MỤC LỤC
Trang
Chương 1: Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 1
1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 1
1.2 Mục tiêu 1
1.3 Cơ sở tính thuế 2
1.4 Đối tượng nộp thuế và thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân 2
1.4.1 Đối tượng nộp thuế 2
1.4.2 Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân 2
1.4.3 Thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân 4
1.5 Các khoản giảm trừ 5
1.5.1 Giảm trừ gia cảnh 5
1.5.2 Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện nhân đạo 5
1.6 Biểu thuế và cách tính thuế 5
1.6.1 Biểu thuế lũy tiến từng phần 5
1.6.2 Biểu thuế toàn phần 6
1.6.3 Cách tính thuế 6
1.7 Một số vấn đề cơ bản về thu nhập từ tiền lương, tiền công 6
1.7.1 Thu nhập từ tiền lương, tiefn công 6
1.7.2 Các khoản phụ cấp, trợ câp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ
tiền lương, tiền công 7
1.7.3 Các khoản tiền thưởng được trừ khi tính thu nhập chịu thuế từ tiền lương,
tiền công 8
Chương 2: Tác động của thuế thu nhập cá nhân đối với người làm công ăn lương.9
2.1 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 9
2.2 Những điểm mới có tác động tích cực của thuế thu nhập cá nhân 9
2.3 Những điểm bất cập trong thuế thu nhập cá nhân 13
Chương 3: Một số kiến nghị 19
3.1 Nên nâng mức khởi điểm khấu trừ 19
3.2 Mở rộng diện giảm trừ 19
3.3 Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt 19
chính sách thu và còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng
thu khá lớn trong những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối
với người có thu nhập cao là 62 tỷ, thì đến năm 2000 thu được 1.832 tỷ và đến năm 2005
số thu đã đạt 8.300 tỷ. Tuy vậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân
sách.
• Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi
điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi
sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì
tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Ở nhiều nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những
cá nhân mang gánh nặng xã hội.
Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch nhau, số
đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá nhân có thu nhập khá cao,
nhất là những cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong
khu chế xuất hoặc có một số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Mặc dù
thuế thu nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét trên
phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước thì
2
thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó việc điều tiết thuế thu nhập đối
với những người có thu nhập cao là cần thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã
hội.
1.3. Cơ sở tính thuế
Ở Việt Nam có hai cơ sở tính thuế:
• Tính thuế theo nguyên tắc cư trú
Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế và
thuế suất.
Thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ các khoản sau:
- Các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt
buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác theo quy định của pháp luật.
hành nghề theo quy định của pháp luật.
• Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
- Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp
luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy
hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại,
nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó
khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh
con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí
một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của
Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải
quyết tệ nạn xã hội;
- Tiền thù lao dưới các hình thức;
- Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội
đồng quản lý và các tổ chức;
- Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng
tiền;
- Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước
phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền
thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
• Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
- Tiền lãi cho vay;
- Lợi tức cổ phần;
- Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính
phủ.
• Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
- Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;
- Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;
- Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với
con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ
với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em
ruột với nhau.
- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối,
nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ
chế thông thường.
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để
sản xuất.
- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.
- Thu nhập từ kiều hối.
- Phần tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương làm
việc ban ngày, làm trong giờ theo quy định của pháp luật.
- Tiền lương hưu do Bảo hiểm xã hội chi trả.
- Thu nhập từ học bổng, bao gồm:
a) Học bổng nhận được từ ngân sách nhà nước;
b) Học bổng nhận được từ tổ chức trong nước và ngoài nước theo chương trình
hỗ trợ khuyến học của tổ chức đó.
- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn
lao động, khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của
pháp luật.
5
- Thu nhập nhận được từ quỹ từ thiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép
thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, không nhằm mục đích
lợi nhuận.
