CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT
1.1 Khái niệm:
1.1.1 Thuế: Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ
phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước
ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế
không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người
định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật.
1.1.2 Thuế tiêu thụ đặc biệt: là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ
thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành
trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch
vụ.
Thuế tiêu thụ đặc biệt được áp dụng phổ biến ở các nước trên thế giới với những tên gọi
khác nhau: chẳng hạn ở Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt,ở Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt;
ở nước ta, tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành
năm 1951. Ðến năm 1990 Bộ tài chính soạn thảo dự án luật thuế mới, đổi thuật ngữ thuế
hàng hóa thành thuế tiêu thụ đặc biệt và được Quốc hội thông qua ngày 30- 6- 1990.
1.2 Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt:
- Về bản chất, thuế TTĐB là một loại thuế gián thu do người tiêu dùng chịu. Thuế suất của
nó mang tính đặc thù cao giúp ta phân biệt với các loại thuế gián thu khác.
+ Thuế TTĐB có diện đánh thuế hẹp.
+ Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế quy định rất cao vì thuế đánh
vào một số hàng hóa dịch vụ mang tính chất xa xỉ, chưa thật cần thiết cho nhu cầu thiết yếu
hàng ngày của con người và có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người trong xã hội.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu một lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh
doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
1.3 Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt:
- Thông qua chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt, nhà nước động viên một phần thu nhập đáng
kể của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước.
- Công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng hướng dẫn sản xuất và điều tiết
tiêu dùng xã hội.
- Công cụ để nhà nước điều tiết thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước một
a) Xe ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống, trừ loại quy định tại
điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
Loại có dung tích xi lanh từ 2.000 cm
3
trở xuống 45
Loại có dung tích xi lanh trên 2.000 cm
3
đến 3.000 cm
3
50
Loại có dung tích xi lanh trên 3.000 cm
3
60
b) Xe ô tô chở người từ 10 đến dưới 16 chỗ, trừ loại quy định
tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
30
c) Xe ô tô chở người từ 16 đến dưới 24 chỗ, trừ loại quy định
tại điểm 4đ, 4e và 4g Điều này
15
d) Xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng (loại có từ hai hàng
ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở
người và khoang chở hàng), trừ loại quy định tại điểm 4đ, 4e
15
2
và 4g Điều này
đ) Xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện, năng
lượng sinh học, trong đó tỷ trọng xăng sử dụng không quá
70% số năng lượng sử dụng.(được thiết kế theo tiêu chuẩn của
nhà sản xuất có tỷ lệ xăng pha trộn không quá 70% tổng số
nhiên liệu sử dụng và loại xe kết hợp động cơ điện với động
Số thuế TTĐB phải nộp = Giá tính thuế TTĐB x Thuế suất
1.6.1 Đối với hàng hoá sản xuất trong nước, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác
định như sau:
Giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt =
1 + Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
Trong đó, giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng được xác định theo quy định của pháp luật
về thuế giá trị gia tăng.
3
1.6.2 Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định như sau:
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập khẩu.
Giá tính thuế nhập khẩu được xác định theo các quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính
thuế không bao gồm số thuế nhập khẩu được miễn, giảm.
1.7 Văn bản liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt qua các năm
Luật Thuế TTĐB lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 trong chương trình cải cách
thuế giai đoạn I. Quá trình thực hiện, thuế TTĐB đã được sửa đổi và hoàn thiện nhiều lần để
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn và các yêu cầu
đặt ra trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những lần sửa đổi, bổ sung quan trọng nhất
là các Luật được ban hành trong các năm 1998, 2003, 2005 và mới nhất là năm 2008 (Luật
thuế TTĐB số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008, hiệu lực từ 01/04/2009).
1.7.1 Các nghị định của chính phủ về thuế tiêu thụ đặc biệt
Số/Ký hiệu Ngày ban hành Trích yếu
26/2009/NĐ-CP 16/03/2009
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế
tiêu thụ đặc biệt
156/2005/NĐ-CP 15/12/2005
Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định chi
tiết thi hành Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế
giá trị gia tăng
Hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/2009/NĐ-CP ngày
16 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
115/2005/TT-BTC 16/12/2005
Hướng dẫn thi hành Nghị định số 156/2005/NĐ-CP
ngày 15/12/2005 sửa đổi, bổ sung các Nghị định của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế tiêu thụ
đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng
119/2003/TT-BTC 22/12/2003
Hướng dẫn thi hành Nghị định số 149/2003/NĐ-CP
ngày 04/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
86/2001/TT-BTC 29/10/2001
Hướng dẫn hoàn thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với
thuốc lá điếu xuất khẩu
168/98/TT/BTC 21/12/1998
Hướng dẫn thi hành Nghị định số 84 /1998/NĐ-CP ngày
12 tháng 10 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
12/KT 09/02/1996
Thông tư hướng dẫn tạm thời thi hành Nghị định số
97/CP ngày 27/12/1995 quy định chi tiết thi hành Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt và các Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
98/TC/TCT 30/12/1995
Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 97/CP ngày
27-12-1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt và các Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt
nên hiện tượng rối loạn thị trường ô tô. Vào cuối tháng 3-2009, những người có nhu cầu thật
sự đối với các loại ô tô 7 chỗ đều đã tranh thủ mua để khỏi phải chịu thêm ít nhất 10% thuế
TTĐB nữa. Riêng đối với ô tô bán thể thao 7 chỗ hiệu Captiva, vào tuần cuối của tháng
3/2009, có đại lý tăng số lượng bán ra đến 50% so với tháng 2, các loại xe Innova, Fortuner
không còn để bán bởi khách hàng có nhu cầu mua ô tô tăng vọt. Đối với ô tô nhập khẩu,
theo Cục Hải quan TPHCM, trong 2 tuần cuối tháng 3/2009, lượng ô tô du lịch 5 chỗ trên
3.000 cc và ô tô 7 chỗ nhập khẩu tăng khoảng 30% so với cùng kỳ tháng 2.
Đa số mọi người mua sắm xe cho gia đình đều chọn dòng 7 chỗ đa dụng. Tuy nhiên theo
biểu giá mới thì dòng này tăng từ 10 -20%. Ngay lập tức sau đó các hãng xe, đại lý đều nâng
giá lên cho phù hợp với thuế mới và người phải trả các chi phí đó là người tiêu dùng.
Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) sửa đổi đối với ô tô du lịch vừa được chính thức áp dụng
từ đầu tháng 4-2009. Theo đó, các loại ô tô 5 chỗ ngồi dưới 2.000 cc giảm 5% (còn 45%); từ
2.000 cc - 3.000 cc vẫn giữ mức 50%. Các loại ô tô 5 chỗ trên 3.000 cc và ô tô 7 chỗ tăng
thêm từ 10% - 20% trở lên, tùy loại.
Với đợt điều chỉnh mức thuế TTĐB lần này, ô tô nhỏ giảm giá, ô tô lớn tăng giá. Các
loại ô tô 5 chỗ ngồi, trên 3.000 cc và các loại ô tô 7 chỗ ngồi đều tăng giá khoảng 4.000
USD trở lên. Còn các loại ô tô dưới 2.000 cc, tuy thuế TTĐB giảm 5% so với mức cũ nhưng
giá bán cũng chỉ giảm từ vài trăm đến dưới 1.000 USD/chiếc. Với giá này, ô tô lắp ráp trong
nước chưa thật sự hấp dẫn người tiêu dùng.
