-Kiểm tra bài cũ: bằng hình thức vấn đáp hoặc trắc nghiệm.
-Bài mới:
ở các lớp 6,7,8 các em đã được học về ngôi kể và chuyển đổi ngôi kể .Trong chương trình ngữ
văn lớp 9 ,các em tiếp tục được học nâng cao hơn một bước về người kể chuyện và ngôi kể
trong văn bản tự sự ,cụ thể như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu giờ học hôm nay.
*Tiến trình bài học:
*Hoạt động 1: ngữ liệu và phân tích ngữ liệu:
-HS: đọc đoạn trích SGK/192
-GV nêu vấn đề: đoạn trích trên được trích từ văn bản nào ,của tác giả nào?
?Đoạn trích trên kể về ai ? kể về sự việc gì?
?Ai là người kể về các nhân vật và sự việc trên.
? Những dấu hiệu nào cho biết ở đây không phải là các nhân vật trong đoạn trích kể chuyện?
( gợi: người kể có xưng tôi hoặc tên của một trong ba nhân vật không?).
-HS: trả lời
-GV: chốt ý.
? Những câu “giọng cười ….tiếc rẻ”, “những người ….như vậy” là nhận xét của người nào ,về ai?
-HS: trả lời
-GV:=> đó là lời của người kể chuyện về anh thanh niên và suy nghĩ của anh ta.
HS: Thảo luận câu d* SGK (3phút)
-GV: gợi ý : căn cứ vào chủ thể kể câu chuyện ,đối tượng được miêu tả, ngôi kể, điểm nhìn của
người kể và lời văn.
-GV: phát phiếu học tập->HS: Thực hiện
-GV ùng bảng phụ đã ghi sẵn nội dung và phân tích
? Đoạn trích trên được kể theo ngôi thứ mấy ? người kể chuyện có vai trò gì ?
- HS: Thực hiện ghi nhớ Sgk/193.
*Hoạt động 2:
-phân tích ngữ liệu 2
-HS: Đọc đoạn trích 2phút:
-GV:chia lớp thành 4 nhóm và tổ chức trò chơi “giải ô chữ” trong thời gian 5phút
Nêu thể lệ ,cách thức tiến hành trò chơi
+ trò chơi có các ô chữ gồm 8 hàng ngang
Mỗi một hàng ngang có một gợi ý để trả lời
B E H Ô N G
C O N N I N Đ I
T Ô I
H Ô N G H Ô C
T H Â M N Ư Ơ C M Ă T
I
*.Kết luận:
- Đoạn trích kể về cuộc gặp gỡ cảm động giữa chú bé Hồng với mẹ .
-Cách kể ở đọan trích này xưng “tôi” là bé Hồng .
-Người kể chuyện xưng “tôi” thuộc ngôi thứ nhất
=> người kể đi sâu miêu tả nội tâm với những diễn biến tinh vi ,phức tạp đang diễn ra trong tâm
hồn mình.Tuy nhiên lại không bao quát được các đối tượng
II.Luyện tập:
-Chuyển đổi ngôi kể ở đoạn trích 1 thành ngôi kể thứ nhất với người kể chuyện là anh thanh
niên.
*Hoạt động 4: Củng cố -dặn dò:
- GV: hệ thống lại vai trò người kể chuyện ở hai ngôi kể trên
- Về nhà các em chuyển đổi ngôi kể ở hai đoạn trích trên theo các ngôi
-Soạn bài “ Chiếc Lược Ngà”
………………………………………… ………�� �
KẾT QUẢ
Trên đây là một vài nhận biết và việc làm cụ thể của bản thân tôi trong việc thực hiện theo tinh
thần đổi mới phương pháp dạy – học giúp học sinh hứng thú hơn trong giờ học môn ngữ văn ở
trường trung học cơ sở. Qua tiết dạy có vận dụng hình thức thảo luận nhóm và sử dụng trò chơi
trong dạy học môn ngữ văn ở trường trung học sở Phượng Vĩ tôi đã thu được một số kết quả
sau:
-Tiết học tập làm văn khi xưa trầm lắng ,tẻ nhạt ,chỉ có thầy hỏi trò trả lời thì bây giờ các em
cảm thấy thoải mái hơn ,sôi nổi thảo luận với nhau và đưa ra các ý kiến của bản thân.