- Thu nhập nhận được từ nguồn viện trợ nước ngoài vì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới
hình thức chính phủ và phi chính phủ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
1.5. Các khoản giảm trừ
1.5.1 Giảm trừ gia cảnh
- Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối
Bậc
thuế
Phần thu nhập tính
thuế/năm
(triệu đồng)
Phần thu nhập tính
thuế/tháng
(triệu đồng)
Thuế suất
(%)
6
1 Đến 60 Đến 5 5
2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10
3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15
4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20
5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25
6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30
7 Trên 960 Trên 80 35
Thu nhập tính thuế áp dụng Biểu thuế này là thu nhập của cá nhân cư trú có thu nhập
chịu thuế từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công sau khi đã trừ đi khoản giảm trừ
gia cảnh, các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo,
khuyến học.
1.6.2 Biểu thuế toàn phần
Thu nhập tính thuế Thuế suất (%)
a) Thu nhập từ đầu tư vốn 5
b) Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5
c) Thu nhập từ trúng thưởng 10
d) Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10
đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn quy định tại khoản 1 Điều
13 của Luật này
doanh, hội đồng quản trị doanh nghiệp, ban kiểm soát doanh nghiệp, ban quản
lý dự án, hội đồng quản lý, hội đồng doanh nghiệp và các tổ chức khác.
- Các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được
hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho
người lao động, cụ thể như sau:
a) Tiền nhà ở, tiền điện, nước và các loại dịch vụ khác kèm theo. Trường hợp cá
nhân ở tại trụ sở làm việc thì thu nhập chịu thuế căn cứ vào tiền thuê nhà, hoặc
chi phí khấu hao, tiền điện, nước và các dịch vụ khác tính theo tỷ lệ giữa diện
tích cá nhân sử dụng với diện tích trụ sở làm việc.
b) Tiền mua bảo hiểm đối với các hình thức bảo hiểm mà pháp luật không quy
định trách nhiệm bắt buộc người sử dụng lao động phải mua cho người lao
động.
c) Các khoản phí hội viên phục vụ cho cá nhân như: thẻ hội viên sân gôn, sân quần
vợt, thẻ sinh hoạt các câu lạc bộ văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao.
d) Các dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân trong hoạt động chăm sóc sức khoẻ, vui
chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ.
đ) Các khoản lợi ích khác mà người sử dụng lao động chi cho người lao động phù
hợp với các quy định của pháp luật như: chi trong các ngày nghỉ, lễ; thuê các
dịch vụ tư vấn, thuê kê khai thuế; chi cho người giúp việc gia đình như lái xe,
người nấu ăn, người làm các công việc khác trong gia đình theo hợp đồng, trừ
các khoản khoán chi như: văn phòng phẩm, điện thoại, công tác phí, trang phục.
- Các khoản thưởng như tháng, quý, năm, thưởng đột xuất, thưởng tháng lương
thứ 13 bằng tiền hoặc không bằng tiền (kể cả thưởng bằng chứng khoán). Trường
hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu thì giá trị thưởng được xác định theo
mức thưởng ghi trên sổ sách kế toán của đơn vị trả thưởng.
1.7.2. Các khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền
lương, tiền công bao gồm:
- Phụ cấp đối với người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi
đối với người có công, bao gồm: phụ cấp, trợ cấp cho thương binh, bệnh binh, cho
thân nhân liệt sỹ; phụ cấp, trợ cấp cho cán bộ hoạt động cách mạng; phụ cấp, trợ cấp
kèm theo các danh hiệu thi đua, các hình thức khen thưởng theo quy định của pháp
luật về thi đua khen thưởng, cụ thể:
a) Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu thi đua như Chiến sĩ thi đua toàn quốc;
Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương; Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến, Chiến sỹ tiên tiến;
b) Tiền thưởng kèm theo các hình thức khen thưởng như Huân chương, Huy
chương các loại.
c) Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu vinh dự nhà nước như danh hiệu Bà mẹ
Việt Nam anh hùng, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, danh
hiệu Anh hùng, danh hiệu Nhà giáo, Thầy thuốc, Nghệ sỹ Nhân dân,
d) Tiền thưởng kèm theo giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước.
đ) Tiền thưởng kèm theo Kỷ niệm chương, Huy hiệu.
e) Tiền thưởng kèm theo Bằng khen, Giấy khen.