Chẳng hạn, Spark (Matiz) chỉ giảm khoảng 400 USD/chiếc, Lacetti 1.800 cc giảm 800
USD/chiếc. Các loại ô tô dưới 2.000 cc của Toyota cũng chỉ giảm bình quân từ 500 USD -
800 USD/chiếc. Ngược lại, các loại ô tô trên 3.000 cc hoặc ô tô 7 chỗ của hãng này lại tăng
tối thiểu 4.000 USD/chiếc. Riêng Land Cruiser nhập khẩu tăng từ 103.100 USD lên 125.000
USD/chiếc (mức tăng 21.900 USD), Ford Everest tăng khoảng 4.700 USD/chiếc. Các loại ô
tô từ 2.000 cc trở xuống như Focus giảm khoảng 2.000 USD/chiếc
7
Đa số người dân có điều kiện sắm ô tô đều muốn sắm loại “hai trong một” - 7 chỗ ngồi
vì vừa để phục vụ công việc vừa làm phương tiện đi lại cho cả gia đình. Thế nên, khi Nhà
nước tăng thuế, người tiêu dùng phải chịu, hãng sản xuất chẳng bị ảnh hưởng gì bởi mức
thuế tăng đó đã được bên bán đưa vào giá thành. Điều này làm một số gia đình hoãn kế
(%)
5 chỗ trở xuống
Từ 2000 trở
xuống
45
50
Giảm 3%
Trên 2000-3000 50 Không đổi
Trên 3000 60 Tăng 7%
6-9 chỗ Từ 2000 trở 45 30 Tăng 12%
8
xuống
Trên 2000-3000 50 Tăng 15%
Trên 3000 60 Tăng 23%
Như vậy, điểm khác biệt nhất thuộc về các loại xe đa dụng 6-9 chỗ ngồi có dung tích xi-lanh
từ 2.000cm3 trở xuống. Đây là các loại xe có phân khối thấp nhưng vẫn phải chịu mức thuế
tăng thêm 15% kéo theo mức giá tăng 12%. Các loại xe này, ví dụ như Toyota Innova,
Mitsubishi Zinger, Chevrolet Vivant… đang có đối tượng sử dụng chủ yếu là các gia đình
và mức giá bán thuộc nhóm trung bình và thấp hiện nay.
Theo biểu thuế mới, các loại xe nhỏ là được hưởng lợi nhiều hơn cả khi không những
không phải chịu mức thuế tăng thêm mà còn giảm đi, dù không nhiều.
Trong đó các dòng xe hạng trung như Toyota Camry, Honda CR-V, BMW 5 series… không
phải chịu bất kỳ sự thay đổi nào khi thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt giữ nguyên mức 50%.
Riêng các dòng xe nhỏ có dung tích xi-lanh từ 2.000cm3 trở xuống như Hyundai Getz,
Chevrolet Spark hay Kia Morning… sẽ được hưởng mức thuế giảm thêm 5%, từ mức 50%
hiện nay xuống còn 45%, theo đó mức giá bán cũng sẽ giảm khoảng 3%. Mức độ ảnh hưởng
của thuế tiêu thụ đặc biệt đến giá xe bán ra là rất lớn.
Việc tăng thuế TTĐB tác động đến giá xe lắp ráp trong nước còn nhiều hơn tác động đến
giá xe NK. Giá xe NK đánh thuế TTĐB trên giá thể hiện trong tờ khai hải quan. Còn đối với
xe lắp ráp trong nước, sau khi cộng giá linh kiện và thuế cùng với các chi phí khác, hình
Van
1,585 881 1,318 3,784
Tổng cộng 3,410 1,339 2,962 7,711
Chassis 4 - 48 52
Hầu hết, việc bán hàng trong tháng 4/2009 của các hãng xe đều đi xuống. Đứng đầu về sự
tụt dốc trong bán hàng của các hãng xe là công ty VMC (phân phối xe BMW, Kia, Mazda)
giảm tới 61%, tiếp sau đó là Ford giảm 59%, Honda giảm 55%, Visuco (Suzuki) giảm 46%,
GM Daewoo giảm 43%, Toyota giảm 37%, Vinastar với Mitsubishi giảm 24% Còn tính
cả 4 tháng qua, Honda đã giảm tới 44% về số lượng xe bán ra, Toyota giảm 15%, Ford giảm
33%. Hãng xe Mercedes - Benz Việt Nam lại là một ngoại lệ đối lập khi tháng 4/2009, họ
bán được 319 chiếc, tăng tới 98% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 4 tháng đầu năm
nay, hãng này cũng đã tăng số lượng bán ra tới 49%, đạt 1.031 xe. Đây là hãng xe duy nhất
vẫn giữ mức tăng trưởng đi lên.
Kể từ tháng 5/2009 trở đi, doanh số bán xe của VAMA đã có cải thiện hơn trước. Tổng sản
lượng bán hàng của các thành viên VAMA trong tháng 5/2009 tăng 996 xe so với tháng
trước, đạt 8.761 xe, nhưng vẫn thấp hơn 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo VAMA, dòng
xe hai cầu (SUV) và xe đa dụng (MPV) có doanh số bán ra giảm mạnh so với cùng kỳ năm
ngoái, với mức giảm 46% dẫn đến tình hình kinh doanh bị giảm chung, 16 thành viên của
VAMA chỉ bán được 1.485 xe cho hai dòng xe này trong tháng 5/2009.
