tiểu luận quản trị kinh doanh VĂN HÓA DOANH NGHIỆP-YẾU TỐ VÀNG CHO SỰ THÀNH CÔNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU (ACB) - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BỘ MÔN QUẢN TRỊ HỌC
LỚP QT2/K34

ĐỀ TÀI:
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP-YẾU TỐ VÀNG CHO SỰ THÀNH CÔNG
( PHÂN TÍCH QUA MỘT DOANH NGHIỆP CỤ THỂ)
GIẢNG VIÊN: TS PHAN THỊ MINH CHÂU
NHÓM LÀM ĐỀ TÀI:NHÓM 2
TP. Hồ Chí Minh,ngày 25 tháng 4 năm 2010
1
DANH SÁCH NHÓM THUYẾT TRÌNH LỚP 5.(NHÓM 2)
1. TÔ THANH CỦA
2. TRẦN QUANG ĐÔNG
3. NGUYỄN HỮU ĐỨC
4. NGUYỄN DUY HÀ
5. NGUYỄN VĂN HIẾU
6. NGUYỄN ĐỨC HƯNG
7. HUỲNH NHẬT NGUYÊN ( LỚP 6 )
8. LÂM THIÊN QUÝ
9. VĂN BÁ TRẠCH
10.VŨ THỊ YẾN
MỤC LỤC
o GIỚI THIỆU: 4
o NGÂN HÀNG Á CHÂU (ACB): 8
-Sơ lược về ACB 8
-Văn hóa ACB…………………………………………………………12
-Thành công của ACB……………………………………………… 17
-Nhận xét………………………………………………………………20
o KẾT LUẬN………………………………………………………………… 21

truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp.
2.Tầm quan trọng của văn hóa doanh nghiệp :
VHDN có vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh
nghiệp, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hoá, ngôn ngữ, tư
liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng
vững và tồn tại được. Trong khuynh hướng xã hội ngày nay thì các nguồn lực của
một doanh nghiệp là con người mà VHDN là cái liên kết và nhân lên nhiều lần các
giá trị của từng nguồn lực riêng lẻ. Do vậy, có thể khẳng định VHDN là tài sản vô
hình của mỗi doanh nghiệp.VHDN giúp chúng ta :
+ Tạo động lực làm việc :
VHDN giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình
làm.VHDN còn tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các nhân viên và một môi trường
làm việc thoải mái, lành mạnh. VHDN phù hợp giúp nhân viên có cảm giác mình
làm công việc có ý nghĩa hãnh diện vì là một thành viên của doanh nghiệp. Điều này
càng có ý nghĩa khi tình trạng “chảy máu chất xám” đang phổ biến. Lương và thu
nhập chỉ là một phần của động lực làm việc. Khi thu nhập đạt đến một mức nào đó,
người ta sẵn sàng đánh đổi chọn mức thu nhập thấp hơn để được làm việc ở một môi
trường hoà đồng, thoải mái, được đồng nghiệp tôn trọng.
4
+Điều phối và kiểm soát :
VHDN điều phối và kiểm soát hành vi cá nhân bằng các câu chuyện, truyền
thuyết; các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc Khi phải ra một quyết định phức
tạp, VHDN giúp ta thu hẹp phạm vi các lựa chọn phải xem xét.
+Giảm xung đột :
VHDN là keo gắn kết các thành viên của Doanh nghiệp. Nó giúp các thành viên
thống nhất về cách hiểu vấn đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành động. Khi ta
phải đối mặt với xu hướng xung đột lẫn nhau thì văn hoá chính là yếu tố giúp mọi
người hoà nhập và thống nhất.
+Tạo lợi thế cạnh tranh
Tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động lực làm tăng hiệu