-Giờ học không còn là thầy hỏi rồi tự trả lời mà đã có học trò tham gia đối thoại ,tranh luận
-Các em cảm thấy hứng thú hơn không uể oải trong giờ học .
tượng học sinh.
1. Bình giảng tác phẩm Những đứa con trong gia đình
NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH
ĐỖ KIM HỒI
Đã có một lần nào, tôi thử điểm lại trong trí nhớ của mình tên những tác phẩm chính của Nguyễn
Thi: Người mẹ cầm súng, Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình, Những sự tích ở đất thép,
Ước mơ của đất, Chuyện xóm tôi, Ở xã Trung Nghĩa… Để rồi sực nghĩ ra rằng: hình như làm nên
một Nguyễn Thi trong nền văn học của chúng ta không phải là cảm hứng về những gì lạ lẫm, xa
vời, bay bổng, mà là Mẹ, là Đất, là Quê hương, làng xóm, những cái gắn bó ruột rà, thân thiết
với đời sống thuần hậu và còn rất nhiều cực khổ của con người. Đọc Nguyễn Thi, thấy tác phẩm
của ông nồng nàn hơi thở thô phác, ấm áp và mạnh mẽ của đất đai, những nhân vật của ông
cắm chắc vào đời sống, luôn luôn lăn lộn trong gian nguy vất vả, da dẻ cứ đỏ au lên vì nắng gió,
khẩu súng lúc nào cũng ấm tay người và áo quần dường như vẫn đẫm chất mồ hôi mặn mòi,
khét cháy.
Có thể bởi vậy mà khi nghĩ đến Nguyễn Thi, trong óc tôi thường cứ hay hiện về một ý thơ của
Nadim Hikmet:
Làm đám mây rất thích
Làm con chim lại càng thích hơn.
Nhưng tôi vui sướng được làm con người,
Và cái yêu thích nhất của tôi là đất,
… Hễ cứ rời xa mặt đất là một nỗi buồn xâm chiếm lấy tôi …
Nguyễn Thi hay viết về người anh hùng. Phẩm chất anh hùng, có thể nói, luôn có mặt ở các mức
độ khác nhau trong hầu như tất cả các nhân vật chính diện trong tác phẩm của ông. Nhưng đó là
kiểu người anh hùng – con đẻ của đất cày và sông nước; ở đó, cái anh hùng hòa lẫn với cái bình
dị, sự cao cả hiện ra dưới vẻ thân thuộc, gần gũi, chất phác tự nhiên, và rất lắm khi chất anh
hùng lại bộc lộ ra qua những biểu hiện đến là thơ ngây, ngộ nghĩnh.
Có cảm giác như, khi tìm cách lí giải, cắt nghĩa phẩm chất anh hùng của con người, Nguyễn Thi
đã rất tâm đắc với ý tưởng nghệ thuật này: người anh hùng đó là sản phẩm sinh ra từ thời đại.
Nhưng người anh hùng lại không chỉ là sản phẩm của thời đại mà thôi. Đọc Nguyễn Thi, ta thấy
rõ: phẩm chất anh hùng của họ còn phải được hiểu như sự tiếp nối một nguồn cội, một nếp nhà,
– bóng tối của màn đêm và bóng tối do mắt Việt bị thương nên không thể nhìn thấy gì ở bên
ngoài.