Riêng dòng xe du lịch, các thành viên của hiệp hội trong tháng 5 có doanh số bán ra đạt gần
2.500 xe tăng 21% so với tháng 5/2008. Việc tăng trưởng đối với dòng xe du lịch là vì Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt mới được áp dụng, mức thuế áp cho một số dòng này thấp hơn trước.
Do đó, người tiêu dùng đã chuyển hướng sang việc mua các dòng xe nhỏ, thay vì mua xe 7
chỗ trở lên như trước đây. Mặt khác, thời gian gần đây một số doanh nghiệp cũng đã tung ra
nhiều mẫu mã, chủng loại cho dòng xe du lịch này để thu hút khách hàng.
10
Tính chung tổng doanh số bán hàng của các thành viên VAMA trong 5 tháng đầu năm 2009
đạt hơn 32.200 xe, giảm 35% so với cùng kỳ năm ngoái. Toyota Việt Nam với doanh số bán
ra hơn 8.750 xe, tiếp tục giữ vị trí cao nhất trong 5 tháng qua, kế đến là Trường Hải bán
được 6.860 xe, Vinamotor bán được hơn 5.890 xe, GM Daewoo bán được hơn 3.890 xe,
nghiệp ôtô trong nước. Tuy nhiên, do lo ngại chính sách thuế thay đổi nên trong tháng
03/2009 , các nhà nhập khẩu ôtô ồ ạt đem hàng về thị trường. Họ lo ngại rằng khi thuế tiêu
thụ đặc biệt tăng cũng đồng nghĩa với việc giá xe cũng được điều chỉnh. Trong bối cảnh
khủng hoảng hiện nay, để giảm áp lực về giá cho người tiêu dùng, cách tốt nhất là mang
hàng về trước thời điểm thuế lên.
Biểu đồ: Lượng ô tô nhập khẩu từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009
11
Qua các con số thống kê trên có thể thấy một điểm nhấn khá rõ rệt tại thị trường ô tô nhập
khẩu quý 1/2009, đó là sự ảnh hưởng từ chính sách thuế của Nhà nước. Điều này thể hiện ở
đà sụt giảm mạnh trong hai tháng đầu năm khi toàn bộ thị trường rơi vào cảnh ảm đạm do
ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Bước sang tháng 3, ôtô nhập khẩu đã tăng trở lạiSở dĩ có
hiện tượng này là việc thuế tiêu thụ đặc biệt chuẩn bị được áp dụng chính thức (từ 1/4).
Nhằm “chạy” thuế và giá, doanh nghiệp và người dân đã tăng cường nhập khẩu và mua xe
trước khi các mức thuế mới có hiệu lực. Như vậy, sau 2 tháng đầu năm sụt giảm, kim ngạch
nhập khẩu ôtô 3 tháng tiếp sau đó đã tăng trở lại. Riêng trong tháng 3/2009 - tháng “chạy
thuế” trước thời điểm tăng thuế tiêu thụ đặc biệt từ 1/4/2009- lượng xe nhập khẩu nguyên
chiếc đã vọt lên 4.260 chiếc, gấp đôi so với tháng 2/2009. Đáng chú ý, chiếm tới 50% trong
số hơn 4 ngàn xe nhập về là loại xe 9 chỗ ngồi trở xuống.
Do tác động của thuế suất mới, từ 1/4, giá các loại xe 6-9 chỗ ngồi và các loại xe từ 5
chỗ ngồi trở xuống có dung tích xi-lanh động cơ lớn (trên 3.000 cm3) sẽ tăng khá mạnh. Đối
với xe nhập khẩu, đây chủ yếu là đối tượng xe hạng sang và siêu sang. Vì vậy, mặc dù
không tăng nhiều về lượng nhưng giá trị kim ngạch lại tăng đáng kể.
Qua biểu đồ ta có thể thấy dòng xe dưới 9 chỗ ngồi giảm mạnh trong tháng 4/2009 ( kể từ
thời điểm thuế tiêu thụ đặc biệt mới có hiệu lực từ ngày 01/04/2009). Nhiều năm được
hưởng thuế suất ưu đãi 30% so với 50% của xe sedan (5 chỗ), các hãng ôtô đã tập trung
phần lớn vào dòng xe 6-9 chỗ với đủ các chủng loại. Trên thực tế, đây cũng là phân khúc
bán chạy nhất thị trường như các tên tuổi Toyota Innova, Chevrolet Captiva, Ford Everest.
khi Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) có hiệu lực từ 1/4 nâng thuế suất từ 30% lên các
mức 45%, 50% và 60% (tùy theo dung tích) thì ngay lập tức thị trường rơi vào khủng
hoảng. Sau khi "lên đỉnh" vào tháng 3 nhờ tâm lý chạy thuế, doanh số dòng xe này giảm
Nguồn: Tổng cục Thống kê
2.3 Đối với nhà nước
Việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng ôtô từ năm 1996 đến nay không
chỉ góp phần hạ mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với mặt hàng này để đáp ứng nhu cầu hội
nhập, mở cửa nền kinh tế mà còn góp phần hạn chế bớt nạn ùn tắc giao thông và ô nhiễm
môi trường trong bối cảnh Chính phủ chưa có đủ điều kiện về thời gian và nguồn lực để giải
13
quyết các vấn đề trên một cách toàn diện và ổn định. Thuế tiêu thụ đặc biệt nói chung và
thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, bia, thuốc lá và ôtô nói riêng đóng một vai trò quan trọng
trên phương diện nguồn thu ngân sách Nhà nước. Trong những năm qua, số thu từ sắc thuế
này thường chiếm khoảng 24% trong tổng số thu từ thuế gián thu, và chiếm khoảng 7%
trong tổng nguồn thu từ thuế của ngân sách nhà nước. Thuế tiêu thụ đặc biệt góp phần bảo
đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Số liệu cụ thể như sau:
SỐ THU TỪ THUẾ TTĐB SO VỚI TỔNG THU TỪ THUẾ QUA CÁC NĂM
ĐƠN VỊ: TỶ ĐỒNG
NĂM
TỔNG THU
TỪ THUẾ
THUẾ TTĐB HÀNG SX
TRONG NƯỚC
THUẾ XNK VÀ TTĐB
HÀNG NK
GHI
CHÚ
SỐ LƯỢNG SỐ LƯỢNG
TỶ
TRỌNG SỐ LƯỢNG
TỶ
TRỌNG
THUẾ
XNK VÀ
TTĐB
HÀNG
NK
GHI
CHÚ
2003 127,947 8,851 22,374
số
quyết
toán
2004 155,579 22% 12,773 44% 21,614
2005 191,725 23% 15,716 23% 23,660
2006 236,331 23% 17,195 9% 26,280
2007 268,594 14% 17,365 1% 38,309
2008 359,109 34% 21,556 24% 59,927
số ước
tính
2009 336,098 -6% 27,587 28% 65,000
QI/2010 101,041 31% 7,397 18% 21,290
Nguồn: Bộ Tài Chính
15
Tổng thu thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản suất trong nước tăng qua các năm, năm 2003 là
8.851 tỷ đồng, năm 2004 là 12.773 tỷ đồng, tăng 44% so với năm 2003; năm 2005 là 15.716
tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2004; năm 2006 là 17.195 tỷ đồng, tăng 9% so với năm 2005
và năm 2007 là 17.365 tỷ đồng, tăng 1% so với năm 2006; năm ước tính là 2008 là 21.556
tăng 28% so với năm 2007, năm 2009 ước tính là 27.587 tỷ đồng, qúy 1 năm 2010 ước tính
tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái.
Như vậy Luật thuế TTĐB số 08/2003/QH11 ngày 17/06/2003, hiệu lực ngày 01/01/2004
thuế cao nhất (loại trên 3.000 cc) hiện chỉ chiếm khoảng 3% sản lượng sản xuất và khoảng
2,5% tổng số xe thuộc diện chịu thuế TTĐB.
- Thuế TTĐB đã góp phần vào việc hội nhập kinh tế quốc tế. Việc quy định lộ trình từng
bước tăng thuế đối với mặt hàng ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước đã đáp ứng được yêu cầu
phục vụ cho việc đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
- Thuế TTĐB góp phần ổn định nguồn thu cho Ngân sách nhà nước. Tỷ trọng thu ngân sách
từ thuế TTĐB trong tổng thu ngân sách từ thuế, phí và lệ phí đã ổn định và tăng qua các
năm
3.1.2 Một số hạn chế
- Không có văn bản hướng dẫn rõ ràng dẫn đến ngành hải quan lúng túng trong việc áp dụng
mức thuế suất đối với loại xe ô tô chạy bằng xăng kết hợp năng lượng điện (hybrid) nhập
khẩu.
