Luận văn: Quyền bầu cử và ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Hội đồng nhân dân được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63
ngày 22 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (lúc đó là Hồ Chí Minh). Theo sắc lệnh này, Hội đồng nhân dân
được thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của nhân dân.
Nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân khi đó chỉ 2 năm. Các cuộc bầu cử được tiến
hành khi các cơ quan dân cử (hay cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ.
Theo quy định của Hiến pháp, nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là năm
năm, tương tự, năm năm cũng là nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp
chính vì vậy cứ năm năm một lần, ở Việt Nam lại định kỳ tiến hành bầu cử
Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Bầu cử ở Việt Nam là quá trình nhân dân đưa ra quyết định của họ theo
các cách thức mà pháp luật quy định để chọn ra các đại biểu đại diện cho mình
nắm giữ các chức vụ trong cơ quan dân cử của chính quyền ở trung ương và
địa phương trong phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Việc bầu cử ở Việt Nam gồm bầu cử Quốc hội (ở Trung ương) và bầu
cử Hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương). Các cuộc bầu cử có tính chất
pháp lý rất quan trọng, đó là một khâu quan trọng để thành lập các cơ quan
quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương. Là phương thức quan trọng
để nhân dân thực hiện quyền lực của mình "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà
nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho
ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm
trước nhân dân".
Bầu cử là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước và với tư cách là
một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể
bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan
của mình, bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hội – chính
trị quan trọng của nhân dân. Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri
đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, giới tính… Bởi vậy để đạt được
kết quả, bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những trình tự chặt chẽ
theo Pháp luật quy định.

- Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân,
có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính
sách, pháp luật; am hiểu tình hình kinh tế - xã hội để tham gia quyết định
những vấn đề quan trọng ở địa phương;
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân
dân tín nhiệm
- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Hội đồng nhân dân.
4. Nhiệm kì của đại biểu hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân có nhiệm kỳ 5 năm, hoạt động thông qua kì họp Hội
đồng nhân dân, hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân, các ban thuộc
Hội đồng nhân dân và thông qua hoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân
- Kì họp Hội đồng nhân dân diễn ra 2 kì/năm, được triệu tập bởi thường
trực Hội đồng nhân dân. Kì họp là hoạt động quan trọng và thường xuyên nhất
của Hội đồng nhân dân, là nơi thể hiện tập trung nhất quyền lực Nhân dân và là
nơi thảo luận, quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Hội
đồng nhân dân. Kì họp làm việc tập thể và quyết định theo đa số (hơn 50%) trừ
việc bãi nhiệm, miễn nhiệm đại biểu giữ chức trách do Hội đồng bầu ra là cần
2/3 số người tán thành
- Thường trực Hội đồng nhân dân không phải là cơ quan thường trực của
Hội đồng nhân dân nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hòa, phối hợp
hoạt động giữa các ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân
dân. Thường trực Hội đồng nhân dân có cả ở 3 cấp là xã, huyện, tỉnh.
Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ triệu tập và chủ tọa các kì
họp của HDDND, giám sát việc thực hiện HIến pháp và luật tại địa phương,
trình Hội đồng nhân dân về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm với người giữ trọng
trách do Hội đồng nhân dân bầu ra, tổ chức tiếp dân, giữ mối quan hệ với Ban
thường vụ Mặt trận tổ quốc Việt Nam, điều hoa hoạt động của các ban thuộc
Hội đồng nhân dân và tập hợp các chất vấn của đại biểu trình Hội đồng nhân
dân,
- Các ban của Hội đồng nhân dân: được thành lập ở 2 cấp là tỉnh và

phổ biến và giải thích các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và
cùng nhân dân thực hiện các Nghị quyết đó;
Có trách nhiệm trả lời các yêu cầu, kiến nghị của cử tri; nghiên cứu các
khiếu nại, tố cáo của cử tri để kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải
quyết, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố
cáo biết;
Có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành
viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện
Kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
cùng cấp;
Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt việc làm trái pháp luật, chính sách của
Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của nhân viên cơ quan, tổ chức,
đơn vị đó;
Có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật,
chính sách chung của Nhà nước và những vấn đề thuộc lợi ích chung;
Có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người
giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.
6. Số lượng đại biểu hội đồng nhân dân
Số đại biểu Hội đồng nhân dân ở mỗi cấp được ấn định như sau:
Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn:
Xã, thị trấn miền xuôi có từ bốn nghìn người trở xuống được bầu hai mươi
lăm đại biểu, có trên bốn nghìn người thì cứ thêm hai nghìn người được bầu
thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu;
Xã, thị trấn miền núi và hải đảo có từ ba nghìn người trở xuống đến hai
nghìn người được bầu hai mươi lăm đại biểu, có trên ba nghìn người thì cứ
thêm một nghìn người được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá
ba mươi lăm đại biểu; xã, thị trấn có dưới hai nghìn người trở xuống đến một
nghìn người được bầu mười chín đại biểu; xã, thị trấn có dưới một nghìn người
được bầu mười lăm đại biểu;

Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác có trên
ba triệu người được bầu không quá chín mươi lăm đại biểu.
PHẦN II: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI
1. Khái niệm đại biểu quốc hội
Đại biểu Quốc hội Việt Nam là người được cử tri Việt Nam trực tiếp
bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại
biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước.
Thông qua các đại biểu và thông qua Quốc hội, nhân dân Việt Nam sử
dụng quyền lực của mình để định đoạt các vấn đề của đất nước.
2. Tiêu chuẩn đại biểu quốc hội ( Được quy định tại điều 3 luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội năm 2012)
- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương
mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan
liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật.
- Có trình độ và nặng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân
dân tín nhiệm.
- Có điều kiện tham gia các hoạt đông của Quốc hội
2. Nhiệm kì của đại biểu quốc hội
Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của
khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau. Đại biểu Quốc
hội chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về
việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Đại biểu Quốc hội không còn xứng
đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bị Quốc

cơ sở để giúp cho việc thảo luận và tham gia quyết định các vấn đề tại kỳ họp
của Quốc hội.
2. quyền hạn
- Quyền trình dự án luật
Đại biểu quốc hội có trình kiến nghị về luật, pháp lệnh; trình dự án luật,
pháp lệnh theo trình tự do pháp luật quy định.
- Quyền chất vấn
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất
vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp, chất vấn được gửi đến Ủy ban thường
vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời
hạn trả lời chất vấn. Tùy theo nội dung và tính chất của chất vấn, Ủy ban
thường vụ Quốc hội có thể quyết định người bị chất vấn phải trả lời chất vấn
trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội
có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp
sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản. Trong thời gian giữa hai kỳ
họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để chuyển
đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Nếu
đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ
tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc
hội.
- Quyền bất khả xâm phạm và miễn tố
Đại biểu quốc hội được pháp luật bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về
thân thể. Những hành vi cản trở đại biểu quốc hội thực hiện nhiệm vụ sẽ bị xử
lý theo pháp luật.
Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không
họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt
giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc

động bầu cử thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri và các phương tiện thông
tin đại chúng để báo cáo với cử tri dự kiến thực hiện trách nhiệm của người đại
biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức để những người ứng cử gặp gỡ, tiếp
xúc với cử tri và vận động bầu cử.
PHẦN III: CÔNG TÁC BẦU CỬ
1. Công tác bầu cử Quốc hội
1.1. Ngày bầu cử
- Việc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành cùng một ngày
trong cả nước
- Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật, do Ủy ban thường vụ Quốc hộ ấn
định và công bố chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử.
1.2. Các tổ chức phụ trách bầu cử
Các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội bao gồm:
- Hội đồng bầu cử ở trung ương;
- Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Ban bầu cử ở đơn vị bầu cử;
- Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu.
1.3. Danh sách cử tri
Trong thời gian lập danh sách cử tri, công dân có quyền bầu cử đại biểu
Quốc hội đều được ghi tên vào danh sách cử tri.
Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách ở một nơi mình thường trú hoặc
tạm trú.
1.3. Khu vực bỏ phiếu
- Mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội chia thành nhiều khu vực bỏ phiếu.
Khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
- Mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Ở miền núi, hải
đảo và những nơi dân cư không tập trung thì dù chưa có tới ba trăm cử tri cũng

- Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu
cử.
- Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
- Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “đã bỏ
phiếu” vào thẻ cử tri.
- Mọi người đều phải tuân theo nội quy của phòng bỏ phiếu; không được
vận động bầu cử tại phòng bỏ phiếu.
- Khi đã hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà
chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới
được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
- Trong ngày bầu cử, việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong
trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu, thì Tổ bầu cử phải
lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp
thời báo cáo cho Ban bầu cử biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết
để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
1.4 Kết quả bầu cử
1.4.1. Việc kiểm phiếu
- Việc bỏ phiếu phải được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay khi cuộc bỏ
phiếu kết thúc.
- Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biêm bản, niêm
phong số phiếu không sử dụng dến và phải mời hai cử tri không phải là người
ứng cử chứng kiến việc kiểm phiếu
- Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử
hoặc người được ủy nhiệm có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại
về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
1.4.2. Kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử
Sau khi nhận được biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, Ban
bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn
vị bầu cử của mình
1.4.3. Tổng kết cuộc bầu cử

tỉnh ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân cấp huyện ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Ủy ban bầu cử
đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ủy ban bầu
cử)
- Bàn bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ban bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân cấp huyện, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã ở
đơn vị bầu cử ( gọi chung là Ban bầu cử )
- Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu.
2.3. Danh sách cử tri
- Danh sách cử tri do Ủy ban nhân dân cấp xã lập theo khu vực bỏ phiếu.
- Danh sách cử tri trong các đơn vị vũ trang nhân dân do Ban chỉ huy đơn
vị lập theo khu vực bỏ phiếu; quân nhân có hộ khẩu thường trú ở địa phương thì
được ghi tên vào danh sách cử tri nơi mình cư trú.
2.4 Kết quả bầu cử
2.4.1. Việc kiểm phiếu
- Được tiến hành tại phòng bỏ phiếu ngay khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.
Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số
phiếu bầu không sử dụng đến và phải mời hai cử tri không phải là người ứng cử
có mặt tại đó chứng kiến việc kiểm phiếu.
- Người ứng cử, đại diện cơ quan, đơn vị, thôn, tổ dân phố có người ứng
cử có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các
phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
2.4.2. Kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử
Ban bầu cử kiểm tra các biên bản kiểm phiếu của các Tổ bầu cử và lập
biên bản xác định kết quả bầu cử của mình.
2.4.3. Tổng kết cuộc bầu cử
Ủy ban bầu cử kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban
bầu cử, giải quyết những khiếu nại và làm biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại
biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính của mình.
Ủy ban bầu cử công bố kết quả bầu cử, chậm nhất là:

phải hoàn
thành
Ghi chú
1
Công bố ngày bầu cử Đại biểu
Quốc hội
và Đại biểu HĐND ( Ngày Chủ
nhật 22/5/2011)
Uỷ ban
Thường vụ
Quốc hội
105 ngày
Ngày
06/02/2011
ĐBQH và
ĐBHĐND
2
Thành lập Hội đồng bầu cử ở
Trung ương để thực hiện công
tác bầu cử Đại biểu Quốc hội và
Đại biểu HĐND các cấp (Từ 15-
21 người)
Uỷ ban
Thường vụ
Quốc hội
105 ngày
Ngày
06/02/2011
ĐBQH và
ĐBHĐND

nhất với
Thường Trực
HĐND, Ban
Thường trực
95 ngày Ngày
16/02/2011
ĐBHĐND
HĐND, UBND, UBMTTQ, một
số cơ quan, tổ chức hữu quan
UBMTTQ
thành phố
Nam Định
3.3
Thành lập Uỷ ban bầu cử Đại
biểu HĐND xã, thị trấn
(Từ 9-11 người), gồm: Chủ tịch,
các Phó Chủ tịch, Thư ký và các
Uỷ viên là Đại diện Thường trực
HĐND, UBND, UBMTTQ, một
số cơ quan, tổ chức hữu quan
UBND tỉnh
sau khi thống
nhất với
Thường Trực
HĐND, Ban
Thường trực
UBMTTQ
cùng cấp
95 ngày
Ngày

thống nhất với
MTTQ và
UBND xã, thị
trấn
90 ngày
Ngày
21/02/2011
ĐBHĐND
5
Hội nghị hiệp thương lần 1 ở
mỗi cấp để htực hiện cơ cấu,
thành phần, và số lượng người
ứng cử, gồm: Ban Thường trực
UBMTTQ, đại diện Ban lãnh đạo
các tổ chức thành viên của
MTTQ, đại diện UỶ ban bầu cử,
Thường trực HĐND, UBND
cùng cấp
Ban Thường
trực UBMTTQ
cùng cấp
85 ngày 26/02/2011 ĐBHĐND
5.1 Hội nghị hiệp thương lần 1 ở
tỉnh (Thành phần: Ban Thường
trực UBMTTQ, đại diện Ban lãnh
đạo các tổ chức thành viên của
MTTQ huyện, thành phố, đại diện
Uỷ ban bầu cử đại biểu Quốc hội
và ĐBHĐND, Thường trực
Ban Thường