Khi chọn kiểu kể chuyện này không rõ tác giả có nghĩ đến và có chịu ảnh hưởng gì của lối viết
theo “dòng ý thức” của tác giả bộ Đi tìm thời gian đã mất hay không. Nhưng lối thuật chuyện mà
Nguyễn Thi đã chọn quả có giúp tác giả dễ dàng cất bỏ những tấm vách ngăn giữa quá khứ và
hiện tại, giữa cái đang ở trước mặt và cái đã thành kỉ niệm xa xưa, giữa những chi tiết thoáng
đến thoáng đi, tưởng chứng như bâng quơ, như ngẫu nhiên, với những tư tưởng tình cảm lớn
lao, trọng đại.
Hãy dõi theo một đoạn văn nào đó, chẳng hạn như cái đoạn bắt đầu từ câu: “Việt tỉnh dậy lần
thứ hai lúc trời lất phất mưa”. Tiếng máy bay, tiếng động duy nhất mà Việt nghe thấy trên một
bãi chiến trường đã trở nên vắng lặng từ lần tỉnh đầu tiên, bây giờ đã tắt hẳn rồi. Chỉ còn tiếng
“ếch nhái kêu dậy lên”. Âm thanh ấy dẫn Việt trở lại những ngày còn chưa đi bộ đội, những đêm
trời vừa dứt mưa, hai chị em lóp ngóp ra đồng soi đèn bắt ếch. “Cười từ lúc đi cho đến lúc về”.
Mạch liên tưởng miên man tràn đến chú Năm, vì “khi để ếch vào thùng, chú Năm thế nào cũng
sang”. Rồi ý nghĩ lại đi từ “Việt thương chú Năm…” lần lần chuyển qua cuốn sổ gia đình mà chú
vẫn ghi đều đặn, và những gì cuốn sổ ấy gợi lên. Đến đây, dòng ý nghĩ chợt đứt, vì Việt lại ngất
đi. Đoạn văn tiếp liền sau cũng thế. Nó mở đầu đột ngột với câu: “Việt choàng dậy”. Ta sẽ không
còn gặp ở đây tiếng ếch kêu đêm. Chỉ có, trong buổi ban ngày, tiếng chim cu rừng gù gù đâu đó.
Tiếng chim gợi nhớ chiếc ná thun. Và chiếc ná thun, đến lượt nó, thật không ngờ mà cũng thật
tất nhiên, đưa Việt về với những kỉ niệm về người mẹ, thoạt đầu là khi mẹ mất, rồi mới ngược
dần về những ngày mẹ còn sống với đàn con, về đôi mắt mẹ “sắc ánh lên nhìn bọn lính, đôi mắt
của người đã từng vượt sông, vượt biển”. Đến đúng khúc thiêng liêng ấy, mạch văn đột nhiên bị
ngắt giữa chừng, vì Việt lại bị ngất đi lần nữa.
Cứ thế, dòng tâm tư trong truyện chảy trôi, khi đến gần bờ hiện tại, khi lại lượn xa tắp về quá
vãng, nhịp trôi khi chậm khi nhanh, khi liền khi đứt. Tâm trạng con người hiện lên chân thật, tự
nhiên, bởi nó vốn dĩ vẫn như thế trong đời sống. Nhưng chính nhờ qua cái tổ chức lại, cải tạo lại,
những khoảng thời gian rất xa nhau bây giờ đồng hiện bên nhau, những khối không gian rất
cách biệt nhau bây giờ tồn tại cạnh nhau; đời sống như được soi chiếu dưới một thứ ánh sáng
khác, nó hiện lên trong nhiều màu vẻ phong phú, bất ngờ.
Nhưng ưu điểm của lối thuật chuyện theo dòng kí ức vừa liên tục vừa gián đoạn như đã nói ở
nhưng không chỉ là sự tiếp nối một huyết thống, mà còn là sự tiếp nối một truyền thống. Nhưng
còn một ý nghĩa thứ hai: không thể hiểu khúc sau của một dòng sông, nếu không hiểu ngọn
nguồn đã sinh ra nó. Cũng tương tự vậy, ta chỉ có thể hiểu về những đứa con của một truyền
thống gia đình khi, và chỉ khi ta hiểu ít nhiều về chính cái truyền thống gia đình đã sinh thành ra
những đứa con.