Thẩm quyền ra quyết định khen thưởng, mức tiền thưởng kèm theo các danh hiệu
thi đua, hình thức khen thưởng nêu trên phải phù hợp với quy định của Luật Thi đua khen
thưởng.
9
- Tiền thưởng kèm theo các giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế được Nhà nước
Việt Nam thừa nhận.
- Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận.
- Tiền thưởng về phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
CHƯƠNG 2:
TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM CÔNG
ĂN LƯƠNG
10
2.1. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
- Thuế thu nhập cá nhân là lại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng
phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài). Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá nhân
có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên
tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã bổ sung thêm một điều kiện nữa được
coi là cư trú ở Việt Nam, đó là "cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có
nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời
hạn". Bổ sung như vậy làm cho việc xác định đối tượng nộp thuế được thuận lợi hơn, bao
quát hết đối tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp thuế một cách hợp lý.
• Đổi mới cách phân loại thu nhập chịu thuế để xác định nghĩa vụ thuế
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân
chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Tuy nhiên, Pháp
lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không
thường xuyên. Do vậy, trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn. Đồng thời,
11
việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc
tế. Luật thuế TNCN đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuế
theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo đó, thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh
doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển
nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ trúng
thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng
quyền thương mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập. Từ cách
phân loại này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ
kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối với
các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần.
• Mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập
chịu thuế
Điều này góp phần điều tiết công bằng thu nhập của các tầng lớp dân cư theo
hướng mọi cá nhân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập rất thấp và một số trường hợp
đặc biệt) đều phải có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Đồng thời, bằng quy định mới
này, Luật thuế TNCN sẽ góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước một cách hợp lí trên
cơ sở không bỏ sót nguồn thu của nền kinh tế.
12
Có ý kiến cho rằng, mức giảm trừ gia cảnh như trên là thấp. Tuy nhiên, mức giảm
trừ gia cảnh như trên là phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam trong những
năm tới và phù hợp với quản điểm cải cách hệ thống thuế của Việt Nam. Theo đó, với
mức thu nhập bình quân đầu người dự kiến cho năm 2009 là khoản 1.5 triệu đồng/tháng
thì mức giảm trừ cho bản thân đối tượng nộp thuế ở mức 4 triệu đồng/tháng có ý nghĩa
rằng, chỉ những người có thu nhập từ trung bình khá trở lên mới phải nộp thuế (và chỉ
phải nộp đối với phần thu nhập vượt trên mức giảm trừ này). Những năm sau đó, khi thu
nhập tăng lên, mức giảm trừ này sẽ tiến gần đến với mức thu nhập trung bình trong xã
hội và khi đó những người có thu nhập ở mức trung bình trở lên sẽ phải nộp thuế TNCN.
Điều này có nghĩa là Luật sẽ tự động mở rộng diện đánh thuế để thực hiện nguyên tắc
mọi công dân có thu nhập (trừ trường hợp thu nhập quá thấp) đều có nghĩa vụ nộp thuế
cho Nhà nước, từ đó đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư. Tất
nhiên, đến một thời điểm nào đó, khi thu nhập và mức sống của dân cư đã tăng rất cao,
Quốc hội sẽ xem xét điều chỉnh mức giảm trừ này cho phù hợp với định hướng vừa phân
tích trên.
Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ
thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế. Những người phụ thuộc
được giảm trừ khá rộng, bao gồm: con chưa thành niên, con đang học đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp, con tàn tật không có khả năng lao động; các cá nhân khác
không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc
không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ
chồng, cô, dì, chú, bác, cháu…). Luật cũng không khống chế mức giảm trừ tối đa cho
người phụ thuộc (trong dự thảo Luật lấy ý kiến nhân dân, dự kiến khống chế mức giảm
trừ tối đa cho người phụ thuộc là 10 triệu đồng/tháng)
Việc mở rộng diện giảm trừ như trên cho những người phụ thuộc đảm bảo thực
hiện công bằng trong điều tiết thu nhập và phù hợp với đạo lý xã hội của người Việt
Nam, chắc chắn sẽ nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo nhân dân.
Ví dụ: Nếu như trước đây, người nộp thuế có thu nhập là 10 triệu đồng/tháng (bất
kể diện độc thân hay diện đã có gia đình phải nuôi cha mẹ, con cái) nộp thuế suất 10%
5.000.000
0
7.000.000
70.000
10.000.000
220.000
12.000.000
390.000
15.000.000
690.000
18.000.000
1.110.000
20.000.000
1.410.000
25.000.000
2.230.000
Số liệu trong cột số (4) thể hiện số âm (-) thể hiện lợi ích khi chuyển sang áp dụng Luật
Thuế TNCN: chính là số tiền thuế mỗi tháng nộp ít hơn so với mức thuế theo quy định
trước đây.
• Áp dụng giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo
Khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế
nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh;
không áp dụng đối với các khoản thu nhập khác. Đây là điểm mới không chỉ so với Pháp
lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành mà còn mới ngay cả đối với
bản dự án Luật lấy ý kiến nhân dân. Nội dung mới này của Luật được Quốc hội tiếp thu ý
kiến nhân dân. Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham
gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Đồng thời, đây cũng chính là một khoản "chi tiêu
qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà
nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện.
Chẳng hạn như, một người có thu nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu
của đất nước và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay. Với
việc ban hành Luật thuế quan trọng này, hệ thống thuế của chúng ta đang hướng đến phù
hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tới một hệ thống thuế công bằng và hiện đại
hơn.
2.3. Những điểm bất cập trong thuế thu nhập cá nhân
• Vẫn nhiều thủ tục rườm rà
Với quá nhiều quy định trong việc kê khai, nộp thuế, người nộp thuế phải tốn rất nhiều
thời gian, công sức để tìm hiểu các thủ tục giấy tờ
• Trong việc xác nhận giảm trừ gia cảnh
Có 7 đối tượng được xem xét trong diện phụ thuộc với vô số giấy tờ xác nhận.
Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là ông bà nội, ông bà ngoại; cô, dì, chú, bác,
cậu ruột; anh, chị, em ruột; cháu ruột, các cá nhân khác và nội dung xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp người phụ thuộc là ông, bà nội, ông, bà ngoại,
cô, dì, chú, bác, cậu ruột, cháu ruột, các cá nhân khác:
- Trường hợp người phụ thuộc cùng hộ khẩu với đối tượng nộp thuế thì không cần xác
nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã mà chỉ cần bản sao hộ khẩu.
- Trường hợp người phụ thuộc không cùng hộ khẩu nhưng đang sống cùng đối tượng
nộp thuế là: bản sao đăng ký tạm trú hoặc bản tự khai ( theo mẫu số 21a/XN- TNCN
trong thông tư 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009) có xác nhận Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi đối tượng nộp thuế sống về việc người phụ thuộc đang sống cùng.
- Trường hợp người phụ thuộc không sống cùng đối tượng nộp thuế nhưng đối tượng
nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng thì đối tượng nộp thuế tự khai (mẫu 21b/XN-
TNCN theo thông tư 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009) và đề nghị Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người phụ thuộc đang sống xác nhận về việc người phụ thuộc hiện đang
sống tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng
Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là người tàn tật không có khả năng lao
động:
- Trường hợp người tàn tật không có khả năng lao động nhưng không có xác nhận của
cơ quan y tế thì đối tượng nộp thuế tự khai ( theo mẫu số 22/XN- TNCN theo thông
15
thuế nộp bản photocopy tiếng nước ngoài kèm bản tự dịch ra tiếng Việt (không cần công
chứng hoặc xác nhận của bất cứ cơ quan nào). Người nộp thuế phải chịu hoàn toàn trách
nhiệm về tính chính xác của bản photocopy và bản dịch
• Trong việc khấu trừ thuế TNCN
Để hoàn thuế thu nhập cá nhân cho những người có nhiều nguồn thu nhập khác
nhau phải cần đến rất nhiều thủ tục rườm rà.
Hồ sơ hoàn thuế gồm có:
- Văn bản đề nghị hoàn thuế theo mẫu số 01/HTBT ban hành kèm theo Thông tư số
60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính.
- Bản sao chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu.
- Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
- Chứng từ khấu trừ thuế, biên lai thu thuế thu nhập cá nhân.
16
- Chứng từ xác định tình trạng kết thúc thời gian làm việc như quyết định nghỉ hưu,
quyết định thôi việc, bản thanh lý hợp đồng lao động, bảng kê xác định ngày cư trú,
(nếu có).
- Giấy uỷ quyền trong trường hợp uỷ quyền khai hoàn thuế (nếu có).
Rất nhiều loại giấy tờ phức tạp, riêng “Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân”
lại phải kèm theo 3 loại phụ lục nữa.
Như vậy để có thể lấy lại số tiền vốn là của mình (do không thuộc đối tượng nộp
thuế thu nhập nhưng vẫn bị khấu trừ), người dân phải hoàn tất hàng chục loại giấy tờ rắc
rối phức tạp. Rồi gửi hồ sơ đến cơ quan thuế, nếu sai sót còn phải bổ sung, sau đó chờ
quyết định hoàn thuế rồi mới đi kho bạc rút tiền. Người không rành thủ tục có thể phải
thuê người tư vấn, ngoài ra còn chi phí đi lại, cước bưu điện Quả là quá nhiêu khê, rắc
rối và tốn kém, đến mức hầu như không ai làm, chỉ trừ trường hợp số tiền hoàn thuế
tương đối lớn. Trường hợp này rơi vào những cá nhân có thu nhập thấp, có nguồn thu
nhập khác nhau, làm việc không có hợp đồng lao động, như sinh viên, công nhân xây
dựng, cộng tác viết báo
Hiện nay, cách quản lý thuế đối với những người có hợp đồng lao động, làm việc
tại một nơi là tương đối hợp lý. Thế nhưng, với người làm việc ở nhiều nơi, không có chỗ
dựng, sinh viên
Quy định khai và tính thuế
Cá nhân có hợp đồng lao
động
Hằng tháng giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người
phụ thuộc rồi mới tính thuế TNCN để tạm nộp, cuối
năm quyết toán.
Cá nhân có hợp đồng lao
động và có nơi làm thêm
Tương tự như trên, nhưng phần thu nhập ở nơi làm
thêm chưa được tính để giảm trừ gia cảnh hằng tháng,
vẫn phải tạm nộp thuế 10%, cuối năm quyết toán.
Cá nhân không hợp đồng lao
động, có mã số thuế
Khấu trừ 10% trên thu nhập, cuối năm quyết toán mới
được giảm trừ gia cảnh.
Cá nhân không hợp đồng lao
động, không mã số thuế
Khấu trừ 20% trên thu nhập. Nếu không kê khai và
đăng ký mã số thuế thì không thể giảm trừ gia cảnh và
quyết toán thuế.
• Với những người làm thời vụ
Nếu người lao động làm việc trong các hang, cơ sở có hợp đồng lao động từ 3
tháng trở lên thì áp dụng cách tính thuế hàng tháng, cuối năm quyết toán lại. Nhưng
ngược lại nếu có hợp đồng lao động thời vụ dưới 3 tháng hoặc không có hợp đồng lao
động thì cứ thu nhập từ 500.000 đồng trở lên sẽ bị nơi trả lương khấu trừ 10% trên thu
nhập đối với các cá nhân đã có mã số thuế, hoặc khấu trừ 20% trên thu nhập đối với các
cá nhân không có mã số thuế, cuối năm sẽ quyết toán thuế tại cơ quan thuế địa phương
nơi cư trú.