Quốc hội
70 ngày
Ngày
13/3/2011
ĐBQH
7
Thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ của
những người ứng cử và tự ứng củ
Đại biểu Quốc hội
Uỷ ban bầu cử
ĐBQH và đại
biểu HĐND
65 ngày
Ngày
18/3/2011
ĐBQH
8
Thành lập Ban bầu cử đại biểu
Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử
(Từ 9-15 người), gồm: Trưởng
ban, các Phó Trưởng ban, Thư
ký và các Uỷ viên là đại diện
Thường trực HĐND, UBND,
UBMTTQ cùng cấp, một số cơ
quan…
UBND tỉnh
sau khi thống
nhất với
Thường trực
HĐND, Ban

Hội nghị hiệp thương lần 2: Lập
danh sách sơ bộ những người ứng
cử ĐBHĐND cùng cấp
Ban Thường
trực UBMTTQ
tỉnh
60 ngày
Ngày
23/3/2011
ĐBQH
10
Người được giới thiệu ứng củ và
người tự ứng cử Đại biểu HĐND
nộp hồ sơ tại Uỷ ban bầu cử nơi
ứng cử
Người được
giới thiệu ứng
củ và tự ứng
củ
60 ngày
Ngày
23/3/2011
ĐBHĐND
11 Hội nghị hiệp thương lần 2 ở Ban Thường 55 ngày Ngày ĐBHĐND
mỗi cấp để lập danh sách sơ bộ
(Thành phần như lần 1)
trực UBMTTQ
cùng cấp
28/3/2011
12

người), gồm: Trưởng ban, Phó
trưởng ban, Thư ký và các Uỷ
viên. Gồm đại diện cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội
UBND cấp
tỉnh sau khi
thống nhất với
Thưởng trực
HĐND và Ban
Thường trực
Uỷ ban MTTQ
cùng cấp
45 ngày
Ngày
07/4/2011
ĐBHĐND
15
Thành lập Ban bầu cử xã, thị
trấn ở đơn vị bầu cử ((7-9
người), gồm: Trưởng ban, Phó
trưởng ban, Thư ký và các Uỷ
viên. Gồm đại diện cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, tập thể cử trị ở địa
phương
UBND cấp
tỉnh sau khi
thống nhất với
Thưởng trực

17
Niêm yết danh sách cử trị tại
UBND cấp xã, và những nơi công
cộng
UBND cấp xã 35 ngày
Ngày
17/4/2011
ĐBQH
ĐBHĐND
18
Thành lập Tổ bầu cử ở mỗi khu
vực bỏ phiếu để thực hiện công
tác bầu cử Đại biểu Quốc hội và
Đại biểu HĐND các cấp (11-12
người), gồm: Tổ trưởng, Tổ phó,
Thư ký và các Uỷ viên là đại diện
cơ quan Nhà nước, tổ chức chính
trị - Xã hội, tổ chức xã hội, tập
thể cử tri địa phương
UBND xã,
phường, thị
trấn sau khi
thống nhất với
Thưởng trực
HĐND và Ban
Thường trực
Uỷ ban MTTQ
cùng cấp
35 ngày
Ngày

19.2
Gửi biên bản Hiệp thương lần 3
và danh sách chính thức những
người ứng cử Đại biểu HĐND
tỉnh đến UBTVQH, CP,
TWMTTQVN, Thường trực
HĐND, Uỷ ban bầu cử cấp tỉnh
Ban Thường
trực UBMTTQ
tỉnh
30 ngày
Ngày
22/4/2011
ĐBHĐND

19.3
Gửi biên bản Hiệp thương lần 3
và danh sách chính thức những
người ứng cử Đại biểu HĐND
đến thường trực HĐND, UBND,
UBMTTQ cấp trên trực tiếp và
Thường trực HĐND, Uỷ ban bầu
cử cùng cấp
Ban Thường
trực UBMTTQ
tỉnh
30 ngày
Ngày
22/4/2011
ĐBHĐND

phối lại cho các Ban bầu cử
ĐBQH và ĐB
HĐND cấp
tỉnh
27/4/2011
24
Niêm yết danh sách những người
ứng củ theo công bố của Uỷ ban
bầu cử ở các khu vực bỏ phiếu
Tổ bầu cử 20 gnày
Ngày
02/5/2011
ĐBHĐND
25
Niêm yết danh sách những người
ứng củ theo công bố của Uỷ ban
bầu cử ở các khu vực bỏ phiếu
Ban bầu cử 20 ngày
Ngày
02/5/2011
ĐBQH
26
Nhận tài liệu, phiếu bầu tử Uỷ
ban bầu cử để phân phối cho các
tổ bầu cử
Ban bầu cử 15 ngày
Ngày
07/5/2011
ĐBHĐND
27

ĐBQH và
ĐBHĐND
31
Gửi biên bản kết quả kiểm
nghiệm đến Ban bầu cử và
UBND, Ban thường trực
UBMTTQ xã, phường, thị trấn
Tổ bầu cử
Sau 3
ngày
Ngày
25/5/2011
ĐBQH và
ĐBHĐND
32 Sau khi nhận được biên bản kết
quả kiểm phiếu của các Tổ bầu
cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên
bản đó và lập biên bản xác định
kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử
Ban bầu cử Kết quả bầu cử ở các đơn
vị bầu cử
ĐBHĐND
của mình được lập thành 04 bản
33
Gửi biên bản xác định kết quả
bầu cử Uỷ ban bầu cử, Thường
trực HĐND, UBND, Ban thường
trực UBMTTQ cùng cấp.
Ban bầu cử
Kết quả bầu cử ở các đơn

kết quả bầu cử ở đơn vị bầu củ
của mình, được lập thành 05 bản.
Ban bầu cử ĐBQH
37
Công bố kết quả bầu cử đối với
cuộc bầu cử Đại biểu HĐND xã,
thị trấn
Hội đồng bầu
cử
Sau 5
ngày
Ngày
27/5/2011
ĐBHĐND
38
Gửi biên bản đế Uỷ ban bầu cử
Đại biểu Quốc hội và Đại biểu
HĐND cấp tỉnh
Ban Bầu cử
Sau 5
ngày
Ngày
27/5/2011
ĐBQH
39
Sau khi nhận và kiểm tra các biên
bản xác định kết quả bầu cử của
các Ban bầu cử, UBBC ĐBQH
&ĐBHĐND lập biên bản xác
định kết quả bầu cử ở địa phương

43
Ở mỗi đơn vị bẩu cử, nếu số cử
tri đi bỏ phiếu chưa được quả nửa
số cử trị trong danh sách cử trị
ban bầu cử báo cáo cho Uỷ ban
bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND
cấp tỉnh đề nghị Hội đồng bầu cử
xem xét quyết định việc bầu cử
lại ở đơn vị bầu cử đó
15 ngày Ngày 6/6/2011
44
Nếu số người trúng củ chưa đủ số
đại biểu được bầu do UBTVQH
ấn định thì Ban bầu cử ĐBQH và
đại biểu HĐND cấp tỉnh để đề
nghị Hội đồng bầu cử xem xét,
quyết định ngày bầu cử thêm
20 ngày
Ngày
11/6/2011

45
Sau khi nhận và kiểm tra biên bản
xác định kết quả bầu cử của các
Ban bầu cử và Uỷ ban bầu cử
ĐBQH&ĐBHĐND cấp tỉnh, Hội
đồng bầu cử lập biên bản tổng
kết cuộc bầu cử trong cả nước,
được lập thành 05 bản gửi đến
UBTVQH, Chính phủ, Uỷ bam

trước ngày bầu cử, tức là chậm nhất ngày 07 tháng 4 năm 2011.
3. Thành lập các tiểu ban giúp việc cho Ủy ban bầu cử
(có quyết định thành lập riêng)
Ủy ban bầu cử thành lập 03 tiểu ban và tổ chuyên viên giúp việc gồm:
3.1 Tiểu ban Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử
3.2 Tiểu ban tuyên truyền
3.3 Tiểu ban chỉ đạo công tác bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội và Tổ
chuyên viên, được phân công nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tiểu ban Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử có trách nhiệm:
giúp Ủy ban bầu cử giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Quốc hội và
đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.
- Tiểu ban thông tin tuyên truyền có trách nhiệm: giúp Ủy ban bầu cử xây
dựng kế hoạch và nội dung công tác tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội
và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật.
Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan triển khai thống nhất nội dung
tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các
cấp.

Trích đoạn Kế hoạch triển khai của xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status