Trong truyện, cái truyền thống ấy không kết tinh ở nơi đâu đấy đủ hơn là trong hình tượng Chú
Năm. Đọc truyện, tôi thấy thích ông già này trước hết vì thứ ngôn ngữ đầy cá tính của ông. Một
thứ ngôn ngữ chỉ cần nghe thoáng qua đã nhận ra ngay cái chất Nam Bộ không thể nào trộn lẫn.
Nhưng có lẽ phải đợi tới khi qua miệng của chú Năm thì những từ Nam Bộ như trọng trọng, thỏn
mỏn mới được dịp trở nên cực thú. Truyện kể rằng chú Năm là người “đi đây đi đó nhiều” và
cũng “ham sông ham bến”. Nhưng đọc Những đứa con trong gia đình, ta thấy nhân vật này
không chỉ ham sông bến mà còn ham đạo nghĩa. Trong con người sống giữa thời chống Mĩ này,
vẫn thấy phảng phất cái tinh thần Nguyễn Đình Chiểu thuở xa xưa. Và điều đó được nhận ra vẫn
chủ yếu là qua lời nói: “Chú Năm nói mầy với ta đi kì nầy là ra chân trời mặt biển…” – đấy là
Chiến nhắc lại lời của chú Năm. Còn đây là lời nói trực tiếp của ông già ấy: “Việc nhà nó thu được
gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non”. Những câu nói như thế
này đặc sắc bởi đâu, nếu không phải bởi trong chúng ta nghe thấy âm vang của sóng nước và
của đạo lí nghìn xưa.
Nguyễn Thi đã trao cho tính cách thú vị này vai trò của một thứ gia phả sống. Đọc truyện, ta sẽ
thấy rõ rằng nhân vật này luôn hướng về truyền thống, sống với truyền thống, đại diện cho
truyền thống và lưu giữ truyền thống trong câu hò và cuốn sổ. Trong toàn truyện chỉ có chú Năm
là người duy nhất hay hò. “Chú hay kể sự tích của gia đình và cuối câu chuyện thế nào chú cũng
hò lên mấy câu… những câu nói về cuộc đời cơ cực của chú và những chiến công của đất này”.
Nhưng nhà văn muốn loại trừ ngay trong ta mọi vấn vương, dù nhỏ, của cách hiểu rằng cái
người hay hò này ít nhiều cũng là một tài năng nghệ thuật. Trong chú Năm, không hề có chút
bóng dáng nào của Trương Chi. “Chú già rồi, giọng hò đã đục và tức như gà gáy”. Nhưng hãy
xem con người có cái giọng “đục và tức” nọ hò mới thật hết mình, thật trang nghiêm, tha thiết
làm sao! “Gân cổ chú nổi đỏ lên, tay chú đặt lên vai Việt, đôi mắt chú mở to, đọng nước, nhìn
thẳng vào mắt Việt, đầu chú lắc lư, nhắc nhủ, làm như Việt chính là nơi cụ thể chú gửi gắm
những câu hò…”. Thì ra, những tấm áo vá quàng, con sông dài cá lội, người nghĩa quân Trương
đi, canh hai mới trở lại nhà, người sực mùi lúa gạo và mồ hôi, thứ mùi của đồng áng, của cần cù
sương nắng.
Nhưng ấn tượng đậm đà và có sức gây cảm động lòng người nhiều hơn ở cả con người ấy là khả
năng cắn răng ghìm nén đau thương để sống và duy trì sự sống, để chở che cho đàn con và
tranh đấu. Tôi cho đó mới là phẩm chất đích thực cao quý của người mẹ, chí ít thì cũng là của
người mẹ của một đất nước như đất nước mình, và của một thời như thời chống Mĩ. Là người
mẹ, tức là trở thành một sức mạnh mà không một tàn bạo, đau thương nào hòng khuất phục.