của sự phá sản. Tất cả mọi thành viên của công ty cần tinh thần đoàn kết và hy sinh.
Công ty có cấp độ càng cao, có ảnh hưởng lớn thì các thành viên càng cần phải hy
sinh nhiều hơn. Để vượt qua những tình thế khó khăn, công ty cần một sức mạnh
tổng lực để chống đỡ và sức mạnh ấy chỉ đạt được khi nó có một Văn hóa Doanh
nghiêp – văn hóa của sự hy sinh, văn hoá của sự đoàn kết.
3. Văn hóa doanh nghiệp tạo được sự khích lệ, động lực cho mọi người và trên
hết tạo nên khí thế của một tập thể chiến thắng :
Trong một thế giới, khi những chuẩn mực của xã hội về sự thành công không
còn được đo bằng sự thành công của một cá nhân nữa, mà nó được đẩy lên tầm tập
thể. Và cho dù trên góc độ cá nhân, thì cá nhân đó sẽ không bao giờ được coi là
thành công, nếu tập thể của anh ta không thành công. Một quan niệm mới cho lãnh
đạo hôm nay là, “team work is dream work,” tức là chỉ có làm việc tập thể thì giấc
mơ thành công của ta mới thành hiện thực. Hay nói một cách khác, khả năng lãnh
đạo được đo bằng khả năng lãnh đạo một tập thể. Một tập thể càng lớn thì khả năng
lãnh đạo càng cao, và một công việc càng có nhiều người cùng tham gia thì công
việc đó càng sớm được hoàn thành.
Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ thống
quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa trong nội bộ
doanh nghiệp, một không khí văn hóa tích cực để phát huy thế mạnh văn hóa của tập
thể, tăng cường nội lực và sức mạnh của doanh nghiệp. VHDN là một giai đoạn phát
triển của tư tưởng quản lý doanh nghiệp hiện đại, thể hiện sự chuyển dịch chiến lược
phát triển kỹ thuật nhằm tạo nên những sản phẩm hàm chứa hàm lượng văn hóa cao.
Bởi thế, có thể coi VHDN là yếu tố tối quan trọng của thực tiễn doanh nghiệp đương
đại.
3.Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam :
6
Nhìn nhận một cách tổng quát, chúng ta thấy văn hoá trong các cơ quan và
doanh nghiệp ở nước ta còn có những hạn chế nhất định: Đó là một nền văn hoá
được xây dựng trên nền tảng dân trí thấp và phức tạp do những yếu tố khác ảnh
hưởng tới; môi trường làm việc có nhiều bất cập dẫn tới có cái nhìn ngắn hạn; chưa

Hay như Công ty taxi Mai Linh, đã chủ động xây dựng VHDN của mình bằng
cách liên tục mở lớp đào tạo kiến thức, phẩm chất văn hoá của Cty cho mọi thế hệ
7
thành viên. Và chính điều này là một nhân tố quyết định sự phát triển liên tục, bên
vững cho thương hiệu “Mai Linh”.
Trong bài tiểu luận này, chúng ta sẽ đi vào phân tích một doanh nghiệp Việt
Nam cụ thể để thấy được việc xây dựng VHDN đã ảnh hưởng như thế nào đến thành
công của doanh nghiệp.
II. NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) VỚI VĂN HÓA DOANH NGHIỆP :
1.Giới thiệu sơ lược về ngân hàng ACB :
 Ngân hàng ACB được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1993
Vốn điều lệ : Kể từ ngày 27/11/2009 vốn điều lệ của ACB là 7.814.137.550.000
đồng (Bảy nghìn tám trăm mười bốn tỷ một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm năm
mươi nghìn đồng)
 Sản phẩm dịch vụ chính :
• Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và
vàng
• Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh) bằng đồng Việt Nam,
ngoại tệ và vàng
• Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện dịch
vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua ngân
hàng.
• Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
• Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.
8
 Mạng lưới kênh phân phối :
Gồm 246 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn
quốc:
• Tại TP Hồ Chí Minh: 1 Sở giao dịch, 30 chi nhánh và 91 phòng giao dịch
• Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hưng Yên, Bắc Ninh,

