PHÒNG GD-ĐT TRÀ ÔN
TRƯỜNG THCS XUÂN HIỆP
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM :
RÈN KỸ NĂNG ĐỌC – HIỂU VÀ TẠO LẬP TỐT
KIỂU VĂN BẢN THUYẾT MINH CHO HỌC SINH KHỐI 8, 9
THÔNG QUA GIỜ DẠY CHÍNH KHÓA VỚI DẠY CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN
Ông Phan Văn Sỹ, giáo viên Trường THCS Xuân Hiệp,
xã Xuân Hiệp, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MÔ TẢ NỘI DUNG SKKN
1. Lí do chọn đề tài
a. Cơ sở lí luận
- Chương trình môn Ngữ văn THCS được xây dựng theo tinh thần tích
hợp khá cao, không chỉ chú trọng nội dung mà còn phục vụ tích cực cho việc đổi
mới phương pháp dạy học.
- Sách Ngữ văn lấy sáu kiểu văn bản làm trục đồng quy : tự sự, miêu tả,
biểu cảm, lập luận (nghị luận), thuyết minh và điều hành (hành chính – công
vụ); làm nơi gắn bó ba phân môn. Vì thế, các văn bản lựa chọn phải vừa tiêu
biểu ở các thể loại, ở các thời kì lịch sử văn học, vừa đáp ứng tốt cho việc dạy
các kiểu văn bản trong Tiếng việt và Tập làm văn. Có nghĩa là phải làm thế nào
cho học sinh thành thạo bốn kĩ năng “nghe, nói, đọc, viết”; năng lực tiếp nhận và
tạo lập các kiểu văn bản nói trên.
- Trong sáu kiểu văn bản mà SGK Ngữ văn THCS lấy làm trục đồng quy
thì văn bản thuyết minh là kiểu văn bản lần đầu tiên được đưa vào chương trình
Tập làm văn THCS. Đây là loại văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng khá
phổ biến trong đời sống.
- Đưa văn bản thuyết minh vào nhà trường là nhằm cung cấp cho học sinh
một kiểu văn bản thông dụng, rèn kĩ năng trình bày các tri thức có tính khách
quan, khoa học, nâng cao năng lực tư duy và biểu đạt cho học sinh.
- Với vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn ấy, đòi hỏi người học phải hiểu
rõ bản chất của kiểu văn bản này, cách thức tạo lập chúng thì mới thật sự đáp
ứng được yêu cầu, mong muốn của các nhà biên soạn sách. Tuy nhiên, do đây là
Tôi đã thống kê chất lượng học tập bộ môn đầu năm của học sinh các lớp
8 đã dạy trong ba năm liền kề thì tôi nhận thấy rằng chất lượng học tập bộ môn
Ngữ văn của các em chưa cao. Cụ thể như sau :
Thời
điểm
Năm học TS
HS
GIỎI KHÁ TB YẾU
Đầu năm 2009-2010 84 05= 6.0% 26=31.3% 43=51.8% 10=10.9%
Đầu năm 2010-2011 83 05=6.0% 29=34.9% 43=48.3% 09=10.8%
Đầu năm 2011-2012 80 08=10.0% 24=30.0% 30=37.5% 18=22.5%
Nhìn vào bảng thống kê chất lượng đầu năm môn Ngữ văn, tôi nhận thấy
tỉ lệ học sinh giỏi còn thấp và tỉ lệ học sinh yếu khá cao.
Xuất phát từ những thuận lợi và khó khăn trên, để giúp học sinh học tốt
kiểu văn bản thuyết minh (hoặc văn bản có sử dụng phương thức biểu đạt thuyết
minh) và làm tốt kiểu văn bản này, tôi đã chọn đề tài : “Rèn kỹ năng Đọc – hiểu
và tạo lập tốt kiểu văn bản thuyết minh cho học sinh khối 8, 9 thông qua giờ dạy
chính khóa kết hợp với dạy chủ đề tự chọn”.
2. Mô tả nội dung SKKN
Ở sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin nêu ra các giải pháp để giúp học
sinh học tốt kiểu văn bản thuyết minh (hoặc văn bản có sử dụng phương thức
biểu đạt thuyết minh) và làm tốt kiểu bài làm văn thuyết minh thông qua cách
thức, phương pháp dạy học và các kĩ năng cần thiết khi tạo lập kiểu văn bản này.