Người mẹ của chị em Chiến, Việt chính là như thế. Chồng bị giặc chặt đầu, nỗi đau ấy khác gì
dao cứa ngang tim, nhưng chị cố không để rơi nước mắt. “Chiều hôm đó, về tới nhà má mới
khóc… Bao nhiêu năm sau đó cũng vậy, lúc nào nói đến chuyện trên má cũng không khóc”. Và
nếu lệ cứ ứa ra, thì “má chỉ nằm khóc chứ không kể gì hết”. Đau thương ấy, người mẹ một mình
nuốt sâu vào đáy lòng, để lặng lẽ một mình chịu đựng sức thiêu đốt của một nỗi đau âm ỉ cháy.
Đấy mới đúng là người mẹ Việt Nam, con người vì tình yêu, sẵn sàng một mình chịu đau, một
mình chịu ướt.
Người mẹ nông dân bình dị đó, cũng như mọi người mẹ, đúng là hiện thân của yêu thương.
Nhưng cảm hứng của Nguyễn Thi về tình yêu người mẹ thường vẫn là cảm hứng về một tình
cảm có sức khiến con người không biết sợ, không biết chùn bước. Không thể không cảm động
khi đọc lời chị kể hồn nhiên: “Tao dạn là nhờ ba mày. Ba mày bị Tây nó chặt đầu, tao cứ đi theo
cái thằng xách đầu mà đòi. Đi từ ấp trong tới ấp ngòai, nó qua sông tao cũng qua, nó về quận
tao cũng tới. Một tay tao bồng em mày, một tay tao cắp rổ”. Ai ngờ truyền thống “yêu nhau tam
tứ núi cũng trèo…” có ngày lại hiện ra dưới hình thức đau đớn, dữ dội, bạo liệt thế này? Một
người vợ bồng con cắp rổ đi theo thằng giặc đòi đầu chồng, một người mẹ hiên ngang đối đáp
với kẻ thù mà “hai bàn tay to bản” vẫn “phủ lên đầu đàn con đứng nép dưới chân”…, những hình
ảnh ấy đáng được coi như biểu tượng về người mẹ ở một xứ sở mà cuộc sống quá nhiều khốc
liệt nhưng rất đỗi kiên cường, hết sức đau thương nhưng vô cùng cao cả.
Kiên cường, cao cả vì dưới một núi khổ đau, người mẹ ấy vẫn là sự sống: đôi mắt mở to, đôi bắp
chân tròn vo dính đầy sinh đất lội hết đồng này sang bưng khác, “con mắt tìm việc, bàn chân dò
đường”, vừa làm công cấy công gặt vừa dò tình thế bọn lính làng.
*
* *
Chiến đi bộ đội để trả thù nhà, với quyết tâm như dao chém đá: “Tao đã thưa với chú Năm rồi.
Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à”. “Đã làm thân
con gái…”, ra ở đời này không chỉ có “chí làm trai”.
Ở trên, ta đã nhiều lần nhắc đến nhân vật Việt, hình tượng xuất hiện nhiều nhất trên những
trang văn. Việt được bạn đọc yêu thích trước nhất là ở cái vẻ lộc ngộc, vô tư của một câu con
trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Chiến nhường nhịn em bao nhiêu thì Việt hay tranh giành với chị bấy
nhiêu. Đêm trước ngày ra đi, Chiến nói với em những lời nghiêm trang thì Việt lúc “lăn kềnh ra
ván cười khì khì”, lúc lại rình “chụp một con đom đóm úp trong lòng tay”. Vào bộ đội, Chiến đem
theo tấm gương soi – cái vật tùy thân của một cô gái lớn – còn Việt, anh chàng đem đi… một
chiếc súng cao su! Tôi đã đọc đi đọc lại mấy lần đoạn đối thoại dài nhất và xuất sắc nhất trong
toàn thiên truyện, và càng đọc càng thấy chịu tài tác giả. Sao mà ông có thể tái hiện lại sống đến
thế lời ăn tiếng nói của một anh chàng tồ tồ, vô lo vô nghĩ. Những lời đối thoại ấy không câu nào
giống câu nào mà sao câu nào cũng trúng phóc cái thần hồn thần tính của anh chàng Việt.