Tính đến ngày 28/02/2010 tổng số nhân viên của Ngân hàng Á Châu là 6.749
người.Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 93%, thường xuyên được
đào tạo chuyên môn nghiệp vụ tại trung tâm đào tạo riêng của ACB.
Hai năm 1998-1999, ACB được Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) tài trợ một
chương trình hỗ trợ kỹ thuật chuyên về đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên, do Ngân
hàng Far East Bank and Trust Company (FEBTC) của Phi-lip-pin thực hiện. Trong
10
năm 2002 và 2003, các cấp điều hành đã tham gia các khoá học về quản trị ngân
hàng của Trung tâm Đào tạo Ngân hàng (Bank Training Center).
 Quy trình nghiệp vụ :
Các quy trình nghiệp vụ chính được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000.
 Công nghệ :
ACB bắt đầu trực tuyến hóa các giao dịch ngân hàng từ tháng 10/2001 thông qua
hệ quản trị nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ (TCBS- The Complete Banking Solution),
có cơ sở dữ liệu tập trung và xử lý giao dịch theo thời gian thực. ACB là thành viên
của SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial Telecommunication), tức
là Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng Toàn Thế giới, bảo đảm phục vụ
khách hàng trên toàn thế giới trong suốt 24 giờ mỗi ngày. ACB sử dụng dịch vụ tài
chính Reuteurs, gồm Reuteurs Monitor: cung cấp mọi thông tin tài chính và
Reuteurs Dealing System: công cụ mua bán ngoại tệ.
 Chiến lược :
Chuyển đổi từ chiến lược các quy tắc đơn giản (simple rule strategy) sang chiến
lược cạnh tranh bằng sự khác biệt hóa (a competitive strategy of differentiation).
Định hướng ngân hàng bán lẻ (định hướng khách hàng cá nhân và doanh nghiệp
vừa và nhỏ).
 Cổ đông nước ngoài :
(Tỷ lệ cổ phần nắm giữ: 30%) Connaught Investors Ltd. (Jardine Matheson
Group), Dragon Financial Holdings Ltd., Standard Chartered APR Ltd., Ngân hàng
Standard Chartered Hồng Kông, Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) của Ngân hàng
Thế Giới (World Bank) và J.P.Morgan Whitefriars Inc.

Tổng quát lại, dòng lưu thông tiền tệ của ACB luôn ở trạng thái ổn định, cân
12
bằng giữa hai mặt an toàn và hiệu quả, và luôn luôn như thế theo thời gian.
Từ tháng 6-2006, ACB bắt đầu xây dựng hình ảnh của mình gắn liền với hình ảnh
chiếc ghế đá,với ý nghĩa tượng trưng cho những gì còn mãi với thời gian như một
cam kết về chất lượng sảm phẩm và dịch vụ ngân hàng mà ACB dành cho khách
hàng của mình.
Hình ảnh chiếc ghế đá vững chãi với thời gian,chịu đựng mọi khắc nghiệt của thời
tiết, cho thấy tinh thần hết mình phục vụ khách hàng,có mặt khắp mọi nơi và phát
triển bền vững của ACB.ACB xác định “là một ngân hàng bán lẻ nên dù khách hàng
đến đây với một đồng hay một tỷ đồng chúng tôi cũng luôn trong tinh thần phục vụ
mỗi khi các bạn cần đến chúng tôi”.
 Màu sắc chủ đạo:
Màu sắc chủ đạo của ngân hàng ACB là màu xanh dương.Tất cả từ logo, cách trang
trí phòng ốc và trang phục của nhân viên đều lấy màu xanh làm chủ đạo với ý nghĩa,
màu xanh là biểu trưng của niềm tin , hi vọng, sự trẻ trung và năng động
 Ngôn ngữ khẩu hiệu :
“ ACB- Ngân hàng của mọi nhà ”
ACB muốn gửi đến tất cả mọi người, mọi nhà rằng đây là ngân hàng của bạn, gửi
tiền vào đây thì bạn sẽ sở hữu nó. Nhà ở Việt Nam có nghĩa là tổ ấm. gia đình, nghĩa
là mọi người trong xã hội đều có thể “ sở hữu” ACB. “ Nhà” ở đây còn được hiểu
bao gồm cả “nhà doanh nghiệp”.
 Đồng phục:
- Nam : comle, vest
- Nữ : áo dài màu xanh thể hiện sự dịu dàng, hiền hòa, thanh bình và đẹp đẽ. Tà áo
dài gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam, là trang phục truyền thống, ACB
còn muốn gửi thông điệp rằng mình là ngân hàng Việt Nam.
 Ấn phẩm điển hình: Kênh truyền thông nội bộ ACB, bản tin ACB.
2.2. Các biểu trưng phi trực quan:
13