Một viên chức nhà nước có hai người phụ thuộc, được giảm trừ gia cảnh 7,2 triệu
Theo các chuyên gia thuế, quy định này nhằm buộc cá nhân phải đăng ký mã số
thuế, qua đó cơ quan thuế sẽ quản lý được cá nhân nộp thuế. Tuy nhiên, rơi vào trường
hợp này phần lớn là người có thu nhập thấp như công nhân xây dựng, sinh viên làm
thêm làm việc xa nhà, do hoàn cảnh nên không có điều kiện quyết toán thuế và có tâm
lý ngại đụng chạm đến giấy tờ
Ai cũng biết rằng thường những người làm công ăn lương không được ký hợp
đồng lao động là những người có công ăn việc làm không ổn định hoặc những người phải
làm thêm công việc bán thời gian để kiếm sống như giới công nhân ngành xây dựng, giới
sinh viên làm thêm, những người lao động làm các công việc không cần tay nghề cao
và dĩ nhiên là lương thấp. Điều phi lý là những người phải bán sức lao động này đa số là
người ít chữ nghĩa, lao động nhập cư, nay phải về nơi cư trú để mà đăng ký mã số thuế
nếu không muốn bị tạm khấu trừ thuế đến 20% thu nhập và cuối năm phải tự mình kê
khai quyết toán thuế để được hoàn thuế, trong khi đó những người có hợp đồng lao động
lại được các công ty lo hết từ đăng ký mã số thuế đến quyết toán thuế (nếu mức lương
phải đóng thuế). Mười phần trăm lương đối với người lao động hằng ngày phải trực tiếp
dầm mưa dãi nắng không nhỏ chút nào.
Một người bạn từng đi phát lương cho các công nhân ở các công trường xây dựng
phải kêu lên rằng: thậm chí có rất nhiều công nhân chữ ký còn không biết ký thế nào,
nay phải đi đăng ký mã số thuế rồi cuối năm phải đi quyết toán thuế mong được hoàn
thuế với những cán bộ thuế chuyên nghề hạch sách thì khổ cho họ quá. Phải chăng nhà
nước mở đường cho một loại hình tham nhũng mới cho cán bộ thuế?
Hiện giờ các công ty xây dựng cũng đang rối lên vì thông tin tạm khấu trừ thuế
10% đối với các tổ đội thầu khoán cho các công trình hoặc có nên ký hợp đồng với các
công nhân xây dựng hay không?
Đối với các tổ đội thầu khoán nếu công ty chịu luôn khoản 10% thuế thì sẽ bị đội
chi phí công trình vì chỉ có người lao động mới được hoàn thuế, còn nếu trừ thẳng 10%
(khi đăng ký mã số thuế cho tổ trưởng, đội trưởng) thì sẽ thiếu hụt nhân lực vì chắc chắn
rằng, một là, các tổ đội đó trừ thẳng lại những người lao động trực tiếp, hai là, cả tổ
không làm nữa. Vì với tư cách là một đội thầu khoán không có tư cách pháp nhân mà lại
bị nhà nước giam 10% thuế để cuối năm phải làm hồ sơ thống kê lại phát lương cho anh
trình biểu diễn nước ngoài rất khó cho cơ quan thuế xác định chính xác thu nhập của họ
ngoài việc tự các cá nhân này tự kê khai thu nhập của chính mình.
Thực tế cho thấy, với thu nhập từ đóng phim quảng cáo, các ca sĩ vẫn bị nộp thuế
vì đơn vị chi trả thực hiện khấu trừ tại nguồn rất nghiêm túc. Còn thu nhập từ phòng trà
thì ngành thuế không thể nắm được bởi thuế áp dụng với các phòng trà hiện nay là thuế
khoán, các phòng trà luôn kê khai mức cát-sê chi trả cho các ca sĩ thấp (để nộp thuế ít);
trong khi trên thực tế, mức cát-sê luôn cao vì yếu tố cạnh tranh.
Thêm nữa, tần suất biểu diễn nước ngoài của các ca sĩ khá dày nhưng đã nhiều
năm rồi, cơ quan thuế không thu được đồng nào từ các khoản thu nhập này bởi chỉ biết
trông chờ vào sự tự giác của các ca sĩ. Thế mới có chuyện 144 nghệ sĩ ở TPHCM một
năm chỉ đóng thuế TNCN hơn 800 triệu đồng; còn một cá nhân làm trong ngành dược
(cũng ở TPHCM) nộp thuế đến 4,83 tỉ đồng/năm! Tương tự là nhóm cá nhân hành nghề
độc lập có thu nhập cao như bác sĩ, giảng viên thỉnh giảng, luật sư, kiến trúc sư Thế
nên, hễ ai tự giác khai thu nhập thì người đó bị thiệt.
