ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN TUYẾT MAI
TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NỢ THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Danh mục các bảng ii
Danh mục các hình vẽ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 5
1.1. Nhƣng nội dung lý luận cơ bản về Thuế 5
1.1.1. Khái niệm về Thuế 5
1.1.2. Đặc điểm của thuế 6
1.1.3. Vai trò của Thuế 8
1.1.4. Các loại thuế hiện hành tại Việt Nam 11
1.2. Tổng quan về quản lý nợ thuế 12
1.2.1. Khái niệm nợ thuế và nguyên nhân nợ thuế 12
1.2.2. Nguyên nhân nợ thuế và những tác động của nợ thuế 15
1.2.3. Phân loại nợ thuế 16
1.2.4. Tổng quan về quản lý nợ thuế 19
1.2.5. Nội dung quy trình quản lý nợ 22
1.3 Mối quan hệ giữa cƣỡng chế nợ thuế và quản lý nợ thuế 27
1.3.1. Khái niệm cưỡng chế nợ thuế 27
1.3.2. Đặc điểm của cưỡng chế nợ thuế 28
1.3.3. Vai trò và yêu cầu của công tác cưỡng chế nợ thuế 28
1.3.4. Mối quan hệ giữa quản lý nợ và cưỡng chế thuế 31
1.4 Những yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý nợ thuế 32
1.5. Các chỉ tiêu để đánh giá công tác quản lý nợ 34
1.5.1. Các chỉ tiêu định lượng 34
1.5.2. Các chỉ tiêu định tính 37
1.6. Kinh nghiệm quản lý nợ của một số nƣớc trên thế giới và bài học với Việt Nam 37
1.6.1. Kinh nghiệm của Malaysia 37
1.6.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản 38
1.6.3. Kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam 39
Chƣơng 2 – THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ TRÊN ĐỊA BÀN TP
HÀ NỘI THỜI GIAN QUA 40
Thuế thu nhập doanh nghiệp
3.
GTGT
Thuế giá trị gia tăng
4.
NNT
Người nộp thuế
5.
ĐTNT
Đối tượng nộp thuế
6.
CQT
Cơ quan thuế
7.
DN
Doanh nghiệp
8.
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
9.
NQD
Ngoài quốc doanh
10.
QLN
Quản lý nợ
11.
CCNT
Cưỡng chế nợ thuế
12.
CNTT
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Nội dung
Trang
1
2.1 Tình hình nợ thuế lũy kế qua các năm
44
2
2.2 Số liệu nợ thuế theo nhóm phòng kiểm tra thuế
49
3
2.3 Tỷ lệ nợ thuế qua các năm phân loại theo tính chất nợ
55
4
2.4 Số lượng các biện pháp đôn đốc thu nợ đã thực hiện
63
5
2.5 Số liệu nợ thuế chi tiết theo tuổi nợ
65
6
2.6 Cơ cấu nợ thuế theo tuổi nợ
66
7
2.7 Số liệu nợ thuế chi tiết theo mức nợ
69
8
2.8 Cơ cấu nợ thuế chi tiết theo mức nợ
70
xuyên thì sẽ có tác động không nhỏ tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, làm giảm vai trò của đất nước trong việc động viên nguồn thu
cho NSNN. Nợ thuế cao cũng sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả, hiệu lực của chính sách
cũng như công tác quản lý của CQT. Do vậy, việc đẩy mạnh công tác quản lý nợ
thuế, hạn chế đến mức thấp nhất nợ đọng thuế là một trong những mục đích quan
trọng của ngành thuế.
Quản lý nợ thuế là một khâu quan trọng trong hệ thống quản lý thuế, là một
trong những chức năng chính của mô hình quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế
tự khai - tự nộp. Quản lý được nợ đọng và kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ và
cưỡng chế thuế là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu
quả công tác quản lý thuế.
Việc triển khai thực hiện Luật quản lý thuế đã tạo cơ sở pháp lý để đổi mới
công tác quản lý nợ thuế; ngược lại việc quản lý nợ đọng tốt lại có tác động to lớn
với công tác quản lý thuế nói chung, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ phía ĐTNT
và CQT.