Cụ thể :
* Đọc – hiểu văn bản thuyết minh
- Về phía giáo viên :
+ Giúp học sinh học tốt qua việc soạn giảng giáo án.
+ Giúp học sinh học tốt qua quá trình giảng bài, truyền thụ kiến thức trên
lớp.
2
ngay từ tiết học trước bằng hệ thống câu hỏi soạn bài ở nhà.
- Nghiên cứu kĩ SGK, SGV, chuẩn kiến thức kĩ năng và các tài liệu tham
khao có liên quan đến nội dung văn bản thuyết minh sẽ dạy.
- Tìm kiếm thêm tư liệu (hình ảnh, số liệu, băng đĩa, …) cần thiết để soạn
giáo án ứng dụng CNTT nhằm chuyển tải nội dung bài học đến học sinh một
cách tốt nhất và mang lại hiệu quả nhất.
Ví dụ : Khi dạy các văn bản thuyết minh hoặc văn bản có sử dụng phương thức
biểu đạt thuyết minh như :
+ Dạy bài “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000” – Ngữ văn 8, tập một, tôi
sẽ tìm thêm các tranh ảnh về ô nhiễm môi trường do bao bì ni lông gây nên ở địa
phương các em đang sinh sống hoặc các địa phương khác trên cả nước, để giúp
các em thấy rằng : nạn ô nhiễm môi trường hiện nay đang là vấn đề báo động và
cần phải có biện pháp khắc phục ngay, trả lại bầu không khí trong lành cho con
người.
3
+ Dạy bài “Ôn dịch, thuốc lá” – Ngữ văn 8, tập một, tôi sẽ sưu tầm các tranh
ảnh về các bệnh do hút thuốc lá và khói thuốc lá gây nên. Với dụng cụ trực quan
trên, tôi sẽ cho các em thấy rằng tác hại của thuốc lá là rất ghê gớm, không chỉ
cho bản thân người nghiện hút mà còn ảnh hưởng đến mọi người xung quanh
(gọi là người hút thuốc thụ động). Từ đó giáo dục các em hãy tránh xa tệ nạn
này, đồng thời tuyên truyền, vận động người thân và mọi người xung quanh hãy
cai nghiện thuốc lá để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và cộng đồng.
+ Dạy bài “Bài toán dân số” – Ngữ văn 8, tập một, tôi sẽ sưu tầm các số liệu
về sự gia tăng dân số của các quốc gia tính đến thời điểm hiện tại, các tranh ảnh
về nghèo đói, trẻ em phải lao động nặng nhọc, … ở các nước có dân số tăng
nhanh để giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về tình hình gia tăng dân số hiện
nay cũng như những nguy cơ mà các nước nghèo đang phải đối mặt. Từ đó giúp
học sinh thấy rằng, gia tăng dân số không chỉ là gánh nặng của gia đình, địa
phương, quốc gia mà còn ảnh hưởng đến toàn cầu. Qua đó, các em sẽ là những
tuyên truyền viên tích cực cho việc sinh đẻ có kế hoạch, góp phần giảm thiểu tốc
- Tập trung nghe giáo viên giảng bài.
- Tích cực phát biểu ý kiến cá nhân và nhận xét ý kiến phát biểu của bạn.
- Tích cực trao đổi, thảo luận nhóm.
- Tự rút ra các tri thức và các kỹ năng cần thiết của bài học trên cơ sở hướng
dẫn của GV.
2. Giúp học sinh làm tốt văn thuyết minh :
a. Qua quá trình dạy các tiết chính khóa :
Trên cơ sở giúp học sinh học tốt văn bản thuyết minh, tôi sẽ tiếp tục cho học
sinh nắm vững các kiến thức về kiểu văn bản này thông qua các tiết Tập làm
văn.
- Ở bài “ Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh”, tôi giúp học sinh nhận
diện ra kiểu văn bản này cũng như đặc điểm và vai trò của chúng trong đời sống.
- Sau khi các em nắm được các kiến thức cơ bản trên, tôi sẽ giúp học sinh
nắm vững cách làm bài văn thuyết thuyết minh. Ở kiểu bài này, tôi chú ý giúp
học sinh nắm vững các bước làm bài văn thuyết minh :
+ Đọc đề, tìm hiểu đề.
+ Tìm ý, sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lí.
+ Lập dàn ý.
+ Viết bài.
+ Đọc bài và sửa bài.
Trong các bước trên, sau khi học sinh lập được dàn ý, tôi tiếp tục hướng dẫn
học sinh tập viết đoạn và dựng đoạn.
- Ở bài “Phương pháp thuyết minh”, tôi giúp học sinh nắm vững các phương
pháp thường được sử dụng khi làm bài văn thuyêt minh, vai trò của chúng, cách
sử dụng các phương pháp thuyết minh ở phần nào của dàn ý là hợp lí và mang
lại hiệu quả cao.
- Đến tiết “Luyện nói”, tôi sẽ tạo điều kiện cho các em được nói trước tập thể
bằng cách cho một đề bài thuyết minh, yêu cầu học sinh lập dàn ý, đến lớp tôi
kiểm tra dàn ý và yêu cầu học sinh dựa vào dàn ý mà diễn đạt (triển khai một ý
bằng một đoạn văn), yêu cầu học sinh nhận xét, giáo viên nhận xét sửa chữa.
- Không nhất thiết phải trung thành với
đối tượng (miêu tả cụ thể cho người
đọc cảm thấy).
- Có hư cấu, tưởng tượng, mang nhiều
cảm xúc chủ quan của người viết.
- Dùng nhiều phép so sánh, liên tưởng.
- Ít dùng số liệu.
- Được dùng trong văn bản nghệ thuật.
- Thuyết minh với tự sự
THUYẾT MINH TỰ SỰ
Không có cốt truyện, sự việc, diễn
biến, nhân vật.
- Có cốt truyện.
- Có sự việc, diễn biến sự việc.
- Có nhân vật.
- Thuyết minh với biểu cảm
THUYẾT MINH BIỂU CẢM
Không đòi hỏi người làm bài phải
bộc lộ cảm xúc cá nhân, chủ quan
của mình.
- Gợi suy nghĩ, cảm xúc cho người
đọc, người nghe.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ.
- Thuyết minh với nghị luận
THUYẾT MINH NGHỊ LUẬN
Giải thích bằng tri thức khoa học,
giải thích bằng cơ chế, quy luật của
sự vật, cách thức sử dụng và bảo
quản.
Giải thích trong nghị luận là giải
cách sinh hoạt và giá trị kinh tế.
+ Khi trình bày, cần tiến hành giới thiệu lần lượt những bộ phận của con vật,
cách chăn nuôi và phòng bệnh, sao cho người đọc hiểu.
+ Bố cục bài viết nên có đầy đủ ba phần.
- Dàn bài
+ Mở bài : Giới thiệu con vật (thường bằng một câu định nghĩa).
+ Thân bài :
• Hình dáng chung của con vật.
• Nêu các giống vật.
• Nêu cách nuôi (thức ăn), cách phòng dịch bệnh
• Nêu giá trị kinh tế của con vật.
+ Kết bài : Vai trò của con vật trong đời sống hiện nay.
* Thuyết minh về một thể loại văn học
- Yêu cầu :
+ Trước tiên phải quan sát, tìm hiểu, tra cứu sách vở về cấu tạo của thể loại
văn học.
+ Khi trình bày, cần tiến hành giới thiệu lần lượt những đặc điểm của thể
loại văn học và vị trí của thể loại đó trong nền văn học, sao cho người đọc hiểu.
+ Bài viết nên có bố cục ba phần.
- Dàn bài :
+ Mở bài : Giới thiệu khái quát thể loại văn học (thường bằng một câu định
nghĩa).
+ Thân bài : Trình bày các đặc điểm, các yếu tố hình thức của thể loại văn
học:
• Thơ : Số câu, số chữ trong mỗi bài, quy luật bằng, trắc của thể thơ, cách
gieo vần của thể thơ, cách ngắt nhịp phổ biến của mỗi dòng thơ, …
7
• Truyện : cốt truyện, tình huống, nhân vật, …
• Văn chính luận : bố cục, luận điểm, phương pháp lập luận, …
+ Kết bài : Nêu các thành tựu của thể loại văn học đối với việc thể hiện chủ
diệp lục, tức là chất xanh của lá.
-> Ví dụ trên dùng các thuật ngữ môn Sinh : tế bào, lục lạp, diệp lục.
(2) Nói và viết là hai dạng khác nhau của việc sử dụng ngôn ngữ; vì vậy lời
nói có chỗ khác bài viết. Lời nói thường dùng những từ ngữ gợi cảm, từ ngữ đưa
đẩy, câu thường lược bớt thành phần …
-> Ví dụ trên dùng các thuật ngữ thuộc phân môn Tiếng việt : nói và viết, ngôn
ngữ, từ ngữ gợi cảm, từ ngữ đưa đẩy, câu.
Hướng dẫn học sinh cách đặt câu trong văn thuyết minh
Văn thuyết minh sử dụng rộng rãi các kiểu câu đơn, câu phức theo một hệ
thống cú pháp chuẩn.
8
Tuy nhiên, văn thuyết minh thường có sự chú trọng đặc biệt tới các kiểu câu
sau đây :
- Kiểu câu đẳng thức (chủ ngữ + là + vị ngữ) thường xuất hiện khi đánh giá,
nhận xét, định nghĩa …
Ví dụ :
+ Danh từ là từ chỉ sự vật.
-> Câu định nghĩa.
+ Hiện tượng hóa học là hiện tượng trong đó có nảy sinh ra chất mới.
-> Câu nhận xét.
+ Huế là một trong những trung tâm văn hóa, nghệ thuật lớn của Việt Nam.
-> Câu đánh giá.
- Kiểu câu khuyết chủ ngữ hoặc chủ ngữ không xác định rõ là ai, cái gì.
Ví dụ :
+ Người ta chia một ngày đêm ra 24 giờ, mỗi giờ có 60 phút, mỗi phút có 60
giây.
-> Chủ ngữ không xác định rõ là ai.
+ Để làm được một chiếc nón đẹp phải tỉ mỉ từ khâu chọn lá, phơi lá, chọn chỉ,
đến độ tinh xảo trong từng đường kim, mũi chỉ.
-> Câu khuyết chủ ngữ.
Ở đây, tôi cũng lưu ý học sinh về trình tự đảo ngược câu chủ đề của cách
trình bày nội dung của hai đoạn văn này. Quan sát đoạn văn diễn dịch và đoạn
văn quy nạp, chúng ta có thể thấy rõ trình tự đảo ngược của chúng. Tuy nhiên,
như thế không có nghĩa là khi di chuyển vị trí câu chủ đề của đoạn quy nạp sẽ
được đoạn diễn dịch (hoặc ngược lại) vì ngoài trình tự, các câu văn còn được nối
kết theo những quan hệ chặt chẽ và không thể chia tách, lắp ghép cơ học.
Hướng dẫn học sinh cách liên kết các đoạn văn trong văn thuyết
minh
- Công việc đầu tiên, tôi sẽ cho học sinh thấy rõ tầm quan trong của việc liên
kết các đoạn văn trong văn bản. Vì sự thống nhất về chủ đề , sự mạch lạc văn
bản đòi hỏi chuỗi câu văn, đoạn văn phải có sự liên kết. Liên kết là sự gắn kết tự
nhiên, cần thiết, tạo nên sự liền mạch, không đứt đoạn, là sự thể hiện năng lực tư
duy và khả năng sử dụng ngôn ngữ. Liên kết gợi người ta liên tưởng câu văn,
đoạn văn trước nó và hình dung ra câu văn, đoạn văn sau. Không có liên kết,
thật khó có thể tạo nên đoạn văn, bài văn.
- Tiếp đến, tôi sẽ lần lượt hướng dẫn học sinh các cách để liên kết đoạn văn.
Cụ thể :
• Dùng từ ngữ để liên kết đoạn văn
+ Dùng từ ngữ chỉ trình tự : trước hết, đầu tiên, bắt đầu là, một là, hai là,
ngoài ra, mặt khác, bên cạnh đó, cuối cùng, sau này, …
Ví dụ :
“Nguyễn Trãi là người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông tố cáo tội ác của
bọn xâm lược. Ông thề không đội trời chung với bọn chúng.
Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn có lòng yêu nước nồng nàn. Ông thương xót nhân
dân phải sống khổ cực. Ông quyết tâm đánh đuổi bọn giặc để đem lại hạnh phúc
cho mọi người.”
+ Dùng từ ngữ chỉ sự đánh giá chung có ý nghĩa tổng kết hoặc khái quát vấn
đề : tóm lại, nói tóm lại, kết luận lại, tổng kết lại, nhìn chung, …
Ví dụ :
“Nguyễn Trãi có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông còn có lòng yêu nước nồng
phúc cho mọi người.”
+ Dùng câu nối liên kết với phần trước và phần sau của văn bản
Ví dụ :
“Nguyễn Trãi là người có lòng căm thù giặc sâu sắc. Ông tố cáo tội ác của
bọn xâm lược. Ông thề không đội trời chung với bọn chúng.
Nguyễn Trãi không những có lòng căm thù giặc sâu sắc mà còn có lòng
yêu nước nồng nàn. Ông thương xót nhân dân phải sống khổ cực. Ông quyết
tâm đánh đuổi bọn giặc để đem lại hạnh phúc cho mọi người.”
Khi học sinh đã nắm vững các cách dùng để liên kết các đoạn văn, tôi tiến
hành cho học sinh xây dựng đoạn văn theo hai cách diễn dịch và quy nạp. Sau
đó nâng cao dần, viết từ hai đoạn văn trở lên và biết dùng các phương tiện liên
kết đoạn để rèn kỹ năng viết đoạn.
Đặc biệt, ở các tiết trả bài viết, tôi dành phần nhiều thời gian cho việc lập
dàn ý và giúp cho học sinh thấy được các lỗi : chính tả, dùng từ, đặt câu, diễn
đạt, … và cách khắc phục các lỗi ấy để tránh mắc phải ở những bài viết sau.
III. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC TỪ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Với những việc làm như đã nêu ở trên, tôi đã rèn luyện cho học sinh các
kỹ năng cần thiết khi tiếp cận văn bản thuyết minh cũng như khi tạo lập kiểu văn
bản này. Những thành công ấy đã góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ
môn Ngữ văn. Cụ thể kết quả như sau :
Thời
điểm
Năm học TS
HS
GIỎI KHÁ TB YẾU
Cuối năm 2009-2010 84 09=10.7% 34=40.5% 35=41.7% 06=7.1%
Cuối năm 2010-2011 83 10=12.0% 34=41.0% 34=41.0% 05=6.0%
11
Cuối năm 2011-2012 74 14=18.9% 25=33.8% 32=43.2% 03=4.1%
Một điều đáng nói ở đây là học sinh ngày càng yêu thích bộ môn Ngữ
+ Phải nghiên cứu kỹ bài giảng trước khi lên lớp.
+ Phải chịu khó nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, truy cập Internet, đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin trong soạn giảng … để làm phong phú thêm cho bài
giảng của mình trên lớp, kích thích sự hứng thú học ở học sinh.
+ Phải định hướng nội dung nào cần rèn luyện cho học sinh trong các tiết tự
chọn, xây dựng kế hoạch, thông qua tổ bộ môn và Ban giám hiệu duyệt trước
khi soạn giáo án.
+ Phải chọn phương pháp dạy thích hợp, tránh sự chán nản, ngán ngẫm của
học sinh khi đến giờ học Ngữ văn.
+ Phải có tính kiên trì, nhẫn nại trong việc rèn kỹ năng Đọc – hiểu văn bản và
kỹ năng làm văn thuyết minh cho học sinh. Vì công việc này không phải ngày
một ngày hai có thể hình thành được cho học sinh.
12
- Đối với học sinh :
+ Phải chuyên cần học tập và thật sự thấy được tầm quan trọng của việc học
bộ môn Ngữ văn đối với bản thân.
+ Phải thấy được vai trò của văn thuyết minh đối với đời sống của các em và
đối với xã hội.
+ Phải hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu bài học ở nhà. Nếu có điều
kiện, học sinh cần có tủ sách tham khảo để tra cứu khi cần thiết, đồng thời bổ
sung nguồn kiến thức phong phú cho cá nhân.
2. Kiến nghị
Việc giúp học sinh học tốt và làm tốt kiểu văn bản thuyết minh là cần
thiết và đóng vai trò rất quan trọng trong mục tiêu giáo dục hiện nay, góp phần
rèn kỹ năng sống cho học sinh trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước. Vì
thế nhà trường và các cấp lãnh đạo ngành giáo dục cần cung cấp đầy đủ trang
thiết bị và đồ dùng dạy học như máy Projector, máy vi tính nối mạng Internet,
tranh ảnh, băng đĩa, tài liệu tham khảo… nhằm phục vụ tốt cho việc giảng dạy
của giáo viên và học tập của học sinh.
Trên đây là toàn bộ nội dung sáng kiến mà tôi đã nghiên cứu, thực nghiệm