17
- Mức thuế suất áp dụng đối với dòng xe từ 6 chỗ - 9 chỗ ngồi tăng đột biến, không có lộ
trình khiến cho nhu cầu về các dòng xe này giảm mạnh, đặc biệt dòng xe này là dòng xe tiêu
dùng chính trong dân cư và là dòng xe chủ lực của các hãng xe.
- Áp ụng thuế suất cao nhằm bảo hộ cho các doanh nghiệp lắp ráp xe trong nước. Tuy nhiên
chính sách này đã bộc lộ một số hạn chế đó là các doanh nghiệp quá ý lại việc được bảo hộ
tuyệt đối nên rất chậm chạp trong việc nội địa hóa và nâng cao tính cạnh tranh. Thực tế cho
thấy kết quả trong giai đoạn phát triển vừa qua của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam vẫn
chưa cho ra những chủng loại xe hiệu quả thực sự phù hợp với môi trường và hoàn cảnh của
riêng Việt Nam.
3.2 Một số kiến nghị
Quan điểm nhất quán bảo hộ ngành Công nghiệp ô tô luôn được Chính phủ ViệtNam
triệt để duy trì và áp dụng. Điều này thể hiện rõ nhất trong chính sách thuế Chính phủ đề ra
trong suốt thời gian qua. Về cơ bản, chính sách thuế quan được xây dựng với các biện pháp
thuế quan và phi thuế nhằm áp đặt mức thuế cao đối với xe nhập khẩu và hạn chế tối đa
nhập khẩu miễn thuế. Hàng rào thuế quan và phi thuế này thời gian qua đã được phát huy
hết hiệu quả để bảo vệ ngành công nghiệp ô tô trong nước còn non trẻ này tránh khỏi những
sóng gió của thị trường ô tô thế giới cạnh tranh đầy khốc liệt và thực sự đã tạo được sự ngăn
thuật, nếu không thu hút được khu vực tư nhân tham gia. Kinh nghiệm của Thái Lan cho
thấy, thị trường ô tô phát triển sẽ là động lực quan trọng để tư nhân đầu tư mở rộng mạng
lưới giao thông.
Ngoài ra, điều doanh nghiệp ngành ô tô cần ở Chính phủ là sự ổn định về chính sách và có
chiến lược phát triển rõ ràng. Những năm qua, chính sách đối với ngành này, nhất là thuế,
thường xuyên thay đổi và khó dự đoán. Chính vì vậy, không nhà sản xuất nào có thể yên
tâm để xây dựng những kế hoạch đầu tư dài hạn. Hiện nay, tuy thị trường đang khởi sắc,
nhưng rủi ro vẫn đang đe dọa.
Không tăng thuế TTĐB đối với ôtô NK; nếu tăng thì chỉ là biện pháp tạm thời, nhưng
cần đồng nhất mức tăng với xe SXTN để tránh phân biệt đối xử, tạo sự cân bằng trong hạn
chế tiêu dùng (bởi ôtô SXTN cũng thông qua NK linh kiện).
Bên cạnh đó, cần xây dựng lộ trình thuế song song với chiến lược phát triển công nghiệp
ôtô. Đặc biệt, cần hoàn thiện công cụ thuế khác để đánh thuế đúng đối tượng; qua đó tăng
tiết kiệm tiêu dùng và hạn chế sử dụng tài nguyên. Chỉ với biện pháp tổng hoà này, thuế mới
đảm bảo là chính sách điều hành kinh tế; tránh lúng túng, mâu thuẫn; không để xảy ra tiêu
cực đối với thị trường, NTD hay tạo kẽ hở cho sự bảo hộ hay trục lợi.
Để phát triển một ngành công nghiệp có quy mô lớn như ngành công nghiệp ô tô đòi hỏi
cần có sự nỗ lực của toàn xã hội mà quan trọng nhất là từ phía Chính phủ và các doanh
nghiệp trong ngành.
19