2
Do đó, việc tăng cường công tác quản lý nợ thuế có ý nghĩa vô cùng quan
trọng không chỉ với việc giảm số thuế nợ đọng, tăng thu cho NSNN mà còn có ý
nghĩa quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nợ thuế nên tôi đã lựa
chọn nghiên cứu đề tài “Tăng cường Quản lý nợ thuế trên địa bàn thành phố Hà
Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có một số đề tài khoa học, luận văn và cả
công trình nghiên cứu của một số tác giả đề cập đến vấn đề này ở nhiều khía cạnh
và phạm vi khác nhau. Tuy nhiên các đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý
nợ thuế, quy trình quản lý nợ thuế nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đồng
cấp nghiên cứu tăng cường quản lý nợ thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chính vì
vậy trên cơ sở nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn công
tác quản lý nợ thuế tại Cục thuế TP Hà Nội, luận văn tập trung và nghiên cứu các
phương pháp diễn giải và quy nạp
Đề tài đã khảo sát, đánh giá thực trạng nợ thuế và công tác quản lý nợ thuế
tại Cục thuế TP Hà Nội, chỉ ra những thành tích đã đạt được và những tồn tại, hạn
chế, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý nợ thuế tại Cục
thuế TP Hà Nội thời gian qua. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nhằm tăng
cường hơn nữa công tác quản lý nợ thuế tại địa bàn Hà Nội.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Góp phần hệ thống hóa và làm rõ lý luận về thuế và quản lý nợ thuế, vai trò
của quản lý nợ thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nợ thuế, chỉ ra được những kết quả
đạt được, hạn chế và nguyên nhân của nó trong công tác quản lý thu thuế trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý nợ
thuế trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về thuế và quản lý nợ thuế
Chương II: Thực trạng công tác quản lý nợ trên địa bàn Thành phố Hà Nội
thời gian qua
Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý nợ thuế trên địa bàn Thành Phố
Hà Nội
5
Chƣơng 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ
1.1. Nhƣng nội dung lý luận cơ bản về Thuế
1.1.1. Khái niệm về Thuế
Trên giác độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình
thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho
để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Tuy
nhiên, thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả.v.v. Điều
này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau:
1.1.2.1. Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc,
thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng
hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền
kinh tế phi thị trường. Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản
và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác.
Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát
triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong
trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để
thanh toán nợ thuế.
Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi
trong hệ thống chính sách thuế đương đại. Một số quốc gia vẫn duy trì hình thức
này dưới dạng thanh toán thuế bằng tặng vật với một số hiện vật qúy, như khi đào
được cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một tỷ lệ hiện vật tùy theo quy định cụ
thể. Kỹ thuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân
chúng để bảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại.
1.1.2.2. Luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước
Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản
của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia. Việc
7
ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ
quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao.
Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện
thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được
xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành. Ở
các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũy ngân sách nhà
tiêu trái với những nguyên tắc của nó.
Thứ hai, Các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ
trực tiếp cho người nộp thuế. nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội
chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa
hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp
thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực
tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần
các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần
giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản
thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế
với các khoản phí, lệ phí và giá cả.
Khái niệm chi tiêu công cộng ngày nay không chỉ được hiểu theo nghĩa bó
hẹp trong các khoản chi tiêu cho việc duy trì bộ máy nhà nước. Trên thực tế, Nhà
nước hiện nay còn thực hiện nhiều chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá và tất yếu
các hoạt động này cũng chỉ được chi trả bằng thuế.
1.1.3. Vai trò của Thuế
Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với NSNN và đời
sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nước tập trung
được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên qũy ngân sách Nhà nước
và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra thông qua
việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ
quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể,
9
các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế. Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các
chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà nước. Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố
quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế và đời sống xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những
điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự
dùng cao cấp, đắt tiền. Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người
có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều
tiết bớt một phần thu nhập của họ.
Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế
suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo
công bằng xã hội.
11
1.1.3.3. Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất,
kinh doanh
Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế
trong thực tế. Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các
luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện
pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và
lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi
tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ
quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi
biện pháp tháo gỡ. Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật
được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm
soát sau này. Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra,
kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt
quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
1.1.3.4. Thuế góp phần thúc đẩy điều tiết sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu
của ngân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất,
kinh doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi
đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ
hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất
cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ
trương kinh tế đất nước, mà nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi
hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh
theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế sau thời hạn nộp này, nếu người nộp thuế chưa
nộp thuế vào ngân sách nhà nước thì được coi là nợ thuế.
Ngƣời nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định.
Khoản nợ là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh. Chẳng
hạn như tại một thời điểm, một người nộp thuế nợ 1 tỷ đồng tiền thuế thì cơ quan
thuế có trách nhiệm xem xét số thuế nợp đó là nợ của những lần phát sinh nào, loại
13
thuế nào? Chẳng hạn như nợ 2 khoản thuế GTGT, nợ 3 khoản thuế TNDN (tạm nộp
các quý). Trên cơ sở đó, cơ quan thuế áp dụng các biện pháp thu nợ hiệu quả đảm
bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước sau khi áp dụng các biện
pháp đó.
Thực tế trong công tác quản lý thuế của cơ quan thuế hiện nay, mỗi một
khoản nợ thường sẽ có các nguồn gốc phát sinh khác nhau, có những khoản nợ do
người nộp thuế tự kê khai, người nộp thuế chậm nộp, hoặc cũng có những khoản nợ
do cơ quan có thẩm quyền ấn định, bị phạt, truy thu hoặc các khoản nợ thuế có
nguồn gốc phát sinh từ các dự án vay vốn hợp tác với nước ngoài, viện trợ không
hoàn lại Phục vụ công tác quản lý thuế, nhằm đảm bảo quản lý đúng các khoản
thuế phát sinh thì Bộ Tài chính cũng đã ban hành danh mục mục lục ngân sách nhà
nước để người nộp thuế tự kê khai nộp thuế. Trên cơ sở đó, cơ quan thuế có thể
quản lý đúng, đủ các khoản thuế phát sinh một cách thuận lợi.