nguyên tắc. Trong vấn đề nợ quá hạn, ACB chỉ chấp nhận ở mức 1%, trong khi ở các
ngân hàng khác có thể chấp nhận tới 5%. Đã có những ý kiến cho rằng như thế là
14
quá thận trọng, bảo thủ, bỏ mất nhiều cơ hội kinh doanh tốt, như trong các lĩnh vực
địa ốc, cổ phần hóa doanh nghiệp…
-ACB chấp nhận sự bảo thủ, thậm chí chủ trương bảo thủ bởi vì ACB không muốn
làm mất sự an toàn và lợi ích của mình, của đối tác, khách hàng - những người đã tin
tưởng giao tiền bạc, tài sản cho mình. Đối với một nền kinh tế mới nổi như nước ta,
thật ra không thiếu cơ hội kinh doanh, và ACB chủ trương thận trọng chọn lựa cơ hội
kinh doanh phù hợp với năng lực và tôn chỉ của mình.
Ý Nghĩa :
ACB luôn xem khách hàng là yếu tố hàng đầu và quan trọng nhất trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Không tự mãn với những gì đạt được, ACB luôn
phấn đấu để đạt mức hoàn hảo trong cung cách phục vụ, hoàn hảo trong chất
lượng và tính đa dạng của sản phẩm, tính rộng khắp của mạng lưới phân phối,
tính hiện đại và an toàn của công nghệ, v.v. để luôn xứng đáng với sự tín nhiệm
và ủng hộ của khách hàng, và xứng đáng là một ngân hàng thương mại cổ phần
tốt nhất tại Việt Nam.`
• Niềm tin:
-Vượt qua chính bản thân mình, đón nhận và thực hiện các thông lệ quản trị tốt,
dám chấp nhận sự thay đổi là những nhân tố quan trọng nhất giúp ACB có được lợi
thế của người đi đầu. ACB trở thành đại lý chính thức đầu tiên của Western Union tại
Việt Nam ngay sau khi Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. ACB cũng

ngân hàng cổ phần Việt Nam đầu tiên phát hành thẻ tín dụng quốc tế MasterCard và
Visa ở thị trường trong nước và là ngân hàng Việt Nam đầu tiên có đối tác nước
ngoài
tham gia góp vốn. Nhờ có lợi thế này, trong một môi trường kinh doanh biến đổi
nhanh chóng, ACB giữ vững vị trí ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất trong khối
ngân

đầu tiên thành lập hội đồng tín dụng để xem xét, và quyết định các khoản vay. Hội
đồng này hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận, theo đó chỉ cần một thành viên
không chấp thuận thì trường hợp đó bị bác.
-Đề cao tinh thần tập thể, nhưng điều đó không có nghĩa là ACB xem nhẹ “cái tôi”,
xem nhẹ yếu tố cá nhân. Ngược lại, cá nhân được tôn trọng và được tạo cơ hội để
phát triển năng lực của mình.
ACB chủ trương đối thoại bình đẳng trong nội bộ cho nên sẵn sàng lắng nghe
mọi ý kiến đóng góp của cá nhân. Bất cứ nhân viên nào cũng có thể gõ cửa phòng
các vị lãnh đạo để nêu nguyện vọng hoặc đưa ý kiến, đề nghị nào đó với tinh thần
xây dựng đơn vị. Cũng chính từ sự tôn trọng cá nhân mà ở ACB không chấp nhận
tình trạng người này áp đặt suy nghĩ và phong cách sinh hoạt lên người kia, cũng
không để xảy ra hiện tượng kỳ thị địa phương hoặc tầng lớp xuất thân vốn là nguyên
nhân của tình trạng mất đoàn kết, bè phái. Tôn trọng và chấp nhận mỗi người có một
cá tính, một kiểu sống, một phong cách sinh hoạt riêng, ACB tạo ra một môi trường
16
sinh hoạt đa văn hóa với sự sinh động, phong phú, đa dạng. Do vậy, mọi thành viên
của ACB cảm thấy thoải mái, vui vẻ trong tinh thần hòa hợp khi làm việc tại đơn vị.
-Trong mối quan hệ giữa người và người, ACB luôn coi trọng tình nghĩa, xử sự “có
trước có sau”, thể hiện tính nhân văn.
-Đối với khách hàng, ACB luôn giữ mối quan hệ tốt đẹp, và sẵn sàng chia sẻ khó
khăn với họ khi gặp rủi ro trong quan hệ kinh doanh. Trong sự cố tin đồn nhảm năm
2003, ACB đã khôi phục đầy đủ quyền lợi của nhiều khách hàng vì lo sợ khi nghe tin
đồn mà vội vã rút tiền khỏi ngân hàng chấp nhận thiệt thòi về lãi suất.
- Đối với cán bộ, nhân viên của mình, ACB quan tâm đến chế độ lương thưởng, sự
thăng tiến cá nhân.
Để giúp nhân viên ổn định nơi ăn ở, ACB đã xây dựng chung cư bán giá gốc, trả góp
trong nhiều năm. ACB không gạt bỏ ai ra ngoài trừ phi họ tự đặt mình vào một tình
thế phải ra đi. Với những người đã từng làm việc, có đóng góp nhất định, ACB
không hề lãng quên và tùy trường hợp mà có cách quan tâm, hỗ trợ đối với họ.
-Đối với cộng đồng, ACB đã tích cực tham gia, tài trợ các chương trình xã hội, từ

công của ACB là thành công củ một đế chế biết xây dựng môt chiến lược kinh doanh
rõ ràng, luôn bám sát và tuân thủ tuyệt đố triết lý kinh doanh là tăng trưởng, bền
vững, quản lý rủi ro hiệu quả, duy trì khả năng sinh lợi cao và chỉ số tài chính tốt,
đầu tư chiều sâu vào con người và xây dựng văn hóa công ty lành mạnh”. Thành
công củ ACB là thành công của một đơn vị kinh tế tư nhân biết nắm bắt và tận dụng
được các cơ hội tạo ra dựa trên chính sách đổi mới của Đảng và Nhà Nước trong quá
trình hội nhập thể hiện năng lực và tiềm năng cạnh tranh cao không chỉ của ACB mà
còn của ngành ngân hàng Việt Nam ngày hôm nay.
ACB được các đồng nghiệp quốc tế đánh giá cao và ghi nhận bằng các giải
thưởng có uy tín. ABC rất tự tin duy trì vị trí hàng đầu của mình trong hệ thống ngân
hàng thương mại cổ phần Việt nam và thu hẹp khoảng cách về quy mô so với các
ngân hàng thương mại nhà nước.Năm 2015, ACB sẽ phấn đấu trở thành một trong ba
tập đoàn tài chính-ngân hàng hàng đầu Việt nam”.
Những thế mạnh mà ACB đạt được:
1. THẾ :
ACB đang có một thế đứng vững chắc trong hệ thống các ngân hàng Việt Nam.
Thị phần: ACB hiện đang nắm giữ 6% thị phần huy động tiết kiệm của cả nước, trên
57% thị phẩn chủ thẻ tín dụng quốc tế, trên 55% thị phần chuyển tiền nhanh Western
Union. Mạng lưới của ACB đã có mặt tại các địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế -
xã hội trên cả nước. ACB là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất trong khối
NHTMCP, đứng thứ 5 trong toàn ngành ngân hàng.
Tăng trưởng: ACB có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững đạt gấp 2-2.5 lần tốc độ
tăng trưởng của ngành trong 3 năm liên tục.
Thương hiệu: ACB đa trở thành một thương hiệu mạnh trong cũng như ngoài nước,
nằm trong Top 100 thương hiệu mạnh Việt Nam, 1 trong 2 ngân hàng nhận giải
thưởng Tin & Dùng của người tiêu dùng do TBKTVN bầu chọn. Cho đến nay ACB
là ngân hàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam trong một năm (2006) nhận 3 giải
thưởng quốc tế danh giá do tạp chí The Banker thuộc tập đoàn Financial Times, The
Asian Banker và EuroMoney trao tặng.
18