Nhưng sự vô tư không ngăn cản Việt trở nên một anh hùng. Ngược lại, nó cho cái chất anh hùng
của Việt thêm đẹp, thêm độc đáo. Đọc truyện, ta cảm thấy hình như chưa lúc nào Việt hết thơ
ngây của một con người không biết thế nào là khuất phục. Nên từ lúc còn bé tí, Việt đã dám
xông vào đá cái thằng đã giết cha mình. Và vẫn dòng máy đỏ chảy trong anh tân binh Việt chỉ
khi một mình, với đôi mắt không còn nhìn thấy gì, với hai bàn tay đau đớn vẫn quyết tâm ăn
thua sống mái với quân thù: “Trên trời có mày, dưới đất có mày, khu rừng này còn có mình tao.
Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Cứ vậy, người trai giản dị ấy thấy việc đi đánh giặc
nó cũng tự nhiên như đi bắt ếch hay bắn ná thun, việc đánh giặc cho kỳ đến lúc trả xong thù nhà
nợ nước nó là chuyện dĩ nhiên như thế, có gì đâu để mà bàn, để mà nghĩ ngợi…? Ấy thế mà xem
ra Việt lại là người đi xa hơn cả trong dòng sông truyền thống. Không chỉ vì Việt là người lập
chiến công lớn nhất. Mà còn vì thế hệ cha chú Việt đánh giặc đấy, nhưng vẫn lo tránh giặc. Còn
Việt, ngay khi chỉ có một tấm thân trơ trọi và đầy thương tích, Việt vẫn là người đi tìm giặc. “Mày
chỉ giỏi giết gia đình tao, còn đối với tao thì mày là thằng chạy”. Hồi bấy giờ, người ta thường nói
đến khí thế tiến công cách mạng của thời đại. Việt chính là hiện thân của sức trẻ tiến công.
Tôi sẽ không nói nhiều về đoạn văn vẫn được nhiều người cho là hay nhất truyện: đoạn tả chị
em Chiến, Việt khiêng bàn thờ mẹ, sang nhà chú. Chỗ hay nhất của đoạn văn hay nhất ấy có lẽ
là cái không khí thiêng liêng nó hoán cải cả cảnh vật lẫn con người. Con đường quen thuộc bỗng
được trang bị), về mặt nội dung bài dạy tôi xin không bàn, vì mỗi bài
khác nhau, có nội dung khác nhau, giáo viên phải biết cách lựa chọn và
phối hợp nhiều phương pháp sau cho phù hợp như các phương pháp
đọc – hiểu, diễn giảng, đàm thoại, nêu vấn đề, gợi mở, trực quan, thảo
luận nhóm…đó là sự vận dụng sáng tạo của giáo viên.
Tạo trang in
Tôi chỉ muốn trao đổi, về cái “rìa” trong tiến
trình thực hiện phương pháp mới, đôi khi
người ta không chú ý, không đầu tư cho nó
nhiều, những phần này thường được chuẩn
bị sơ sài, đại khái…nhưng tác dụng của nó
đối với sự cảm thụ văn chương của học
sinh thì không thấp chút nào. Đó là những
vấn đề tôi sẽ bàn dưới đây:
1. Kiểm tra bài cũ, vở bài soạn
Như một thói quen “truyền thống”, bất cứ
giờ dạy nào, trước khi học bài mới giáo
viên đều tiến hành kiểm tra bài cũ, môn văn
cũng không ngoại lệ.