• Phạm vi giảm trừ còn hẹp
Về đối tượng giảm trừ gia cảnh nếu chỉ tính là người phụ thuộc là chưa bao quát,
chưa đủ. Ở một số nước, ngoài giảm trừ gia cảnh còn giảm trừ nghề nghiệp và giảm trừ
theo lý do sức khỏe.
20
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.1. Nên nâng mức khởi điểm khấu trừ
Để giảm bớt rắc rối cho người lao động có thu nhập ở nhiều nơi, nên nâng mức
khởi điểm khấu trừ 10% khi nhận thu nhập lên 1 triệu đồng, thay vì 500.000 đồng/lần
như hiện nay. Mức khấu trừ cao hơn sẽ hạn chế tối đa tình trạng khấu trừ thuế của cả
người có thu nhập thấp.
Với trường hợp ở đơn vị chỉ có người nộp thừa thì đơn vị chi trả ứng trước tiền để
hoàn thuế cho người lao động và quyết toán sau với cơ quan thuế. Ngược lại chỉ có người
nộp thiếu thì khấu trừ số thuế thiếu và nộp vào ngân sách.
Nếu số thuế của người nộp thừa lớn hơn thuế của người nộp thiếu thì đơn vị chi
không khấu trừ thuế tại nguồn, không đăng ký kê khai thuế…
21
Bởi lâu nay, các vụ việc vi phạm thuế thu nhập cá nhân chưa được xử lý triệt để,
thích đáng và số vụ án trốn thuế được đưa ra xét xử cũng không nhiều, nên không tạo
được tính răn đe, cũng như nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ nộp thuế của mọi công
dân sống và làm việc trong cộng đồng.
3.4. Khấu trừ tại nguồn
Khấu trừ tại nguồn cũng là một giải pháp. Theo ông Nguyễn Thái Sơn - Trưởng
phòng Thuế thu nhập cá nhân : “Chìa khoá của sự thành công trong việc quản lý và thu
thuế thu nhập cá nhân là công tác khấu trừ tại nguồn. Do vậy, ở một số nơi như Nhật
Bản, Đài Loan, Trung Quốc, cơ quan quản lý thuế sẽ xử phạt rất nặng đối với những đơn
vị nào không thực hiện khấu trừ tại nguồn khi chi trả thu nhập cho người lao động…”.
Ở Nhật Bản, số thu thuế thu nhập cá nhân hằng năm chiếm hơn 30% tổng số thu thuế nội
địa, và có đến 82% trên tổng số thu là được khấu trừ tại nguồn. Kinh nghiệm quản lý thuế
thu nhập cá nhân từ đất nước mặt trời mọc này cho thấy, tất cả các nguồn thu nhập của
đối tượng nộp thuế đều được chi trả qua hệ thống ngân hàng, từ hệ thống này dữ liệu sẽ
được nhập bằng máy tự động (OCR) rồi truyền về ngân hàng nhà nước.Tại ngân hàng
trung ương, các thông tin về thu nhập của người nộp thuế sẽ được giám sát bằng hệ thống
(KSK) quản lý thông tin về thuế. Khi đó, cơ quan thuế chỉ việc “nhấp chuột” vào hệ
thống này để kiểm tra, giám sát và thu thuế.
3.5. Quản lý bằng kỹ thuật số
Việc quản lý bằng kỹ thuật số và quản lý mã số thuế cá nhân giúp cho công tác
thống kê, tổng hợp, phân tích được nhanh chóng và hiệu quả.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật thuế thu nhập cá nhân ngày 21/11/2007.
2. Nghị định của Chính Phủ số 100/NĐ-CP ngày 08/09/2008 quy định chi tiết một
số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.
3. Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế thu nhập
cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định 100/NĐ-CP ngày 08/09/2008.