đánh giá tính vững mạnh của một ngân hàng, thì liên tục tám năm qua ACB luôn
luôn xếp hạng A.
Hơn nữa, ACB luôn duy trì tỷ lệ an toàn vốn trên 8%. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là
8% được quy định trong Thỏa ước Basel I của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS –
Bank for International Settlements) mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng. Đặc biệt tỷ lệ
nợ quá hạn trong những năm qua luôn dưới 1%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu
quả của ACB.
19
NHÌN NHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
& CƠ QUAN THÔNG TẤN VỀ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Năm 1997, ACB được Tạp chí Euromoney chọn là Ngân hàng tốt nhất Việt Nam
- Trong bốn năm liền 1997 – 2000, ACB được Tổ chức chuyển tiền nhanh Western
Union chọn là Đại lý tốt nhất khu vực Châu Á
- Năm 1998, ACB được chọn triển khai Chương trình tài trợ các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (SMEDF) do Liên minh Châu Âu tài trợ
- Năm 1999, ACB được Tạp chí Global Finace (Hoa Kỳ) chọn là Ngân hàng tốt nhất
Việt Nam
- Năm 2001 và 2002, chỉ có ACB Là ngân hàng thương mại cổ phần hội đủ điều kiện
để cơ quan định mức tín nhiệm Fitch Ratings đánh giá xếp hạng
- Năm 2002, ACB được chọn triển khai Dự án tài trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ
(SMEFP) do Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) tài trợ
- Năm 2003, ACB đoạt được Giải thưởng Chất lượng Châu Á Thái Bình Dương hạng
xuất sắc của Tổ chức Chất lượng Châu Á Thái Bình Dương (APQO). Đây là lần đầu
tiên một tổ chức tài chính của Việt Nam nhận được giải thưởng này
- Năm 2005, ACB được Tạp chí The Banker thuộc tập đoàn Financial Times, Anh
Quốc bình chọn là Ngân hàng tốt nhất Việt Nam (Bank of the Year) năm 2005
- Năm 2006, ACB được Tổ chức The Asian Banker chọn là Ngân hàng bán lẻ xuất
sắc nhất Việt Nam (Excellence in Retail Financial Services) và được Tạp chí
Euromoney chọn là Ngân hàng tốt nhất Việt Nam (Best Bank in Vietnam).
- Năm 2007: ACB vinh dự nhận được giải thưởng ”Doanh nghiệp ASEAN xuất sắc"

VHDN giúp chúng ta :
+ Tạo động lực làm việc
+Điều phối và kiểm soát
+Giảm xung đột
+Tạo lợi thế cạnh tranh
Thực tế kinh doanh vốn phức tạp, đa dạng và doanh nghiệp cũng muôn hình,
vạn vẻ, cho nên không có một khuôn mẫu văn hóa kinh doanh đa năng hoàn chỉnh
nào áp dụng cho mọi doanh nghiệp. Vì vậy, ngoài những giá trị văn hóa, đạo đức
chung của xã hội, văn hóa của một doanh nghiệp còn có những nét đặc trưng –
nét.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status