Kiểm tra bài cũ, đây là phần làm mất thời
gian một cách vô ích, đôi khi còn làm cho
tiết dạy trở nên kém chất lượng đi. Thời
gian dành cho phần kiểm tra bài cũ thường
mất từ 5 -7 phút, có khi còn hơn cả chục
phút nữa. Học sinh lên trả bài mà thuộc thì
còn mau, còn tiết kiệm được thời gian, còn
hứng khởi mà dạy. Học sinh mà không
thuộc bài hoặc thuộc lấp vấp, cứ cập cà,
ậm ừ,…thì thôi rồi vừa mất thời gian mà
giáo viên lại dễ “nổi nóng” khiến không khí
học sinh làm trung tâm. Tôi chưa nói tới
việc, khi cho học sinh làm bài tập nhóm,
hoặc là các hoạt động ngoại khóa,…rất
nhiều cách để cho điểm các em, tùy thuộc
giáo viên có linh hoạt hay không mà thôi.
Cũng nên nhớ rằng cho điểm là nhằm kích
thích tinh thần học tập của cá nhân học
sinh, của nhóm hoặc của cả tập thể lớp chứ
đừng bao giờ cho điểm đi ngược lại mục
đích đó, đã có nhiều bài học kinh nghiệm từ
vấn đề này. Đừng bao giờ “tiết kiệm” điểm
với những em học sinh có tinh thần làm
việc nghiêm túc.
Soạn bài trước khi đến lớp đó là nhiệm vụ
của học sinh. Nhưng giáo viên cũng đừng
bao giờ kiểm tra vở bài soạn của từng em
một ngay trên lớp, rất mất thời gian. Làm
như thế nào thì hợp lý, vấn đề này tôi sẽ
trình bày ở phần dưới.
2. Lời vào bài
Đây là phần mà giáo viên ít đầu tư hoặc giả có
thì cũng chỉ qua loa mà thôi. Trong phương
pháp giảng dạy mới vấn đề này cũng không
được đề cập tới. Tôi thấy cần phải xem xét lại
và có cái nhìn đúng đắn về vấn đề này. Không
thể nào chấp nhận được những cách vào bài như
thế này “tiết trước chúng ta đã học bài…của tác
giả…., hôm chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp tác giả …
với bài…”,chúng ta đã làm quen với tác giả Tản
Đà với bài “Muốn làm thằng cuội” ở chương
các câu hỏi đó, thầy trò ta sẽ tìm hiểu tác
phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao…”Hoặc khi
dạy bài “Kính gởi cụ Nguyễn Du” của Tố
Hữu, nhất thiết phải phác họa lại hoàn cảnh
lịch sử trong giai đoạn đó, là những năm
mà “Bình –Trị -Thiên khói lữa” và tại sao
trong giai đoạn chiến tranh ác liệt như thế,
đất nước ta lại tiến hành kỉ niệm 200 năm
ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du ? Tại sao
Tố Hữu lại chọn thời gian đó để làm bài thơ
“Kính gởi cụ Nguyễn Du”phải chăng tác giả
có dụng ý gì? Đặt ra nhiều câu hỏi có vấn
đề, gợi sự tò mò cho học sinh trước khi học
bài mới, làm cho hứng thú học tập của học
sinh sẽ tăng lên.
Khi dạy những bài văn học nước ngoài, do
sự hiểu biết của các em về tác giả cũng
như các tác phẩm của tác giả đó rất hạn
chế, nếu không nói là đôi khi không biết gì
nữa là khác, nên nhất thiết phải giới thiệu
rõ ràng về tác giả cũng như tác phẩm một
cách thu hút trong phần lời vào bài. Như khi
dạy bài “Thư gởi mẹ” của Êxinin thì lời vào
bài có thể giới thiệu như sau:
“Êxênin (1895 -1925) là nhà thơ trữ tình nổi
tiếng của nước Nga đầu thế kỉ XX. Cuộc
đời ngắn ngủi, bất hạnh nhưng ông đã để
lại cho đời một tài sản thơ vô giá. Thơ ông
phản ánh một tình yêu đằm thắm, sâu nặng
với quê hương, đất nước. Êxênin sinh