Tiền phạt chậm nộp thuế là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ
và số ngày nợ thuế của một khoản nợ.
Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ là khoảng thời gian liên tục tính
theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào
ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động.
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo
ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ
được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá
nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác.
Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Về chủ
quan, do NNT cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng
hoặc trốn thuế. Như vậy, trong trường hợp này, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp
luật, phát sinh do ĐTNT không tự giác kê khai, nộp thuế đúng hạn và cố tình vi
phạm pháp luật. Về khách quan, do có khó khăn về SXKD hoặc thu nhập chẳng hạn
như: khủng hoảng kinh tế, lạm phát… mà NNT tạm thời không có khả năng để
thanh toán nghĩa vụ cho NSNN.
15
Thứ tƣ, nợ thuế khác với hành vi tránh thuế
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật đề giảm được 1
phần nghĩa vụ thuế phải nộp. Ví dụ: doanh nghiệp kê khai chi phí thuê bản quyền
sáng chế, nhãn mác cao hơn giá trị thị trường của nó để tăng chi phí đầu vào, hạ
thấp TNCT.
Còn nợ thuế thì hoàn toàn khác về bản chất. Đó là một nghĩa vụ đã được luật
pháp xác định nhưng cố tình hoặc dây dưa nộp chậm.
1.2.2. Nguyên nhân nợ thuế và những tác động của nợ thuế
1.2.2.1. Nguyên nhân nợ thuế
Nợ thuế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có thể khái quát
một số nhóm nguyên nhân chủ yếu sau:
Nhóm nguyên nhân khách quan:
Khủng hoảng tài chính, lạm phát, giá cả tăng cao, chính sách quản lý của
Nhà nước thay đổi
Ví dụ như những năm gần đây do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nên
nhiều doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn, không có tiền nộp thuế. Riêng doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, dù đã hoàn thành công trình nhưng
không được giải ngân kịp thời dẫn đến nợ thuế. Mặt khác, ngân hàng đang siết chặt
việc cho vay khiến không ít doanh nghiệp không tiếp cận được vốn để phục hồi sản
xuất kinh doanh. Hoặc về chính sách thuế hiện nay đang áp dụng tỷ lệ tính phạt
chậm nộp 0,05%/ngày và 0,07%/ngày, tỷ lệ này thấp hơn lãi suất ngân hàng nên
doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận nộp phạt để chiếm dụng tiền thuế…
tác quản lý thuế, gây mất thời gian, công sức, tiền của cho việc quản lý nợ thuế.
1.2.3. Phân loại nợ thuế
1.2.3.1. Khái niệm phân loại nợ thuế
Cùng với tốc độ phát triển không ngừng của nền kinh tế, các doanh nghiệp
cũng ngày càng gia tăng về số lượng và phát triển về mặt qui mô. Kéo theo đó là sự
gia tăng số thu Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, cùng với đó thì sự phức tạp trong
công tác quản lý thuế cũng ngày càng gia tăng. Chính vì vậy, đồng thời với việc
kiện toàn bộ máy quản lý thuế để phù hợp với nền kinh tế thì cơ quan thuế cũng cần
17
thiết phải nhanh chóng áp dụng khoa học quản lý, công nghệ tin học hiện đại vào
quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng.
Hiệu quả của công tác quản lý thuế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
nhau. Trong đó, một phần không nhỏ là từ hiệu quả của công tác phân loại nợ thuế.
Phân loại nợ thuế là việc sắp xếp nợ thuế thành những nhóm khác nhau theo những
tiêu thức nhất định. Việc phân loại nợ thuế giúp cơ quan thuế xác định được nguyên
nhân nợ, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện
pháp quản lý thu nợ thuế có hiệu quả. Phân loại nợ thuế sẽ giúp cơ quan thuế đưa ra
các biện pháp quản lý, đôn đốc thu nợ; đồng thời, tạo thuận lợi cho công tác tổng
hợp số liệu báo cáo, khắc phục được sự không rõ ràng, không thống nhất trong công
tác quản lý nợ.
1.2.3.2. Tiêu chí phân loại nợ thuế
Theo Qui trình quản lý nợ thuế ban hành kèm theo Quyết định số: 1395/QĐ-
TCT ngày 14 tháng 10 năm 2011 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, tiền thuế nợ
được chia thành 5 nhóm. Cụ thể:
Nhóm tiền thuế nợ khó thu: Nhóm nợ khó thu bao gồm các trường hợp sau:
* Tiền thuế nợ của người nộp thuế được pháp luật coi là đã chết, mất tích,
mất năng lực hành vi dân sự chưa có hồ sơ đề nghị xoá nợ.
* Tiền thuế nợ có liên quan đến trách nhiệm hình sự: là số tiền thuế nợ của
người nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự, đang chờ bản án
hoặc kết luận của cơ quan pháp luật, chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế.